Loading...
Skip to content
Sáp nhập và mua lại, một xu hướng cần lưu ý trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (Số 18/2007)
Cỡ chữ: A-A+ | Tương phản | 

ThS. Đào Anh Tuấn

Được đánh giá là đất nước có nền kinh tế phát triển nhanh, nền chính trị ổn định, Việt Nam trở thành điểm thu hút đầu tư hấp dẫn và được trông đợi sẽ là con rồng Châu á trong tương lai. Chính vì thế, hoạt động mua bán và sáp nhập công t
y (Merger & Acquisition - M&A) ở Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn và hứa hẹn sẽ gia tăng nhanh chóng trong những năm tới. Bài viết dưới đây đề cập đến cách tiếp cận đối với khái niệm sáp nhập và mua lại đồng thời nêu ra các khía cạnh cần lưu ý khi thực hiện các hoạt động M&A tại Việt Nam.

1. Cách tiếp cận 2 thuật ngữ sáp nhập và mua lại - Mergers and Acquisitions (M&A)
Quản trị sáp nhập - Mergers và mua lại - Acquisitions (M&A) là quá trình định hướng các thay đổi đồng bộ diễn ra trước và sau khi hai công ty được kết hợp thành một tổ chức duy nhất.
Sáp nhập là hình thức kết hợp mà hai hay nhiều tổ chức, thường có cùng quy mô, thống nhất sẽ cùng tham gia hợp nhất với nhau để trở thành một tổ chức mới. Mua lại (thâu tóm) là hình thức kết hợp mà một công ty mua lại toàn bộ hoặc phần lớn công ty kia.
Sáp nhập thường được chia thành 3 loại: sáp nhập theo chiều ngang (Horizontal), sáp nhập theo chiều dọc (Vertical), sáp nhập theo kiểu hỗn hợp (Conglomerate).
- Sáp nhập theo chiều ngang: Sáp nhập giữa các công ty cùng một lĩnh vực kinh doanh, từ đó tạo ra một hãng có sức cạnh tranh cao, giảm thiểu đối thủ cạnh tranh, tiết kiệm chi phí do quy mô (Economies of Scale). Có thể lấy ví dụ trường hợp sáp nhập giữa JPMorgan và BankOne trong lĩnh vực tài chính, hay thương vụ sáp nhập lớn nhất trong lĩnh vực ngân hàng từ trước đến nay giữa hai ngân hàng Algemene Bank Nederland (ABN) và Amsterdamsche-Rotterdamsche Bank (AMRO).
- Sáp nhập theo chiều dọc: Sáp nhập giữa các công ty cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng khác nhau về phân khúc thị trường như Walt Disney với ABC Television Sự sáp nhập này sẽ tạo ra giá trị thông qua tận dụng kinh nghiệm và khả năng của các công ty trong một chuỗi (Supply chain) nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng.
- Sáp nhập theo kiểu hỗn hợp: Sáp nhập giữa các công ty khác nhau hoàn toàn về lĩnh vực kinh doanh, từ đó tạo ra các tập đoàn lớn hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực như Deawoo. Hình thức này không còn mấy phổ biến trong 10 năm trở lại đây.
Một hoạt động mua, bán doanh nghiệp khác là doanh nghiệp bán một phần hoạt động của mình, như trường hợp IBM bán nhánh PC cho Lenovo với giá 1,25 tỷ đô la. Hoạt động này tồn tại hai hình thức là Spin-off và Carve-out.
- Spin-off: Công ty tách một phần hoạt động của mình thành lập công ty mới độc lập. Cổ phần của công ty mới được chia cho các cổ đông hiện hữu của công ty.
- Carve-out: Công ty tách một phần hoạt động của mình thành lập công ty mới và bán cổ phần công ty mới ra công chúng.
Đây là hoạt động tái cơ cấu lại doanh nghiệp, cắt bỏ những phần hoạt động không hiệu quả (underperforming) hoặc những phần không kiểm soát được nhằm mục đích tăng hiệu quả hoạt động của công ty.
