Thứ ba 6/1/2009

Trang chủ | Giới thiệu Website | Tin tức sự kiện Liên hệ - Góp ý | Tìm kiếm

Giới thiệu về NHNN
Hệ thống các         Tổ chức tín dụng
Hệ thống các TCTD
Hệ thống các TCTD HT
Thông tin về cơ cấu lại hệ thống TCTD
Thông tin mới về tổ chức và hoạt động của các TCTD
Báo cáo tài chính của các TCTD
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Hệ thống thông tin tuyên truyền
Dịch vụ công
Nghiên cứu trao đổi
 Ngan Hang nha nuoc Viet Nam

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá bình quân liên NH

Ngày 06/01/2009

1 USD=16.971,00 VNĐ

Tỷ giá tham khảo tại
 Sở Giao dịch NHNN

Ngày 06/01/2009

Mua

Bán

USD

16.462

17.480

EUR

22.387

23.772

JPY

176,71

187,64

GBP

24.161

25.656

CHF

14.820

15.737

Tỷ giá giao dịch của NHTM

Ngày 06/01/2009

EUR

Mua

23.520,00

 

Bán

23.954,17

JPY

Mua

185,80

 

Bán

189,23

USD

Mua

17.440,00

 

Bán

17.480,00

Tỷ giá tính thuế XNK

Từ ngày 01/01/2009

Đến ngày 10/01/2009

EUR

23.905,31

JPY

187,90

GBP

24.504,60

CHF

16.055,42

AUD

11.756,57

CAD

13.933,85

SEK

2.190,86

NOK

2.421,03

DKK

3.209,02

RUB

577,90

NZD

9.821,19

HKD

2.190,64

SGD

11.799,42

MYR

4.899,57

THB

489,25

IDR

1,56

TWD

517,83

CNY

2.489,48

KHR

4,19

MOP

2.126,86

INR

349,90

LAK

2,01

KRW

13,53

 

THÔNG TIN VỀ CƠ CẤU LẠI HỆ THỐNG TCTD


VẤN ĐỀ XỬ LÝ NỢ TỒN ĐỌNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. Cơ chế xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại.

Tính đến thời điểm 31/12/2000, nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại chiếm tỷ lệ cao trong tổng dư nợ tín dụng, trong khi đó việc xử lý nợ tồn đọng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc không được xử lý dứt điểm, đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh, an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại và nền kinh tế.

Nhằm giải quyết căn bản nợ tồn đọng, làm lành mạnh tình hình tài chính của các ngân hàng thương mại, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 149/2001/QĐ-TTG ngày 5 tháng 10 năm 2001 về việc phê duyệt Đề án xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại.Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành chỉ thị số 01/2002/CT-NHNN ngày 07/01/2002 về xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại còn dư nợ đến 31/12/2000. Số nợ này được phân loại thành 3 nhóm nợ với cơ chế xử lý riêng, cụ thể như sau:

1. Đối với nợ tồn đọng có tài sản bảo đảm (nợ tồn đọng nhóm 1).

- Ngân hàng thương mại, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của Ngân hàng thương mại được chủ động bán các tài sản bảo đảm nợ vay (tài sản thế chấp; cầm cố; tài sản gán nợ; tài sản Toà án giao cho ngân hàng) kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền định đoạt của ngân hàng theo các hình thức sau:

+ Tự bán công khai trên thị trường;

+ Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản;

+ Bán cho Công ty mua bán nợ của Nhà nước (khi được thành lập).

- Đối với những tài sản bảo đảm nợ vay thuộc những vụ án đã được Toà án phán quyết nhưng chưa giao tài sản cho ngân hàng thương mại: ngân hàng thương mại tập hợp báo cáo Ngân hàng Nhà nước để trình Ban Chỉ Đạo cơ cấu lại tài chính ngân hàng thương mại đề nghị Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cơ quan thi hành án nhanh chóng giao cho các ngân hàng thương mại để xử lý thu hồi vốn cho ngân hàng theo các hình thức nói trên.

- Đối với những tài sản bảo đảm nợ vay chưa đầy đủ thủ tục pháp lý và hiện không có tranh chấp, các ngân hàng thương mại tập hợp báo cáo Ngân hàng Nhà nước để trình Ban chỉ đạo cơ cấu lại tài chính ngân hàng thương mại xem xét yêu cầu các cơ quan chức năng nhà nước có thẩm quyến hoàn thiện thủ tục pháp lý, để ngân hàng thương mại, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng thương mại bán nhanh tài sản, thu hồi nợ.

