|
Lịch sử phát triển của
hệ thống ngân hàng Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của từng
thời kỳ cách mạng và công cuộc xây dựng Đất nước.
Trước cách mạng tháng 8 năm
1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sự thống trị của
thực dân Pháp. Hệ thống
tiền tệ, tín dụng ngân hàng
được thiết lập và bảo hộ bởi thực dân Pháp thông qua Ngân hàng Đông
Dương. Ngân hàng Đông Dương vừa đóng vai trò là ngân hàng Trung ương
trên toàn cõi Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia), vừa là ngân hàng
thương mại. Ngân hàng này là công cụ phục vụ đắc lực chính sách thuộc
địa của chính phủ Pháp và làm giàu cho tư bản Pháp. Vì thế, một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của cuộc Cách mạng Tháng 8 lúc bấy giờ là phải
từng bước xây dựng nền tiền tệ và hệ thống ngân hàng độc lập tự chủ.
Nhiệm vụ đó đã trở thành hiện thực khi bước sang năm 1950, công cuộc
kháng chiến chống Pháp ngày một tiến triển mạnh mẽ với những chiến thắng
vang dội trên khắp các chiến trường và mở rộng vùng giải phóng. Sự
chuyển biến của cục diện cách mạng cũng đòi hỏi công tác kinh tế, tài
chính phải được củng cố và phát triển theo yêu cầu mới. Trên cơ sở chủ
trương chính sách mới về tài chính - kinh tế mà Đại hội Đảng lần thứ II
(tháng 2/1951) đã đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam - Ngân
hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á để thực hiện 5
nhiệm vụ cấp bách: Phát hành giấy bạc, quản lý Kho bạc, thực hiện chính
sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý
tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch.
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
ra đời là kết quả nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệ thống
tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu bước phát triển mới, thay
đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta. Tại Thông tư số
20/VP - TH ngày 21/1/1960 của Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia ký thừa
uỷ quyền Thủ Tướng chính phủ, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi tên
thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để phù hợp với hiến pháp 1946 của nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà. Những năm sau khi Miền Nam giải phóng 1975,
việc tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cộng hoà và các Ngân hàng tư
bản tư nhân dưới chế độ Nguỵ quyền Sài Gòn đã mở đầu cho quá trình nhất
thể hoá hoạt động ngân hàng toàn quốc theo cơ chế hoạt động ngân hàng
của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tháng 7 năm 1976, đất nước được
thống nhất về phương diện Nhà nước, nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam ra đời. Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở miền Nam được hợp nhất vào
NHNN Việt Nam, tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nước duy nhất của cả
nước. Hệ thống tổ chức thống nhất của NHNN bao gồm: Ngân hàng Trung ương
đặt trụ sở chính tại thủ đô Hà Nội, các Chi nhánh Ngân hàng tại các
tỉnh, thành phố và các chi điếm ngân hàng cơ sở tại các huyện, quận trên
phạm vi cả nước.
Căn cứ vào những biến đổi quan trọng về
tình hình và nhiệm vụ cách mạng cũng như về chức năng, nhiệm vụ và tổ
chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quá trình phát triển của hệ thống
Ngân hàng Việt Nam có thể được chia làm 4 thời kỳ như sau:
1.
Thời kỳ 1951 - 1954:
Trong thời kỳ này, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt
động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách
đầu tiên theo chủ trương của Đảng và nhà nước là: Phát hành giấy bạc
ngân hàng, thu hồi giấy bạc tài chính; Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà
nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân
sách;Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá,
tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch.
2. Thời kỳ 1955 - 1975:
Đây là thời kỳ cả
nước kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc xây dựng và chiến đấu, vừa ra sức
chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam; mọi hoạt động kinh tế xã hội
phải chuyển hướng theo yêu cầu mới. Trong thời kỳ này, Ngân hàng Quốc
gia đã thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau;
- Củng cố thị trường tiền tệ,
giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tạo điều kiện thuận
lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế.
- Phát triển công tác tín dụng nhằm phát
triển sản xuất lương thực, đẩy mạnh khôi phục và phát triển nông, công,
thương nghiệp, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa Miền Bắc và giải phóng Miền Nam.
3. Thời kỳ 1975 - 1985:
Là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải phóng và
thống nhất nước nhà, là thời kỳ xây dựng hệ thống ngân hàng mới của
chính quyền cách mạng; tiến hành thiết lập hệ thống ngân hàng thống nhất
trong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam.
Theo đó, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt Nam cộng hoà
(ở miền Nam) đã được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả
nước, phát hành các loại tiền mới của nước CHXHCN Việt Nam, thu hồi các
loại tiền cũ ở cả hai miền Nam - Bắc vào năm 1978. Đến cuối những năm
80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công
cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo
nguyên tắc thị trường. Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống
ngân hàng - chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được
bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80, và kéo dài cho tới ngày nay.