Nguyên tắc cơ bản đằng sau việc quyết định mua lại hay sáp nhập với một công ty khác là phải tạo ra được giá trị cho cổ đông bao trùm và lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai công ty khi còn đứng riêng rẽ - người ta coi đây là nguyên nhân căn bản để tiến hành M&A. Vào những thời điểm cần ra quyết định, nguyên tắc kể trên càng có ý nghĩa quan trọng. Những công ty mạnh mua lại công ty khác nhằm tạo ra một công ty mới với năng lực cạnh tranh cao hơn, đạt hiệu quả về chi phí, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, đạt hiệu quả vận hành cao - những điều này tạo thành lợi ích kỳ vọng thuyết phục các doanh nghiệp khác chấp nhận để mình bị mua lại.
Cách tiếp cận M&A tốt nhất là chia thành nhiều giai đoạn: quá trình cấu trúc (lập kế hoạch mở rộng chiến lược- Spanning strategic planning); chuẩn bị tài liệu quan trọng (Due diligence), thiết lập cấu trúc thương vụ (Deal structuring), định giá giao dịch (Transaction pricing), và tích hợp tổ chức (Integration).

2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động M&A tại Việt Nam
Đối với hoạt động M&A ở Việt Nam, trong Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2005, Điều 107 và 108 đã định nghĩa cụ thể về khái niệm sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp. Tại đây, Hợp nhất doanh nghiệp được định nghĩa là “Hai hay một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất”. Còn Sáp nhập được định nghĩa là “Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”.
Bên cạnh Luật Doanh nghiệp, cơ sở pháp lý cho hoạt động M&A tại Việt Nam còn được thể hiện trong Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật cạnh tranh… và các thông tư, nghị định hướng dẫn khác. Khi tiến hành các hoạt động M&A tại Việt Nam, các tổ chức thực hiện cần lưu ý các khía cạnh sau:
Thứ nhất, về các hình thức giao dịch: Cách thông thường nhất của hoạt động mua bán công ty là mua (nhận chuyển nhượng) phần vốn góp trong một công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hoặc cổ phần trong công ty cổ phần (CTCP), hay đóng góp thêm vốn hoặc mua cổ phần phát hành thêm của công ty định đầu tư (Target Company). Công ty TNHH và CTCP là hai loại hình doanh nghiệp chính trong Luật Doanh nghiệp (LDN), áp dụng cho doanh nghiệp trong nước và cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIE). Các hình thức giao dịch khác được quy định trong LDN bao gồm sáp nhập, hợp nhất, chia và tách doanh nghiệp, nhưng các hình thức này thường được sử dụng trong việc tổ chức lại công ty. Hình thức bán tài sản cũng có thể được áp dụng, tuy nhiên hầu hết được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về hợp đồng, còn LDN gần như không đề cập gì đến vấn đề này.
Đối với hoạt động mua bán cổ phần trong doanh nghiệp FIE tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư lần đầu có thể xem xét việc mua cổ phần của công ty nước ngoài đang nắm giữ cổ phần trong doanh nghiệp FIE tại Việt Nam. Do đây sẽ là một giao dịch diễn ra ở nước ngoài nên nó sẽ không cần phải được phê duyệt hay đăng ký tại Việt Nam, ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp FIE đang được xem xét đó thay đổi tên công ty do kết quả của hoạt động mua bán cổ phần.
Thứ hai, về việc đăng ký của các doanh nghiệp FIE: Theo quy định của LDN và Luật Đầu tư (LĐT) năm 2005 và các quy định hướng dẫn thi hành, các doanh nghiệp FIE đã thành lập theo luật cũ được quyền lựa chọn đăng ký lại theo quy định của luật mới cho đến ngày 01/07/2008. Nếu không, sẽ phải tiếp tục hoạt động theo giấp phép đầu tư đã cấp cho đến khi kết thúc thời hạn của dự án. Các doanh nghiệp FIE sẽ đăng ký lại theo hình thức pháp lý tương ứng theo quy định của LDN, bao gồm hình thức công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên và CTCP, trừ phi doanh nghiệp muốn thực hiện việc chuyển đổi hình thức pháp lý doanh nghiệp. Cùng với việc đăng ký lại, các doanh nghiệp FIE có thể thực hiện việc chuyển đổi hình thức giữa công ty TNHH và CTCP, phụ thuộc vào số lượng các nhà đầu tư. Việc chuyển đổi về cơ bản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lại doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động M&A sau này.