- Đối với những tài sản bảo đảm nợ vay chưa bán được: ngân hàng thương mại, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng thương mại áp dụng các biện pháp như: cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản để bán, cho thuê, khai thác kinh doanh, góp vốn, liên doanh bằng tài sản để thu hồi nợ.

- Giá bán các tài sản bảo đảm nợ vay có thể cao hoặc thấp hơn giá trị nợ tồn đọng (gốc và lãi). Trường hợp bán tài sản với giá thấp hơn giá trị nợ tồn đọng, phần chênh lệch được xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro của các ngân hàng thương mại và tiếp tục theo dõi thu hồi nợ. Trường hợp bán tài sản với giá cao hơn giá trị nợ tồn đọng thì phần chênh lệch được xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Đối với nợ tồn đọng không có tài sản bảo đảm và không còn đối tượng để thu hồi nợ (nợ tồn đọng nhóm 2).

- Ngân hàng thương mại nhà nước tập hợp báo cáo đề nghị xử lý theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước;

- Ngân hàng thương mại cổ phần tự xử lý theo qui định hiện hành.

3. Đối với nợ tồn đọng không có tài sản bảo đảm nhưng con nợ còn tồn tại, đang hoạt động (nợ tồn đọng nhóm 3).

Các ngân hàng thương mại, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng thương mại được thực hiện một số biện pháp xử lý như sau:

- Bán lại nợ để thu hồi vốn theo quy chế mua bán nợ thông thường;

- Chuyển nợ thành vốn góp vào doanh nghiệp và được chuyển nhượng phần vốn góp này; trường hợp này, ngân hàng thương mại phải dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ tương ứng với phần nợ đã chuyển thành vốn góp vào doanh nghiệp và phải bảo đảm tỷ lệ vốn góp theo quy định của pháp luật;

- Ngân hàng thương mại nhà nước được đánh giá lại khoản nợ tồn đọng của doanh nghiệp nhà nước để xác định giá trị thực còn của khoản nợ và xử lý theo hướng dẫn của Nhà nước;

- Căn cứ vào thực trạng và khả năng trả nợ của doanh nghiệp, ngân hàng thương mại được cơ cấu lại nợ bằng nhiều hình thức thích hợp như giãn nợ, miễn giảm lãi suất hoặc cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư thêm.

Thực hiện xử lý nợ tồn đọng theo cơ chế nói trên, Chính phủ đã Thành lập Ban chỉ đạo cơ cấu lại tài chính ngân hàng thương mại giúp chính phủ xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại; Các ngân hàng thương mại thành lập bộ phận chuyên trách xử lý nợ tồn đọng, các ngân hàng thương mại nhà nước có nợ tồn đọng lớn được thành lập Công ty quản nợ và khai thác tài sản.

II. KẾT QUẢ XỬ LÝ NỢ TỒN ĐỌNG

Kết quả xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại nhà nước thể hiện chi tiết theo bảng dưới đây:

Đơn vị: Tỷ đồng

STT

Chỉ tiêu

Tổng cộng

Tỷ lệ %

I

Dư nợ tồn đọng đến 31/12/2000

21.280

 

II

Tổng số xử lý luỹ kế đến 30/12/2003

13.386

62.90%

1

Tổng số nợ ngân hàng tự xử lý

8.873

66.29%

2

Tổng số nợ được Chính phủ xử lý

4.513

33.71%

Ghi chú:

- Tỷ lệ % tổng số nợ đã xử lý đến 30/12/2003 được tính trên tổng dư nợ tồn đọng tại thời điểm 31/12/2000; Tỷ lệ % các biện pháp xử lý (ngân hàng tự xử lý, Chính phủ xử lý) được tính trên tổng số nợ đã xử lý.

Các NHTM nhà nước đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong việc tự xử lý nợ, đẩy nhanh tốc độ xử lý tài sản bảo đảm nợ tồn đọng, tận thu từ khách hàng. Tính đến 30/12/2003, tức là sau 2 năm thực hiện xử lý nợ tồn đọng, bốn NHTM nhà nước đã xử lý được 13.386 tỷ đồng, chiếm 62,9% tổng số nợ tồn đọng đã chốt lại tại thời điểm 31/12/2000, trong đó:

- Tổng số nợ tự xử lý (bằng các giải pháp sử dụng dự phòng rủi ro; thu hồi nợ từ khách hàng; phát mại, khai thác tài sản bảo đảm, cơ cấu lại nợ…) được 8.873 tỷ đồng, chiếm 66,29% tổng số nợ được xử lý;

- Chính phủ xử lý 4.513 tỷ đồng, chiếm 33,71% tổng số nợ tồn đọng được xử lý.

