Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Tiến Dũng, thời gian tới, chuyển đổi số ngân hàng tiếp tục bám sát định hướng “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, dữ liệu là nền tảng, công nghệ là động lực”, đồng thời hướng tới nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng an toàn, tiện lợi, chi phí hợp lý.
Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57) là lời hiệu triệu, kim chỉ nam cho công cuộc chuyển đổi số quốc gia, hướng tới sự phát triển trong kỷ nguyên mới.
Toàn ngành Ngân hàng đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động, đạt được những thành tựu quan trọng trên cả hai trụ cột là phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW gắn với Đề án 06 (Quyết định 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030).
Với quan điểm tiếp cận lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng - Ảnh: BIDV
Hoàn thiện thể chế, nâng cấp hạ tầng công nghệ
Về xây dựng, hoàn thiện thể chế, NHNN đã nghiên cứu, tham mưu trình các cấp ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM). Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn, các văn bản yêu cầu về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng, tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý, cho phép ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ mới như xác thực qua VNeID và chuẩn hóa an toàn hệ thống thông tin.
Đồng thời, trong chỉ đạo, định hướng, Thống đốc NHNN đã chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc của Ngành, tập trung vào 05 trụ cột gồm: phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và Đề án 06. NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW với 105 nhiệm vụ trọng tâm. Những chỉ đạo này đã tạo định hướng cho ngành Ngân hàng trong việc nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTLNH) hoạt động thông suốt, an toàn, hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử do Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia (Napas) tổ chức vận hành tiếp tục đẩy mạnh tích hợp, kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để cung cấp dịch vụ công qua Cổng dịch vụ công Quốc gia (DVCQG), tập trung vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông. NHNN đã triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam và các quốc gia (Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc), đang triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR với một số quốc gia khác.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số của ngành Ngân hàng với nhiều phương thức thanh toán hiện đại, tiện lợi được kết nối liên thông, tích hợp liền mạch với các ngành, lĩnh vực khác, đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của khách hàng. Nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn 100%. Nhiều TCTD tại Việt Nam có tỷ lệ trên 90% giao dịch thực hiện trên kênh số. Đặc biệt, đến cuối năm 2025, tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng đạt gần 89%.
Hoạt động TTKDTM tiếp tục phát triển mạnh, trong năm 2025, giá trị TTKDTM gấp khoảng 28 lần GDP, minh chứng cho sự thay đổi mạnh mẽ trong thói quen thanh toán của người dân. Theo Vụ Thanh toán (NHNN), trong 3 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, giao dịch TTKDTM tăng 37,98% về số lượng và 14,22% về giá trị; qua kênh Internet tăng 65,68% về số lượng và 28,85% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 33,22% về số lượng và 8,35% về giá trị; qua QR code tăng 16,43% về số lượng và 52,4% về giá trị. Trong 3 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, giao dịch qua ATM giảm 9,29% về số lượng cho thấy nhu cầu thanh toán, rút tiền mặt của người dân qua ATM tiếp tục xu hướng giảm và được thay thể bới các phương thức, thói quen TTKDTM.
Hoạt động thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh, các ngân hàng thương mại, các tổ chức TGTT tích cực đầu tư ứng dụng công nghệ, nghiên cứu, có giải pháp kết nối với Cổng DVCQG để thực hiện thanh toán trực tuyến cho các dịch vụ đã được tích hợp trên Cổng DVCQG. Thanh toán điện tử trong khu vực chính phủ, dịch vụ hành chính đạt được kết quả khả quan; công tác thu ngân sách Nhà nước bằng phương thức TTKDTM được chú trọng, tăng cường và đạt kết quả tích cực.
Đảm bảo dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”
Trong kết nối, liên thông dữ liệu, ngành Ngân hàng tiếp tục chú trọng đầu tư và nâng cấp hạ tầng dữ liệu mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển sản phẩm dịch vụ, bảo đảm cập nhật dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Theo Cục Công nghệ thông tin (NHNN), ngành Ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử VNeID, căn cước công dân gắn chip để làm sạch dữ liệu khách hàng, định danh chính xác khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ. Tính đến hết ngày 24/4/2026, đã có hơn 156,6 triệu hồ sơ khách hàng (hơn 154,5 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và hơn 2,13 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức) đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua CCCD gắn chip hoặc ứng dụng VneID, giúp loại bỏ tài khoản ảo và nâng cao tính minh bạch cho toàn hệ thống. Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam đã đối chiếu khoảng 57 triệu lượt hồ sơ khách hàng, làm sạch được gần 44,5 triệu hồ sơ khách hàng. 57 tổ chức tín dụng (TCTD) và 39 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT) đã tích hợp trên ứng dụng Mobile Banking tính năng đối khớp thông tin sinh trắc học với dữ liệu trong CCCD gắn chip để nhận biết khách hàng; 63 TCTD đã triển khai tại quầy giao dịch ứng dụng nhận biết khách hàng qua thẻ CCCD gắn chip, 32 TCTD và 15 TGTT đang triển khai tích hợp ứng dụng VNeID trong đó có 21 đơn vị đã triển khai chính thức (gồm 16 TCTD và 05 TGTT).