Thứ ba, về việc nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các công ty trong nước: Việc đầu tư vốn tư nhân bởi các nhà đầu tư nước ngoài vào các công ty trong nước đã được cho phép từ năm 2000. Các công ty trong nước ở đây bao gồm các công ty được thành lập bởi các nhà đầu tư trong nước và các DNNN cổ phần hóa. Tỷ lệ sở hữu vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong các công ty trong nước bị hạn chế bởi các giới hạn sau đây:
- Đối với các công ty chưa niêm yết, theo Quyết định số 36/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 11/03/2003, các nhà đầu tư nước ngoài có thể mua và nắm giữ cổ phần trong các công ty trong nước nhưng không được vượt quá 30% vốn điều lệ, tuy nhiên điều này chỉ được phép đối với một số lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh nhất định.
- Đối với các công ty đã niêm yết, mức nắm giữ tối đa của các nhà đầu tư nước ngoài là 49% theo Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/09/2005, trừ lĩnh vực ngân hàng.
- Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam (Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20/04/2007).
Cần lưu ý rằng Quyết định số 36 được ban hành trên cơ sở các luật cũ mà hiện đã được thay thế bởi LDN và LĐT 2005 có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Quyết định này sẽ được thay thế bởi một nghị định của Chính phủ, phù hợp với các cam kết của Việt Nam với WTO. Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài được phép góp vốn hoặc mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam với hạn mức chung không vượt quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp trong năm đầu tiên sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, rất tiếc là nghị định này hiện vẫn chưa được ban hành dù một vài dự thảo đã được soạn lập và lấy ý kiến. Do vậy, Quyết định 36 trong thực tế vẫn được áp dụng bởi các cơ quan nhà nước trong nhiều trường hợp. Chính do sự thiếu hụt cơ sở pháp lý này, nhiều giao dịch M&A kể từ cuối năm 2006 liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài đã bị ách tắc ở khâu đăng ký và thủ tục xin phê duyệt trong thời gian chờ nghị định mới hướng dẫn.
Thứ tư, về thủ tục cho phép và chấp thuận: Nhìn chung, các giao dịch M&A phải tiến hành việc đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Đối với các công ty TNHH, mọi giao dịch về vốn góp phải được đăng ký tại Cơ quan Đăng ký Kinh doanh để ghi nhận việc thay đổi nhà đầu tư hoặc thành viên công ty. Các giao dịch của công ty cổ phần thì thuận tiện hơn, việc đăng ký chỉ yêu cầu trong một số trường hợp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng nếu nhà đầu tư nắm giữ từ 5% tổng số cổ phần của công ty trở lên, thì phải tiến hành việc báo cáo và đăng ký tại Cơ quan Đăng ký Kinh doanh. Đối với các công ty đại chúng và các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, phải công bố và thông báo theo yêu cầu của Luật Chứng Khoán cho các giao dịch M&A. Các doanh nghiệp FIE không tiến hành việc đăng ký lại theo quy định của luật mới thì việc chuyển nhượng vốn pháp định hoặc cổ phần phải được sự chấp thuận của Cơ quan đã cấp giấy phép đầu tư cho doanh nghiệp. Về hình thức pháp lý, các doanh nghiệp FIE này sẽ vẫn là công ty TNHH.
Các nhà đầu tư cũng cần chú ý đến quy định về chống độc quyền theo quy định Luật Cạnh tranh có hiệu lực vào ngày 01/07/2005, có liên quan đến các giao dịch M&A. Luật này quy định một số điều cấm liên quan đến tập trung kinh tế do kết quả của hoạt động M&A giữa các doanh nghiệp.
Thứ năm, về thuế và các vấn đề lao động: Theo quy định hiện nay, mức thuế thu nhập doanh nghiệp 28% sẽ được áp dụng đối với lợi nhuận (so với giá trị ban đầu) thu được từ việc chuyển nhượng vốn góp hoặc cổ phần trong một doanh nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, các đối tượng là cá nhân hiện nay được miễn thuế đến khi Luật Thuế thu nhập Cá nhân mới dự kiến sẽ có hiệu lực vào năm 2009.