TÓM TẮT ĐỀ ÁN CƠ CẤU LẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

A. Thực trạng hoạt động của các ngân hàng thương mại Nhà nước Việt nam.

Hệ thống NHTMNN ở Việt Nam đến nay có 6 Ngân hàng: Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng phục vụ người nghèo và Ngân hàng phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong hệ thống các TCTD Việt nam, các NHTMNN đã có những đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển toàn diện với tốc độ khá cao và ổn định.

         Tổng nguồn vốn huy động của các NHTMNN cuối năm 2000 đạt 201.345 tỷ đồng (chiếm 76,9% so với toàn ngành và tương đương 45,5% GDP năm 2000), trong đó huy động từ nền kinh tế chiếm 73,94%, từ các TCTD và Chính phủ chiếm 22,06%. Cơ cấu nguồn vốn tín dụng với trên 80% nguồn vốn huy động là vốn ngắn hạn, các NHTMNN giai đoạn 1995-2000 có tốc độ tăng trưởng huy động cao (bình quân 28,5%/năm).

          Đến 31/12/2000, tổng dư nợ của các NHTMNN đạt 136 ngàn tỷ đồng, tăng 25% so với 31/12/1999. Tốc độ tăng dư nợ bình quân của các NHTMNN trong giai đoạn 1995 - 2000 là 25,7%/năm.

          Cơ cấu tín dụng diễn biến theo hướng tích cực: tín dụng trung dài hạn tăng nhanh và liên tục duy trì tỷ trọng trong dư nợ cho vay nền kinh tế là 40% qua các năm 1998, 1999, 2000.

- Lợi nhuận ròng của các NHTMNN năm 1998 là 538,3 tỷ đồng, lợi nhuận năm 1999 là 645 tỷ đồng, lợi nhuận năm 2000 là 885,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, nếu tính đến những khoản nợ khoanh và nợ khó đòi thì thực tế hoạt động kinh doanh của một số NHTMNN là đang ở tình trạng thua lỗ.

Vốn tự có của các NHTMNN rất nhỏ bé cả về số tuyệt đối (5600 tỷ đồng) và tỷ trọng trên tổng tài sản có, tỷ lệ vốn tự có trên tài sản có: 1998 là 3,07%, 1999 là  3,12%, năm 2000 là 2,8%. Như vậy mức vốn tự có của các NHTMNN là hết sức nhỏ bé so với chuẩn mực quốc tế tối thiểu là 8%.

Nợ quá hạn trên cân đối của các NHTMNN năm 2000 chiếm 10,78% tổng dư nợ, trong đó NHNT là 19,47%, NHCT là 24,31%, NHĐT là 2,53%, NHNo là 4,15%. Tính đầy đủ các khoản nợ chờ xử lý, nợ phải trả thay, nợ thanh toán công nợ giai đoạn II đã lên lưới thì tổng số nợ xấu (nợ tồn đọng không sinh lời) lên đến 22.299 tỷ đồng, mức độ nợ xấu trên tổng dư nợ của các NHTMNN là đáng báo động. Mặt khác, việc xếp loại nợ quá hạn khó đòi của ta hiện nay chủ yếu là dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn mà chưa tính đến các tiêu chí khác như nợ đang còn trong diện nợ trong hạn hoặc quá hạn thông thường nhưng thực tế doanh nghiệp đã bị thua lỗ nặng, khả năng trả nợ rất thấp; như vậy nếu phân loại nợ xấu theo tiêu chuẩn quốc tế thì thực trạng nợ xấu trong hệ thống NHTMNN sẽ còn cao hơn số liệu nêu trên  (chiếm 25% tổng dư nợ hiện hành).

          Tóm lại: Hệ thống NHTMNN Việt Nam có qui mô nhỏ, năng lực tài chính yếu; mức độ rủi ro cao, chất lượng tín dụng thấp; khả năng sinh lời thấp; năng suất lao động thấp; hoạt động ngân hàng dựa chủ yếu vào "độc canh" tín dụng, còn quá ít các sản phẩm dịch vụ ngân hàng; mức độ áp dụng công nghệ vào lĩnh vực hoạt động ngân hàng còn thấp xa so với khu vực.