Bên cạnh đó, NHNN đã hoàn thành đồng bộ 04 cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 71) và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 71 lên Trung tâm dữ liệu quốc gia, đồng thời tiếp tục làm giàu dữ liệu theo yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”.
Công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
NHNN đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO). Hệ thống SIMO cho phép các tổ chức thành viên tham gia thực hiện báo cáo thông tin về các tài khoản đáng ngờ khi phát hiện và chia sẻ thông tin tới các thành viên khác. Trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung của hệ thống SIMO, các TCTD có thể đưa ra quyết định thực hiện ngăn chặn giao dịch ngay lập tức hoặc yêu cầu xác thực, định danh tài khoản trước khi thực hiện giao dịch trực tuyến, qua đó góp phần giảm thiểu tình trạng gian lận, lừa đảo, bảo vệ an toàn tài khoản của khách hàng. Theo Vụ Thanh toán (NHNN), tính đến ngày 27/4/2026, hệ thống SIMO đã hỗ trợ cảnh báo đến hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, trong đó có hơn 1,2 triệu lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch tương ứng là hơn 4,3 nghìn tỷ đồng. Đây là minh chứng rõ nét cho việc chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao tiện ích, mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng và tăng cường an toàn trong hoạt động ngân hàng.
Công tác cải cách hành chính gắn liền với số hóa toàn trình cũng được đẩy mạnh để tiết giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Nhiều năm liên tục, NHNN đứng trong top dẫn đầu các bộ, ngành về chỉ số Cải cách hành chính. Bên cạnh đó, NHNN đã quyết liệt đề xuất cắt giảm và đơn giản hóa 269 trên tổng số 298 thủ tục hành chính, đạt tỷ lệ 90,3%, đồng thời cắt giảm 255 điều kiện kinh doanh. Năm 2025, NHNN đã chính thức cung cấp thêm 32 dịch vụ công toàn trình, nâng tổng số đã cung cấp lên 57 dịch vụ, hoàn thành nhiệm vụ 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được nâng cấp lên dịch vụ công toàn trình.
Ngoài ra, hưởng ứng phong trào “Bình dân học vụ số”, ngày 27/5/2025, NHNN đã tổ chức Hội nghị phát động phong trào “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” và “Bình dân học vụ số” ngành Ngân hàng gắn với thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị. Các phong trào này nhằm phổ cập tri thức và kỹ năng số, khơi dậy ý chí đổi mới trong từng cán bộ, TCTD và toàn hệ thống ngân hàng. Tinh thần chủ động cải tiến quy trình và ứng dụng công nghệ số đã lan tỏa rộng khắp, giúp toàn ngành ghi nhận con số ấn tượng 1.484 sáng kiến, trong đó có 37 sáng kiến số được đăng ký trên Cổng Sáng kiến Khoa học và Công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ. Ngành cũng đã xây dựng đội ngũ hơn 2.600 “Đại sứ số” và “Hạt nhân số” tại các đơn vị…
“Dữ liệu là nền tảng, công nghệ là động lực”
Theo Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng, trong thời gian tới, để tiếp tục thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số quốc gia, ngành Ngân hàng sẽ tập trung vào một số định hướng, giải pháp trọng tâm như sau:
Thứ nhất, tiếp tục bám sát định hướng “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, dữ liệu là nền tảng, công nghệ là động lực”. Chuyển đổi số ngân hàng phải hướng tới nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng an toàn, tiện lợi, chi phí hợp lý.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý nhằm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thứ ba, đẩy mạnh phát triển dữ liệu và kết nối, chia sẻ dữ liệu. Ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục làm giàu, chuẩn hóa, khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; phát huy vai trò của dữ liệu trong hỗ trợ ra quyết định của Ngân hàng Trung ương, phục vụ điều hành chính sách tiền tệ, thanh tra, giám sát, thanh toán, phòng chống rửa tiền và cải cách hành chính.
Thứ tư, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số, gắn với triển khai Đề án 06, xác thực định danh điện tử, đối chiếu sinh trắc học, làm sạch dữ liệu khách hàng. Đây là giải pháp quan trọng để vừa nâng cao tiện ích, vừa phòng ngừa gian lận, lừa đảo, bảo vệ khách hàng và bảo đảm an toàn hệ thống.
Thứ năm, coi an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình chuyển đổi số. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin quan trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Thứ sáu, tiếp tục phát triển nguồn nhân lực số trong ngành Ngân hàng; đẩy mạnh đào tạo, phổ cập kỹ năng số, phát huy vai trò của đội ngũ “Đại sứ số”, “Hạt nhân số”, đồng thời có cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyển đổi số, phân tích dữ liệu và đổi mới sáng tạo.
Thứ bảy, tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, dưới nhiều hình thức để hướng dẫn, nâng cao nhận thức, hiểu biết của khách hàng về ứng dụng công nghệ và những lưu ý, cảnh báo để hỗ trợ khách hàng nhận biết, phòng, tránh rủi ro khi thực hiện giao dịch trên môi trường điện tử.
PL