Bộ luật Lao động chỉ có một điều khoản quy định về việc chuyển giao người lao động liên quan đến các giao dịch M&A. Điều này khá hạn chế dưới góc độ của người sử dụng lao động. Nói rộng hơn, theo đánh giá của nhiều nhà đầu tư nước ngoài, luật lao động của Việt Nam quá thiên về người lao động và vì vậy gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam.

3. Sáp nhập và mua lại - nhu cầu thực tế hay là “mốt”?
Theo thống kê của công ty phân tích các dữ liệu tài chính Dealogic, đến thời điểm giữa năm 2005, trị giá các cuộc sáp nhập trên toàn cầu đã lên tới 1.970 tỷ USD, tăng 41% so với cùng kỳ năm ngoái, theo đó, châu Âu qua mặt Mỹ về giá trị các cuộc sáp nhập với giá trị ước khoảng 281 tỷ USD (con số này ở Mỹ là 190,5 tỷ USD). Theo thống kê của Dealogic, tình hình sáp nhập và mua lại các tập đoàn đa quốc gia diễn ra ở hầu hết mọi lĩnh vực: công nghiệp, tài chính, viễn thông, sản xuất hàng tiêu dùng (ôtô, sản phẩm giải trí, điện thoại...). Thế giới từng chứng kiến một số sự kiện M&A đáng chú ý như vụ Tập đoàn Procter& Gamble mua lại Gillette, Tập đoàn bảo hiểm y tế WellPoint mua lại WellChoice, Tập đoàn Symantec và Tập đoàn Veritas Software sáp nhập với nhau, hay gần đây nhất, Tập đoàn dầu khí Nga, Gazprom, mua lại cổ phần của công ty dầu Sibneft, ngân hàng UFJ Holdings Inc sáp nhập với Tập đoàn tài chính Tokyo Mitsubishi.
Các vụ sáp nhập của những “người khổng lồ” như hiệu ứng domino lan đến các công ty vừa và nhỏ, khiến cho họ cũng tham gia sôi nổi và mạnh mẽ vào quá trình này mà kết quả là làn sóng sáp nhập dâng cao đột biến. Những vụ sáp nhập giữa các công ty nhỏ chiếm tới 1/4 tổng số các vụ sáp nhập trên toàn thế giới, kết quả là tạo ra những công ty lớn hơn, qua đó, tăng cường sức cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia. Theo ước tính, những vụ sáp nhập như vậy có thể dẫn tới sự ra đời của các tập đoàn mạnh với số vốn trên 1 tỷ USD.
Không phải vô cớ mà làn sóng sáp nhập tăng cao. Các công ty đều nhận thức rõ ích lợi từ việc sáp nhập, trong đó yếu tố mở rộng thị trường và tăng cường năng lực quản lý là quan trọng nhất. Theo các chuyên gia kinh tế thì sáp nhập luôn là một trong những giải pháp hữu hiệu cho việc tổ chức lại công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Về nguyên tắc, khi sáp nhập, giá trị của công ty hợp nhất bao giờ cũng phải lớn hơn giá trị của mỗi công ty riêng lẻ cộng lại thì vụ việc mới được xem xét, tiến hành (1+1>2) và sau khi sáp nhập, cả doanh thu và lợi nhuận đều phải tăng. Từ các công ty nhỏ lẻ kết hợp lại thành một công ty có quy mô lớn nên khả năng bị triệt tiêu trên thương trường rất khó xảy ra; đồng thời các công ty cũng có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu về nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, giảm bớt rủi ro trong kinh doanh, tiết kiệm được chi phí cố định (quản lý, điều hành, quảng cáo, văn phòng, tiếp thị...), tiết kiệm được chi phí đào tạo do sắp xếp, bố trí hợp lý hơn nguồn nhân lực, tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm, tăng vốn đầu tư, có cơ hội mở rộng ngành nghề kinh doanh...
Có thể khẳng định rằng các vụ sáp nhập luôn tạo ra những lợi ích đáng kể cho các công ty, khách hàng và đối tác kinh doanh, cụ thể là:
Mở rộng: Sáp nhập sẽ giúp mở rộng các dịch vụ và loại hình kinh doanh cho bất kỳ cấp độ nào của công ty. Những mặt mạnh của các bên giờ đây sẽ hợp chung thành những thế mạnh của công ty hợp nhất.