Nguyên nhân chính dẫn đến tồn tại của các NHTMNN

Các nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng như sự yếu kém trong tổ chức, quản lý, trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp.... Bên cạnh đó nguyên nhân khách quan liên quan đến cơ chế chính sách đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đối với ngân hàng, cụ thể:

- Sự bất cập của chính sách, cơ chế cũ không phù hợp với thực tế hoạt động của ngân hàng vẫn chưa được bổ sung sửa đổi.

- Sự chồng chéo và thường xuyên thay đổi các quy định, thể chế làm cho việc áp dụng vào hoạt động ngân hàng trở nên khó khăn.

- Các quy định và cơ chế nhiều khi còn cứng nhắc, dẫn đến bó buộc hoạt động.

B. Mục tiêu và Nguyên tắc cơ cấu lại các NHTMNN.

I. Tính tất yếu của việc cơ cấu lại các NHTMNN

- Hệ thống NHTMNN đang phải đối mặt với nợ tồn đọng lớn, vốn tự có thấp, do đó hạn chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng.

- Đường lối phát triển kinh tế của Đảng đòi hỏi hệ thống NHTMNN đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng, điều này đặt yêu cầu bức bách cho việc cơ cấu lại hệ thống NHTMNN.

- Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi khối lượng vốn lớn. Nhu cầu về vốn cho công nghiệp hoá đòi hỏi NHTMNN có tiềm lực tài chính mạnh mẽ trong việc huy động và sử dụng vốn một cách có hiệu quả với quy mô ngày càng lớn.

- Quá trình hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế và tự do hoá tài chính làm cho môi trường tài chính cạnh tranh trở nên khốc liệt và rủi ro hơn đặt ra yêu cầu bức bách cơ cấu lại hệ thống NHTMNN một cách mạnh mẽ toàn diện.

- Xu hướng phát triển của khoa học kỹ thuật mà đặc biệt là công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng đang đặt ra yêu cầu cơ cấu lại hệ NHTM làm cơ sở để áp dụng kỹ thuật mới, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.

II. Mục tiêu và nguyên tắc cơ cấu lại các NHTMNN:

  1. Xây dựng hệ thống NHTMNN thực sự trở thành lực lượng chủ đạo trong lĩnh vực ngân hàng, đảm bảo hoạt động lành mạnh, an toàn và hiệu quả.

2. Tạo ra các NHTMNN hoặc các tập đoàn tài chính có qui mô lớn, hoạt động đa năng, hiện đại, có sức cạnh tranh cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3. Nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của các NHTMNN trên thị trường trong và ngoài nước.

Để đạt được các mục tiêu chủ yếu như đã nêu thì việc cơ cấu lại các NHTMNN phải tuân thủ 7 nguyên tắc cơ bản sau:

1. Củng cố các NHTMNN cần được coi là nhiệm vụ chiến lược của ngành Ngân hàng nhằm xây dựng một hệ thống Ngân hàng có khả năng huy động tốt hơn các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

2. Tách bạch hoạt động kinh doanh Ngân hàng theo nguyên tắc thị trường và hoạt động tín dụng ưu đãi theo chính sách của Nhà nước.

3. Nâng cao toàn diện năng lực quản lý và năng lực giám sát hoạt động ngân hàng theo chuẩn mực khu vực và quốc tế.

4. Tăng cường khả năng hội nhập của các NHTMNN vào thị trường tài chính Quốc tế và thực hiện hội nhập có hiệu quả.

5. Việc cơ cấu lại các NHTMNN phải đảm bảo không gây trở ngại cho hoạt động tiền tệ - Tín dụng - Thanh toán đối với nền kinh tế.

6. Cơ cấu lại hệ thống NHTMNN phải gắn liền với việc sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền KTQD.

7. Có bước đi thích hợp và đề án cụ thể đối với từng NHTMNN.

C.     Giải pháp cơ cấu lại NHTMNN

Giải pháp cơ cấu lại NHTMNN phải bảo đảm yêu cầu: tích cực, đồng bộ, khả thi, có lộ trình cụ thể, ràng buộc chặt chẽ quyền lợi, nghĩa vụ của các NHTM thực hiện Đề án.

I. Cơ cấu tài chính NHTMNN

Cơ cấu tài chính NHTMNN phải đáp ứng được hai vấn đề là xử lý nợ tồn đọng và tăng vốn cho NHTMN

1.     Xử lý nợ tồn đọng

a. Tình hình nợ tồn đọng

Cuối năm 2000 tổng nợ tồn đọng của NHTMNN là 22.299 tỷ đồng trong đó:

-         Nợ có tài sản đảm bảo: 6604 tỷ đồng

-         Nợ không có tài sản đảm bảo và không còn con nợ: 1807 tỷ đồng

-         Nợ không có tài sản đảm bảo và con nợ đang hoạt động: 12.053 tỷ đồng.

