Ngày 28/9/2018, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố dữ liệu về cơ cấu dự trữ ngoại hối (COFER), là cơ sở dữ liệu do IMF quản lý, được cập nhật và công bố hàng quý dựa trên báo cáo của các quốc gia thành viên.
Dữ liệu về COFER được IMF tổng hợp dựa trên các báo cáo tự nguyện và bảo đảm bí mật quốc gia. Dữ liệu hiện nay được nhiều quốc gia và tổ chức cung cấp cho IMF, bao gồm các quốc gia thành viên IMF, một số quốc gia không thuộc thành viên IMF và nhiều cơ quan nắm giữ dự trữ ngoại hối quốc tế. COFER bao gồm tiền giấy, tiền gửi ngân hàng, trái phiếu kho bạc, các loại giấy tờ có giá của chính phủ, dữ trữ có thể được sử dụng khi có nhu cầu thanh toán.
Cơ cấu dữ trữ ngoại hối quốc tế phân theo loại đồng tiền chủ chốt (tỷ USD)
|
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
|||
|
Quý IV |
Quý II |
Quý III |
Quý IV |
Quý I |
Quý II |
Tổng dự trữ ngoại hối quốc tế |
11.793,40 |
11.117,86 |
11.291,23 |
11.441,12 |
11.604,54 |
11.482,38 |
Dự trữ đã phân bổ |
7.900,63 |
9.257,00 |
9.642,81 |
10.014,16 |
10.402,30 |
10.523,41 |
USD |
5.052,94 |
5.909,13 |
6.125,49 |
6.280,71 |
6.498,14 |
6.551,16 |
Euro |
1.559,26 |
1.847,19 |
1.934,67 |
2.019,25 |
2.122,48 |
2.131,64 |
CNY |
84,51 |
99,45 |
108,16 |
123,47 |
145,88 |
193,38 |
Yên Nhật |
332,77 |
428,60 |
436,19 |
491,01 |
501,79 |
522,59 |
Bảng Anh |
349,33 |
408,67 |
433,28 |
454,12 |
486,57 |
471,04 |
Dollar Australia |
146,12 |
161,87 |
170,76 |
180,01 |
177,34 |
179,31 |
Dollar Canada |
160,83 |
178,77 |
192,84 |
202,80 |
193,78 |
200,79 |
Frank Thụy Sỹ |
13,73 |
16,03 |
16,53 |
18,09 |
18,25 |
16,91 |
Một số đồng tiền khác |
201,15 |
207,28 |
224,84 |
244,70 |
258,07 |
256,58 |
Dự trữ chưa phân bổ |
2.892,77 |
1.860,87 |
1.648,42 |
1.426,96 |
1.202,24 |
958,97 |
Nguồn: IMF tháng 9/2018
Ngày 26/02/2016, Lãnh đạo IMF nhất trí điều chỉnh COFER nhằm điều tra, xác định giá trị tuyệt đối và tương đối của CNY trong COFER, sau khi đồng tiền này chính thức được đưa vào giỏ tiền định giá dữ trữ ngoại hối quốc tế (gọi là Quyền Rút vốn đặc biệt - SDR) của IMF, có hiệu lực chính thức từ ngày 01/10/2016.
Kể từ quý IV/2016, CNY chính thức nằm trong giỏ tiền SDR cùng với 7 đồng tiền chủ chốt khác. Bao gồm: USD, euro, yên Nhật, bảng Anh, dollar Australia, dollar Canada, frank Thụy Sỹ. Ngoài ra, COFER cũng thống kê một số ngoại tệ khác, được gộp chung vào nhóm “những đồng tiền khác.”
Kết quả điều tra cho thấy, trữ ngoại hối dưới dạng CNY tăng dần, từ 84,5 tỷ USD (1,07%) trong tổng dự trữ ngoại hối trên thế giới vào cuối năm 2016 lên 193,38 tỷ USD (1,84%) vào quý II/2018, phản ánh phần nào những nỗ lực của Trung Quốc trong việc quốc tế hóa CNY và cải cách theo hướng đưa kinh tế Trung Quốc vận hành theo cơ chế thị trường. Ngay từ khi mới được đưa vào giỏ tiền SDR của IMF, CNY đã đứng thứ 7 trong giỏ tiền với 8 đồng tiền mạnh nhất trên thế giới, và đã tăng một bậc lên vị trí thứ 6 vào quý II/2018, vượt xa Frank Thụy Sỹ và một số đồng tiền được nhắc tới như dollar New Zealand, peso Mêhicô. Nhìn chung, dự trữ CNY đã tăng cả về lượng lẫn tỷ trọng tương đối, và dữ trữ ngoại hối dưới dạng những đồng tiền còn lại có xu hướng giảm dần.
Cho đến nay, USD vẫn chiếm vị thế áp đảo trong cơ cấu dự trữ ngoại hối quốc tế, mặc dù tỷ trọng giảm từ 63,96% vào cuối năm 2016 xuống 62,25% vào quý II/2018, sau khi một số nước giảm dự trữ USD và thay thế bằng những ngoại tệ khác, thỏa thuận thanh toán song phương, v.v. Đứng thứ hai là euro, chiếm 19,74% vào cuối năm 2016 và 20,26% vào quý II/2018.
Theo trang tin Bofit, CHLB Nga đã điều chỉnh cơ cấu dự trữ ngoại hối nhằm nâng cao năng lực và tính thanh khoản ngoại hối. Trong đó, dự trữ vàng đã tăng trên 3 lần trong thập kỷ qua lên gần 18% vào cuối tháng 5/2018, tăng cường các loại tài sản ngoại hối dễ chuyển đối như quỹ dầu thô, hiện có giá trị khoảng 40 tỷ USD. CHLB Nga cũng nâng dần dự trữ dưới dạng CNY, nhưng USD và Euro vẫn là ưu tiên hàng đầu trong cơ cấu dự trữ ngoại hối quốc gia. Hiện tại, dữ trữ ngoại hối của CHLB Nga tương đương khoảng 17 tháng nhập khẩu.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: Bofit, IMF