Chuyên sâu: Sự kết hợp của công nghệ và chuyên môn giữa các công ty sẽ tạo ra những tập đoàn mới có tính chuyên sâu, cung cấp những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn, hiện đại và tiên tiến hơn.
Vươn tới toàn cầu: Thông qua sáp nhập, các công ty tận dụng được lợi thế thị trường và kênh phân phối của nhau, qua đó hệ thống bán hàng và dịch vụ sẽ được mở rộng, các kênh phân phối được nối dài tới hàng triệu người tiêu dùng và khách hàng là các công ty nhỏ, vừa và lớn trên toàn thế giới.
Làn sóng sáp nhập của ngành công nghiệp này cũng sẽ ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp khác, chẳng hạn như các công ty truyền thông sáp nhập với nhau khiến các công ty thiết bị viễn thông không thể không quan tâm. Thời gian qua, theo tính toán của Bloomberg thì cứ 5 vụ sáp nhập giữa các công ty truyền thông sẽ có 2 vụ sáp nhập giữa các công ty thiết bị viễn thông. Hay khi các công ty điện thoại chuyển sang hỗ trợ video thì làn sóng sáp nhập cũng gia tăng bởi các công ty này cần phải hợp tác chặt chẽ hơn để tạo ra nhiều cơ hội bán hàng cho nhau.
Yếu tố chính cho sự thành công hay thất bại của M&A là sự tương thích của kế hoạch hòa nhập giữa các bên sau khi quá trình mua bán, sáp nhập diễn ra. Kế hoạch này cần phải giải quyết tổng thể các vấn đề về nhân sự, đãi ngộ, quan hệ với nhà đầu tư, tích hợp hoạt động, bán và thanh lý tài sản, phản ứng của các đối thủ cạnh tranh, quan hệ và giao tiếp giữa các bộ phận và công ty thành viên, kế hoạch dự phòng..., đặc biệt, yếu tố quản lý và điều hành sao cho hiệu quả phải được coi là một công tác quan trọng thời hậu sáp nhập.
Làn sóng sáp nhập đã và đang tác động rõ rệt tới lợi nhuận của các ngân hàng đầu tư, trong đó phải kể đến Tập đoàn ngân hàng Goldman Sachs. Lợi nhuận của Ngân hàng Goldman Sachs lần đầu tiên tăng đến 84%, một con số khó tin. Các nhà quản lý của Goldman nói rằng sự tăng trưởng này (559 triệu USD) phần lớn nhờ vào chi phí tư vấn sáp nhập của các công ty, khi ngân hàng này được coi là sự lựa chọn số một của các công ty châu Âu và Mỹ trong quá trình sáp nhập. Đứng thứ hai trong danh sách các nhà tư vấn sáp nhập hàng đầu thế giới là Ngân hàng Morgan Stanley, còn Deutsche Bank chiếm vị trí thứ ba.
Hoạt động tư vấn sáp nhập cũng giúp nhiều chuyên gia tư vấn thu về những khoản thù lao không nhỏ. Một số ngân hàng cho biết, các nhân viên tư vấn sáp nhập trong thời gian ngắn có thể kiếm được khoản tiền nhiều gấp 3 - 4 lần so với mức lương một năm, nếu họ giữ vai trò cố vấn chính cho các vụ sáp nhập lớn trị giá nhiều triệu USD. Còn theo thống kê của Công ty tư vấn nhân sự Anh, Morgan McKinley, cứ bốn chuyên gia ngân hàng tại Mỹ và châu Âu thì sẽ có một người có mức thu nhập tăng gấp đôi nhờ sự nở rộ của các hoạt động sáp nhập trong năm qua.