Tỷ lệ nợ tồn đọng lớn gấp gần 4 lần vốn tự có hiện nay của các NHTMNN

b. Sự cần thiết xử lý nợ tồn đọng

Xử lý nợ tồn đọng lành mạnh hoá tài chính của NHTMNN là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong chương trình tái cơ cấu hệ thống NHTMNN, bởi:

- Nợ tồn đọng lớn chứa đựng nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ.

- Nợ tồn đọng tạo ra gánh nặng chi phí cho NHTMNN, suy giảm khả năng huy động vốn và cho vay đối với nền kinh tế, làm giảm lòng tin của dân chúng và uy tín quốc tế đối với hệ thống ngân hàng.

c Giải pháp xử lý nợ tồn đọng

Nghiên cứu kinh nghiệm khắc phục khủng hoảng tài chính tiền tệ của các nước trong khu vực và trên thế giới thời gian vừa qua, đồng thời từ thực trạng yếu kém, nguy cơ rủi ro cao trong hoạt động của hệ thống NHTMNN Việt Nam đã nêu trên, để xử lý nợ tồn đọng của hệ thống NHTM có hiệu quả nhằm sớm làm lành mạnh tình hình tài chính của các NHTM, NHNN đề nghị Chính phủ:

* Cho phép thành lập Ban Chỉ đạo cơ cấu lại tài chính Ngân hàng thương mại

- Chủ tịch Ban là một Phó Thủ tướng, thành viên của Ban bao gồm đại diện cấp Thứ trưởng của các Bộ và các cơ quan ngang Bộ: Bộ Tài chính, NHNN, Bộ Tư pháp , Bộ Kế hoạch đầu tư, Ban vật giá Chính phủ, Tổng cục địa chính, Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an.

 - Ban cơ cấu tài chính của NHTMNN có quyền hạn và nhiệm vụ sau:

+ Chỉ đạo thực hiện đề án xử lý nợ tồn đọng NH sau khi Chính phủ phê duyệt đề án (NHNN trình đề án cụ thể).

+ Ban hành những chính sách cần thiết liên quan tới việc cơ cấu tài chính NHTMNN.

+ Xử lý những vấn đề vướng mắc liên quan tới những vấn đề pháp lý, phối hợp với các Bộ ngành, Uỷ ban nhân dân trong việc xử lý nợ tồn đọng.

+ Giúp việc cho Ban là bộ phận thường trực về cơ cấu tài chính chuyên trách đặt tại NHNN, đứng đầu là thành viên của Ban Chỉ đạo cơ cấu lại tài chính Ngân hàng thương mại

* Thành lập các công ty quản lý nợ và tài sản tồn đọng tại các NHTM

-         Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (gọi tắt là AMC) có nhiệm vụ xử lý khối lượng nợ tồn đọng tại thời điểm 31/12/2000 bao gồm cả nợ có tài sản đảm bảo và nợ không có tài sản đảm bảo.

-         AMC là các công ty độc lập trực thuộc các NHTMNN, thành lập theo Luật các TCTD và các quy định của Chính phủ

-         AMC hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà để xử lý nợ và tài sản tồn đọng. Công ty được hưởng các ưu đãi về thuế, các điều kiện đặc biệt trong việc khai thác, chuyển nhượng tài sản.

* Cơ chế xử lý nợ tồn đọng

AMC của các NHTMNN hoạt động theo nguyên tắc nhận các khoản nợ tồn đọng có đảm bảo và không có bảo đảm của các NHTMNN tính đến thời điểm 31/12/2000 theo giá trên sổ sách. Các công ty cơ cấu lại nợ theo nguyên tắc thị trường. Thời gian dự kiến xử lý nợ tồn đọng làm sạch bảng cân đối trong thời gian từ 2-3 năm.

  •      Nợ tồn đọng có tài sản đảm bảo: Công ty quản lý nợ có nhiệm vụ bán tài sản bảo đảm theo giá thị trường để thu hồi nợ. Trường hợp giá bán cao hơn giá trị của khoản vay thì chênh lệch được tính vào thu nhập, ngược lại giá trị khoản vay cao hơn giá bán được xử lý như sau:

+  Nếu khoản nợ thuộc diện cho vay chính sách thì khoản chênh lệch đó được bù đắp bằng nguồn tài chính của Chính phủ

+  Nếu khoản nợ thuộc diện cho vay thông thường thì bù đắp khoản chênh lệch được lấy từ quỹ dự phòng rủi ro được trích của các NHTM.