4. Thời kỳ 1986 đến nay:
Từ năm 1986 đến nay đã diễn
ra nhiều sự kiện quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến căn bản của hệ
thống Ngân hàng Việt Nam thể hiện qua một số "cột môc" có tính đột phá
sau đây:
+ Từ năm 1986 đến năm 1990:
Thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng kinh
doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh
doanh xã hội chủ nghĩa. Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng đã được hình
thành và hoàn thiện dần - Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời
(Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác
xã tín dụng và công ty tài chính ) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động
của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp - Trong đó lần đầu
tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp
phân biệt rạch ròi:
+ Ngân hàng Nhà nước thực thi
nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng,
thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; Thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng
Trung ương - là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền; Là ngân hàng của
các ngân hàng và là Ngân hàng của Nhà nước; NHTW là cơ quan tổ chức việc
điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền
làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể
đối với hệ thống các ngân hàng cấp 2.
+ Cấp Ngân hàng kinh doanh
thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và
dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài
chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện.
Cùng với quá trình đổi mới cơ
chế vận hành trong hệ thống ngân hàng là quá trình ra đời hàng loạt các
ngân hàng chuyên doanh cấp 2 với các loại hình sở hữu khác nhau gồm Ngân
hàng thương mại quốc doanh, cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh
hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp tác xã tín dụng,
QTDND, công ty tài chính...Trong thời gian này, 4 ngân hàng thương mại
quốc doanh lớn đã được thành lập gồm: 1) Ngân hàng Nông nghiệp Việt
Nam; 2) Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam; 3) Ngân hàng Công
thương Việt Nam; 4) Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.
+ Từ năm 1991 đến nay:
Thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng đổi mới
và lớn mạnh, đảm bảo thực hiện được trọng trách của mình trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước trong thiên niên kỷ mới.
Những dấu ấn dưới đây liên quan trực tiếp và thúc đẩy quá trình đổi mới
mạnh mẽ hoạt động Ngân hàng:
Năm 1993:
Bình thường hoá các mối quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc
tế (IMF, WB, ADB)
Năm 1995:
Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động ngân
hàng; thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo.
Năm 1997:
Quốc hội khoá X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các
tổ chức tín dụng (ngày 2/12/1997) và có hiệu lực thi hành từ 1/10/1998;
Thành lập Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng Sông cửu long (Quyết định
số 769/TTg, ngày 18/9/1997).
Năm 1999:
Thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (ngày 9/11/1999).
Năm 2000:
Cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMNN và cơ cấu lại tài chính
và hoạt động của các NHTMCP.
Năm 2002:
Tự do hoá lãi suất cho vay
VND của các tổ chức tín dụng - Bước cuối cùng tự do hoá hoàn toàn lãi
suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu ra.
Năm 2003:
Tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu hoạt động phù hợp với chuẩn quốc tế
đối với các Ngân hàng thương mại; Thành lập NHCSXH trên cơ sở Ngân hàng
phục vụ người nghèo để tiến tới tách bạch tín dụng chính sách với tín
dụng thương mại theo cơ chế thị trường; Tiến hành sửa bước 1 Luật
NHNNVN.
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước
thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 86/2002/NĐ -
CP ngày 05 tháng 11 năm 2002 và Nghị định 52/NĐ-CP ngày 19/5/2003 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
1.
Trình Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ các dự án Luật, Pháp lệnh và dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
2.
Trình Chính phủ chiến
lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn năm năm và hàng năm về tiền
tệ và hoạt động ngân hàng
3.
Ban hành các quyết
định, chỉ thị, thông tư thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà
nước
4.
Chỉ đạo, hướng dẫn,
kiểm tra và chịu trách nhiệm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật,
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt và các văn bản
pháp luật khác thuộc phạm vi quản lý của ngành; tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật và thông tin về hoạt động ngân hàng
5.
