Trong phiên giao dịch cuối tuần trước (thứ sáu, 09/02/2018), thị trường chứng khoán Mỹ tăng điểm trở lại, nhưng kết thúc một tuần giảm điểm sâu nhất trong vòng hai năm qua, trong khi thị trường chứng khoán tại phần còn lại của thế giới phủ đầy sắc đỏ.
Tại Phố Wall, chỉ số công nghiệp Dow Jones đóng cửa hôm thứ sáu (09/02) ở mức 24.190,9 điểm, tăng 330,44 điểm (1,38%) so với phiên giao dịch trước, nhưng giảm trên 5,21% so với 25.520,96 điểm vào cuối tuần trước đó; chỉ số công nghệ Nasdaq đóng cửa ở mức 6.874,49 điểm, tăng 97,33 điểm so với phiên trước (1,44%), nhưng giảm 5,03% so với mức 7.240,95 điểm vào cuối tuần trước đó; chỉ số S&P 500 tăng 38,55 điểm (1,49%) so với phiên trước, nhưng giảm tới 5,16% so với mức 2.762,13 điểm vào cuối tuần trước đó.
Do đóng cửa sớm hơn thị trường chứng khoán Mỹ, sắc đỏ cũng bao trùm những thị trường chứng khoán khác trên thế giới. Chỉ số MSCI toàn cầu (chỉ số theo dõi cổ phiếu tại 23 thị trường phát triển và 24 thị trường mới nổi) giảm 6,2% so với cuối tuần trước, riêng chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương (không kể Nhật Bản) giảm 7,3%. Chỉ số Stoxx Europe 600 tại châu Âu giảm 1,4%, ghi nhận tuần giảm điểm sâu nhất kể từ năm 2016. Chỉ số FTSE 100 tại Luân Đôn giảm 1,1%, chạm đáy 13 tháng. Chứng khoán Trung Quốc giảm sâu nhất trong 2 năm qua, mặc dù kết thúc năm 2017 không mấy lạc quan (thị trường chứng khoán Thượng Hải tăng điểm nhẹ, trong khi thị trường chứng khoán Thâm Quyến tiếp tục giảm).
Mặc dù lác đác một vài cổ phiếu phục hồi vào đầu phiên giao dịch đầu tuần này (12/02), nhưng thị trường chứng khoán toàn cầu đã chứng kiến một tuần ảm đạm với mức điểm thấp hơn so với cuối năm 2017, mức giảm này đã khiến các nhà đầu tư rơi vào trạng thái hoảng loạn, sau khi thị trường chứng khoán Mỹ hưởng thụ một quãng thời gian tăng điểm đều đặn dài nhất trong lịch sử.
Trên thực tế, thị trường chứng khoán Mỹ bắt đầu phục hồi từ năm 2011, và năm 2017 liên tục lập kỷ lục mới. Kết quả giảm điểm nói trên cũng không nằm ngoài dự tính của nhiều nhà đầu tư, khi giá cổ phiếu đã đạt đến giới hạn hợp lý, và các đợt điều chỉnh sẽ diễn ra thường xuyên hơn.
Yếu tố cơ bản chi phối thị trường chứng khoán Mỹ là, dữ liệu việc làm lạc quan hơn so với dự báo của Bộ Lao động Mỹ. Trong đó, tiền lương tại Mỹ trong tháng 01/2018 tăng tới 2,9% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất kể từ năm 2009. Tiền lương tăng nhanh có thể đẩy lạm phát tăng theo, buộc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) phải rút ngắn lộ trình tăng lãi suất. Triển vọng lạc quan về tình hình kinh tế Mỹ cũng hỗ trợ tăng lợi suất trái phiếu chính phủ, thu hút dòng tiền từ cổ phiếu các loại. Áp lực bán tháo cổ phiếu trong tuần này cũng đến từ thị trường trái phiếu kho bạc Mỹ, khi mức lợi suất tăng lên mức cao nhất trong 4 năm qua. Trong phiên giao dịch cuối tuần, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chốt ở mức 2,885%, gần bằng mức lợi suất mở cửa đầu tuần, vượt qua mức lợi tức cổ phần 2,34% của S&P 500, do giá trái phiếu tăng lên vào thời điểm đà bán tháo cổ phiếu đạt mức tăng cao nhất. Những luồng thông tin này đã khiến các chỉ số chứng khoán Mỹ chìm sâu trong sắc đỏ, gây tác động lan truyền sang các thị trường chứng khoán toàn cầu.
Lợi suất trái phiếu tăng cao cũng phần nào hỗ trợ USD tăng giá, chỉ số USD tại Phố Wall đứng ở mức 84,2 điểm (tăng 1,4%) so với sáu đồng tiền chủ chốt, riêng Euro giảm 1,8% xuống 1,2247 USD. Hầu hết các đồng tiền chủ chốt và nhiều đồng bản tệ của các nước mới nổi cũng trượt dốc, khiến các nhà đầu tư đổ xô vào yên Nhật và Frank Thụy Sỹ - vốn được coi là hai đồng tiền an toàn nhất vào thời điểm này, và tỷ trọng trong danh mục ngoại hối còn khá khiêm tốn so với USD.
USD tăng giá cũng khiến giá các hàng hóa cơ bản đều giảm. Trong đó, giá dầu WTI giảm tới 10% xuống 59,05 USD/thùng; giá dầu thô Brent giảm gần 9% xuống 62,71 USD/thùng, giá vàng giảm 0,3% xuống 1.318,10 USD/oz.
USD tăng giá cũng bắt nguồn từ thực tế là, các quan chức chính phủ Mỹ không muốn USD tiếp tục giảm sâu, khi đồng tiền này đã giảm tới 10% trong năm 2017 và 3,5% trong tháng 01 vừa qua. Vì thế, tân Chủ tịch Fed - Jerome Powell sẽ phải tập trung mọi nỗ lực để củng cố vị thế của USD.
Thị trường chứng khoán toàn cầu lao dốc cũng bắt nguồn từ lo ngại, các ngân hàng trung ương (NHTW) sẽ quyết liệt áp dụng các biện pháp tăng cường quản lý tiền tệ và nhanh chóng đưa chính sách tiền tệ trở lại trạng thái bình thường sau thời gian dài nới lỏng quá mức. Trên thực tế, các gói kích thích tiền tệ đã khuyến khích các doanh nghiệp tập trung vào nỗ lực tăng giá cổ phiếu hơn là vì sự phồn vinh lâu dài của các cổ đông. Mặc dù đã hạn chế chi tiêu mua sắm trang thiết bị sản xuất, cho dù chi phí vay vốn giảm xuống mức thấp trong 5.000 năm qua và lợi nhuận cận biên tăng cao, các doanh nghiệp vẫn có thiên hướng tăng cường vay nợ để trang trải mua sắm trang thiết bị và mua lại trái phiếu đã phát hành. Các doanh nghiệp lựa chọn nâng đòn bẩy bảng cân đối kế toán nhằm hỗ trợ tăng giá cổ phiếu, hơn là tăng lương và mở rộng đầu tư phát triển cho tương lai. Các NHTW cũng cần thực hiện các biện pháp hỗ trợ lạm phát, đảm bảo mức lợi nhuận cần thiết để khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất - kinh doanh thực, qua đó có thể phần nào khắc phục được xu hướng năng suất tăng chậm trong tương lai.
Hoàng Thế Thỏa (Nguồn: Reuters, WS. Journal)