  •     Nợ tồn đọng không có tài sản bảo đảm và không còn đối tượng để thu (doanh nghiệp đã giải thể, thanh lý, phá sản, cá nhân đã chết, mất tích) khoản nợ này cần được xoá theo hướng sau:

+ Nếu khoản nợ thuộc diện cho vay chính sách thì được bù đắp bằng nguồn tài chính của Chính phủ

+ Nếu khoản nợ thuộc diện cho vay thông thường thì khoản bù đắp được lấy từ quỹ dự phòng rủi ro được trích của các NHTM.

  •     Nợ tồn đọng không có tài sản bảo đảm và con nợ còn tồn tại đang hoạt động:

Trong trường hợp này công ty quản lý nợ phải tận thu để thu hồi nợ, trường hợp khách hàng không trả được nợ thì phải thanh lý doanh nghiệp để thu hồi nợ. Trường hợp giá trị thanh lý thấp hơn giá trị khoản vay thì xử lý theo hướng

+ Nếu khoản nợ thuộc diện cho vay chính sách thì khoản chênh lệch đó được bù đắp bằng nguồn tài chính của Chính phủ.

 + Nếu khoản nợ thuộc diện cho vay thông thường thì bù đắp khoản chênh lệch đó được lấy từ quỹ dự phòng rủi ro được trích của các NHTM.

Nếu công ty quản lý nợ chuyển vốn đã cho vay thành vốn cổ phần của doanh nghiệp thì khoản vay được định giá lại theo giá thị trường. Nếu giá thị trường thấp hơn giá trị khoản vay thì phần chênh lệch được xử lý như sau:

+ Nếu khoản nợ thuộc diện cho vay chính sách thì khoản chênh lệch đó được bù đắp bằng nguồn tài chính của Chính phủ.

+ Nếu khoản nợ thuộc diện cho vay thông thường thì bù đắp khoản chênh lệch được lấy từ quỹ dự phòng rủi ro được trích của các NHTM.

* Nguồn vốn xử lý nợ tồn đọng

-         Nguồn dự phòng rủi ro được trích lập hàng năm của các ngân hàng.

-         Nguồn từ NHNN đã tái cấp vốn trước đây cho các NHTM theo các mục tiêu như cho vay để cơ cấu lại nợ, khoanh nợ, khắc phục thiên tai, cho vay theo chỉ định của Chính phủ.

-         Nguồn từ Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế cho vay cơ cấu lại nợ NHTMNN.

-         Chính phủ cho phép NHNN phát hành trái phiếu có lãi suất cố định để xử lý nợ tồn đọng cho các ngân hàng.

*Cơ chế ràng buộc và khuyến khích các NHTMNN trong việc xử lý nhanh các tài sản tồn đọng

Tạo ra cơ chế ràng buộc và khuyến khích các NHTMNN nhanh chóng xử lý nợ và tài sản tồn đọng cần phải gắn liền việc cấp vốn bổ sung cho các NHTMNN với tiến độ bán tài sản và xử lý nợ như đã nêu trên.

2. Tăng vốn tự có của các NHTMNN

Song song với việc giải quyết nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính của NHTMNN là việc tăng cường khả năng về vốn tự có để từng bước phù hợp với chuẩn mực quốc tế và khu vực. Tăng vốn tự có cho các NHTM là vấn đề bức bách đối với NHTMNN bởi lẽ:

- Tăng vốn tự có là nhân tố quyết định để có thể tăng cường huy động vốn mở rộng đầu tư phục vụ phát triển kinh tế, vừa thực hiện tỷ lệ an toàn tối thiểu theo chuẩn mực quốc tế .

- Theo quy định cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có. Với mức vốn tự có hiện nay, các NHTMNN không đủ sức tài trợ cho những dự án lớn như dầu khí, điện lực, hàng không, bưu chính viễn thông... làm giảm khả năng cạnh tranh của các NHTMNN.

Theo tính toán để đảm bảo tỷ lệ an toàn tối thiểu hiện nay theo chuẩn mực quốc tế là 8% (tỷ lệ vốn tự có/tổng tài sản có) thì số lượng vốn cấp bổ sung cần được xử lý là 10.000 tỷ đồng và ước tính để bảo đảm mức tăng dư nợ bình quân ở mức 18%/năm thì mức vốn tối thiểu của các NHTMNN phải đạt 23.000 tỷ vào thời điểm cuối năm 2003.