Về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng:
a)
Xây dựng dự án chính
sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định và
tổ chức thực hiện chính sách này; Trình Chính phủ đề án phát triển hệ
thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng;
b)
Cấp, thu hồi giấy phép
thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp do Thủ
tướng Chính phủ quyết định; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng
của các tổ chức khác; quyết định giải thể, chấp thuận chia, tách, hợp
nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;
c)
Kiểm tra, thanh tra
hoạt động ngân hàng, kiểm soát tín dụng; thanh tra, kiểm tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý các vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền
d)
Quản lý việc vay, trả
nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ
đ) Chủ trì
lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế
e)
Quản lý ngoại hối,
hoạt động ngoại hối và quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vàng
f)
Ký kết tham gia điều
ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp
luật.
g)
Đại diện cho Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức tiền tệ và ngân hàng quốc tế
trong những trường hợp được Chủ tịch nước, Chính phủ uỷ quyền;
h)
Tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ
ngân hàng,
6) Thực hiện chức năng Ngân
hàng trung ương:
a)
Tổ chức in, đúc, bảo
quản, vận chuyển tiền; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế
và tiêu huỷ tiền;
b)
Thực hiện tái cấp vốn
nhằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh
tế;
c)
Điều hành thị trường
tiền tệ; thực hiện nghiệp vụ thị trường mở;
d)
Kiểm soát dự trữ quốc
tế, quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước;
đ) Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân
hàng, làm dịch vụ thanh toán, quản lý việc cung ứng các phương tiện
thanh toán;
e)
Làm đại lý và các dịch
vụ ngân hàng cho Kho bạc nhà nước
f)
Tổ chức hệ thống thông
tin và làm các dịch vụ thông tin ngân hàng.
7) Thẩm định và kiểm tra việc thực
hiện các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ngân hàng theo quy định của Pháp
luật
8) Thực hiện hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực ngân hàng theo quy định của pháp luật
9) Quyết
định các chủ trương, biện pháp cụ thể và chỉ đạo việc thực hiện cơ chế
hoạt động của các tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực ngân hàng theo quy
định của pháp luật, quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự
nghiệp thuộc Ngân hàng Nhà nước
10) Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thuộc quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn
của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng
theo quy định của Pháp luật
11) Quản lý
nhà nước đối với các hoạt động của Hội và tổ chức phi Chính phủ trong
lĩnh vực ngân hàng theo quy định của pháp luật
12) Quyết
định và chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của Ngân hàng
Nhà nước theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính nhà
nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
13) Quản lý
về tổ chức, bộ máy, biên chế; chỉ đạo thực hiện chế độ tiền lương và các
chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công
chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước
14) Quản lý
tài chính, tài sản được giao theo quy định của Pháp luật
15) Tham gia
xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà
nước.
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và
trưởng thành, Hệ thống ngân hàng ở nước ta đã góp phần xứng đáng vào
những thành tựu của cuộc cách mạng Việt Nam qua những chặng đường chói
ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng và thắng lợi vẻ vang, góp phần củng cố
nền độc lập, tự chủ, phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất
nước nhà.
Để ghi nhận những cống hiến to
lớn của toàn ngành Ngân hàng trong hai cuộc kháng chiến với những thắng
lợi vĩ đại của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã phong tặng và thưởng nhiều
danh hiệu cao quý cho nhiều tập thể, cá nhân của ngành. Trong đó, nhân
kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, năm 1996 ngành NH đã vinh dự được Đảng,
Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, 94 đồng chí được trao tặng
các Huân chương công trạng bậc cao từ Huân chương Hồ Chí Minh đến các
Huân chương độc lập hạng nhất, hạng nhì, hạng ba. Tại Đại Hội thi đua
yêu nước ngành Ngân hàng lần thứ IV tháng 9/2000, Đảng Nhà nước và ngành
Ngân hàng đã trao tặng danh hiệu anh hùng lao động và hàng ngàn Huân,
Huy chương, Bằng khen các cấp cho các tập thể và cá nhân của ngành về
những thành tích trong thời kỳ đổi mới.
Cho đến ngày hôm nay, hệ
thống ngân hàng vẫn là nhân tố nòng cốt, tích cực trong công cuộc đổi
mới toàn diện nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, vận hành bằng cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền văn minh tiền tệ Việt Nam
đã từng bước được khẳng định thông qua tính ổn định giá trị, tính đa
dạng về phương tiện thanh toán thay tiền mặt và không ngừng hoàn thiện
các công nghệ điều hành cũng như công nghệ kinh doanh hiện đại hướng về
các nhu cầu tiện ích đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân. Sự lớn mạnh và
thay đổi nhanh chóng theo chiều hướng ngày càng hiện đại phù hợp với
tiêu chuẩn quốc tế cùng với sự tiếp nối truyền thống vẻ vang của ngành
trong hơn nửa thế kỷ qua chắc chắn Ngân hàng Việt Nam cũng sẽ không phụ
lòng tin của Đảng, của nhân dân và của bạn bè quốc tế. Với nhiệm vụ quan
trọng là "một người chiến sỹ xung kích" trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước trước những thách thức và thời cơ của xu thế
hội nhập và toàn cầu hoá trong giai đoạn phát triển mới. |