*Nguồn để tăng vốn tự có

-    Chính phủ và Bộ tài chính cho phép NHTMNN giữ lại phần thu thuế sử dụng vốn để tăng vốn tự có

-    Chính phủ cho phép chuyển phần vốn vay từ Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế theo chương trình tái cơ cấu cho các NHTMNN và cho phép các ngân hàng này không phải nộp thuế sử dụng vốn hàng năm để các ngân hàng nhận vốn vay để tăng vốn tự có được sử dụng khoản thuế vốn này hoàn trả khoản vay theo các điều kiện của Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới.

-    n định mức nộp ngân sách (lấy năm 2000 làm mốc) trong 3 năm để khuyến khích các NHTMNN phấn đấu vượt chỉ tiêu lợi nhuận, cho phép lấy phần vượt để bổ sung vốn tự có.

-    Khuyến khích các NHTM tích cực thu hồi các khoản nợ đã khoanh để bổ sung vốn tự có.

-   Cho phép tăng vốn bằng phương thức bán cổ phần ưu đãi (không tham gia quản lý) cho cán bộ công nhân viên với cổ tức cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm.

* Lộ trình tăng vốn tự có

Việc cấp vốn bổ sung cho các NHTMNN dự kiến sẽ được chia thành các giai đoạn trong thời gian 3 năm với các điều kiện ràng buộc theo kết quả thực hiện các hành động chủ chốt và các chỉ tiêu hoạt động chủ chốt đối với từng năm của các NHTMNN như nêu trong mỗi kế hoạch cơ cấu lại các NHTMNN. Nguồn vốn của Chính phủ để thực hiện cấp vốn bổ sung sẽ được cấp cho từng NHTMNN theo từng năm với điều kiện các NHTMNN đáp ứng yêu cầu về kết quả hoạt động đã được nêu trong từng kế hoạch cơ cấu lại.

II. Cơ cấu lại tổ chức và hoạt động của các NHTMNN hiện có:

1 Tách bạch hoạt động cho vay chính sách và cho vay thương mại

Thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách (gọi tắt là Ngân hàng chính sách - NHCS) nhằm tập trung thực hiện tốt hơn các chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách xoá đói giảm nghèo và giúp đỡ những vùng khó khăn do thiên tai gây ra, mặt khác tạo điều kiện cho các NHTMNN thực sự chuyển sang kinh doanh theo nguyên tắc thị trường an toàn, hiệu quả.

Cơ chế hoạt động của NHCS:

NHCS nhận vốn để cho vay đối tượng chính sách hàng năm theo kế hoạch của Chính phủ từ Bộ tài chính. Ngân hàng chính sách tiến hành cho vay các đối tượng chính sách thông qua các NHTM làm uỷ thác. Trường hợp khoản cho vay các đối tượng chính sách phát sinh rủi ro thì được Bộ tài chính bù đắp những khoản rủi ro này.

 Để đảm bảo cho việc thành lập và hoạt động NHCS với chi phí tối thiểu nhưng vẫn đảm bảo nhiệm vụ phục vụ tốt các đối tượng chính sách, mô hình tổ chức của NHCS có thể được thiết kế như sau: Có một trụ sở chính ở trung ương và có các văn phòng đại diện tại một số khu vực trọng điểm các đối tượng chính sách (NHNN trình đề án cụ thể).

Như vậy sau khi tách các hoạt động chính sách thì các NHTMNN hoạt động theo nguyên tắc thị trường sẽ là:

+ Ngân hàng Công thương Việt Nam

+ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

+ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

+ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

+ Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu long sẽ được cơ cấu theo hướng một ngân hàng thương mại đa năng hoạt động chuyên sâu về phát triển nhà ở và các dịch vụ phục vụ phát triển nhà ở. Dự kiến sẽ cho ngân hàng này thí điểm việc cổ phần hoá vào năm 2003.

Căn cứ vào yêu cầu của chiến lược phát triển đã xây dựng, từng NHTMNN phải xây dựng đề án và thực hiện chương trình phát triển cụ thể trên cơ sở cơ cấu lại bộ máy quản lý sắp xếp lại hệ thống chi nhánh, phát triển công nghệ để đảm bảo mục tiêu chiến lược phát triển theo yêu cầu cạnh tranh dài hạn.

2. Cơ cấu lại mô hình tổ chức của NHTMNN

 Cơ cấu lại mô hình tổ chức của NHTMNN nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng của khách hàng bằng cách tổ chức các phòng ban theo đối tượng khách hàng kết hợp với sản phẩm, dịch vụ nhằm phục vụ tốt hơn cácyêu cầu của khách hàng về nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.

3. Cơ cấu lại hoạt động ngân hàng thương mại Nhà nước

Cơ cấu lại hoạt động ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng và đáp ứng các chuẩn mực theo thông lệ quốc tế. Đồng thời tăng cường sự kiểm tra, kiểm soát các hoạt động ngân hàng với mục tiêu tăng cường chất lượng tín dụng, dịch vụ ngân hàng nhưng vẫn đảm bảo quyền tự chủ của ngân hàng trong việc ra quyết định kinh doanh.

Cơ cấu lại hoạt động của các NHTMNN bao gồm các nội dung chính:

a. Quản lý tín dụng

Cơ cấu lại quản lý tín dụng nhằm mục đích hướng tới khách hàng đáp ứng các nhu cầu của khách hàng với chất lượng cao. Đồng thời đảm bảo quản lý tín dụng một cách an toàn dựa trên các quy định và nguyên tắc về hoạt động tín dụng theo chuẩn mực ngân hàng quốc tế.

b. Quản lý rủi ro

Xây dựng các thiết chế quản lý rủi ro nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng: rủi ro tín dụng; rủi ro thanh khoản; rủi ro lãi suất; rủi ro hoạt động; rủi ro tỷ giá

c. Quản lý vốn

Cơ cấu lại công tác quản lý vốn nhằm phục vụ tốt mục tiêu chiến lược kinh doanh đồng thời giảm chi phí huy động vốn, giảm thiểu rủi ro, tăng năng lực tài chính.

d. Phát triển công nghệ

Từng bước hiện đại hóa công nghệ ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng với mục tiêu đến 2005 trình độ công nghệ của NHTMNN tương đương với trình độ công nghệ trung bình của ngân hàng thương mại trong khu vực.

e. Hệ thống kế toán, kiểm toán

Chuyển đổi hệ thống kế toán việt nam sang hệ thống kế toán quốc tế, làm cho hệ thống kế toán phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Đánh giá đúng thực trạng tài chính ngân hàng. Đồng thời xây dựng các thiết chế an toàn cho hoạt động của ngân hàng phù hợp với chuẩn mực quốc tế

f. Xây dựng chiến lược đào tạo và sử dụng cán bộ tạo động lực khuyến khích người lao động

Đào tạo cán bộ là vấn đề được coi là có tính nền tảng trong chiến lược phát triển ngân hàng. Yêu cầu của công tác quản lý nhân lực và đào tạo là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và viên chức ngân hàng có đủ đạo đức và kỹ năng cần thiết để thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Để đáp ứng đòi hỏi đó cần thực hiện một số biện pháp chủ yếu sau:

- Các NHTM cần rà soát lại, bổ sung, sửa đổi các quy chế về tuyển dụng, bố trí và sa thải viên chức theo yêu cầu quản lý mới, trên cơ sở đó có những kiến nghị cụ thể với NHNN và Chính phủ sửa đổi, bổ sung các quy định pháp lý nhằm nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhân sự, tiền lương của các ngân hàng.

- Xây dựng hệ thống khuyến khích vật chất và tinh thần phù hợp với yêu cầu kinh doanh, cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận.

- Xây dựng kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cán bộ, tập trung trước hết vào các lĩnh vực chính yếu của tái cơ cấu như : nghiệp vụ quản lý chiến lược, quản lý rủi ro, kế toán, kiểm toán, quản lý tín dụng và dịch vụ mới.

D. Một số kiến nghị

1. Tăng tính tự chủ trong kinh doanh của các NHTMNN

- Tự chủ trong kinh doanh:

Cho đến nay hoạt động cho vay chính sách chưa được tách ra khỏi cho vay thương mại đã ảnh hưởng đến tính tự chủ tài chính gây khó khăn trong hoạt động của các ngân hàng. Việc đánh giá chất lượng tín dụng và hiệu quả các ngân hàng với cả hai hoạt động cho vay nói trên là không chính xác và không có ý nghĩa thực tế. NHNN đề nghị cần tách bạch rõ ràng giữa cho vay thương mại và cho vay theo chỉ định Chính phủ, trường hợp cần cho vay theo chỉ định thì cần có bảo lãnh của Bộ tài chính cho khoản vay đó.

- Tăng cường tự chủ tài chính:

Việc mở rộng quyền tự chủ tài chính của các NHTMNN có ý nghĩa quyết định tạo ra động lực và hệ thống khuyến khích vật chất nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu lực quản lý. Theo Nghị định 166/1999/NĐ-CP ban hành ngày 19/11/1999 về chế độ tài chính đối với cá