Những lợi ích thì đã rõ, nhưng kèm theo đó là rất nhiều khó khăn phát sinh trước khi có một cuộc sáp nhập thành công thực sự. Các công ty không thể tránh khỏi việc phải đối mặt với những vấn đề khá phức tạp như độc quyền, thuế, kế toán, chuyển đổi tài sản, phân chia lợi nhuận, trách nhiệm giải quyết các khoản nợ chưa thanh toán của mỗi công ty, giải quyết lao động dôi dư, môi trường văn hóa công ty, trách nhiệm bảo vệ môi trường, tính toán các vấn đề hậu sáp nhập làm sao cho giá trị công ty ngày càng tăng để hấp dẫn các nhà đầu tư. Những rắc rối này đôi khi đòi hỏi các công ty phải biết từ bỏ một phần lợi ích riêng để cùng đạt được mục đích chung.
Khi thực hiện một cuộc sáp nhập, trong nhiều trường hợp, ban lãnh đạo công ty cần có sự thống nhất và thông qua của các cổ đông. Thủ tục này phải được tiến hành nếu Điều lệ công ty quy định hay do Hội đồng quản trị yêu cầu, xuất phát từ khả năng có thể gây ảnh hưởng đến lợi nhuận từ cổ phiếu của các cổ đông, về giá trị hay mức cổ tức. Nếu công ty đang làm ăn thua lỗ, thì giá cổ phiếu sẽ tăng khi có tin sáp nhập; nhưng ngược lại, đối với công ty đang làm ăn có lãi, thì mọi sự dường như không mấy thuận lợi bởi cổ phiếu có thể mất giá do tâm lý lo ngại và thắc mắc của các nhà đầu tư: tại sao khi đang làm ăn có lãi, công ty lại phải sáp nhập với một công ty khác?
Thương vụ M&A thành công đòi hỏi quá trình lập kế hoạch phải được kiểm soát và quản lý hiệu quả, bao gồm: phát triển chiến lược, phân tích tài chính chặt chẽ, kết hợp văn hóa tinh tế, tầm nhìn lãnh đạo bao quát, và chương trình quản lý toàn diện sau khi sáp nhập (xử lý các vấn đề về quan hệ, độ tin cậy của đội ngũ quản lý, tích hợp cơ cấu tổ chức và tốc độ chuyển động). Bởi vậy, phát triển tối đa ý đồ về thương vụ, xác định chính xác đối tác chiến lược, đặt ra tiêu chuẩn cao hơn cho giá trị tạo ra, hạ thấp tỷ lệ mất lòng tin của người lao động, sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn và thời gian, và kết hợp quá trình và cơ cấu hoạt động tối ưu là các điểm được đặt biệt chú ý.

Kết luận
Cần nhấn mạnh rằng hoạt động M&A sẽ phát triển nhanh chóng thời gian sắp tới. Các giao dịch M&A cũng sẽ là sự lựa chọn tốt cho nhà đầu tư nước ngoài, khi Việt Nam đã bắt đầu mở cửa các lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng và tài chính, viễn thông cho nhà đầu tư nước ngoài. Tiếp tục phát triển nền kinh tế, đặc biệt là sự trỗi dậy của khu vực tư nhân và sự phát triển của thị trường vốn và tài chính, là các yếu tố tạo động lực cho việc gia tăng hoạt động M&A tại Việt Nam, bao gồm cả giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các công ty trong nước cũng như các giao dịch M&A nội địa giữa các doanh nghiệp Việt Nam

Tài liệu tham khảo:
1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật chứng khoán... và các thông tư hướng dẫn
2.http://www.investopedia.com/university/mergers/mergers1.asp
3.htp://ocw.mit.edu/OcwWeb/Sloan-School-of-Management/15-649The-Law-of-Mergers-and-AcquisitionsSpring2003/ CourseHome/index.htm
4. Sát nhập thương hiệu: www.lantabrand.com
5. Nguyễn Thị Thủy. Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Mua lại và sáp nhập: có thể là hình cho các công ty Việt Nam muốn đầu tư ra nước ngoài?

3990 lượt xem
Tạp chí Ngân hàng - 55 năm xây dựng và phát triển (Số 18/2007)
Lạm phát và tiền tệ: Một số quan niệm sai lầm (Số 17/2007)
Quan niệm thế nào về tiền lương tối thiểu? (Số 16/2007)
Lịch sử “cha, con” và tầm nhìn thời đại (Số 16/2007)
Nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc có phải là hình thức nghịch lý (Số 14/2007)
Toàn cầu hoá tài chính: cách tiếp cận mới (Số 13/2007)
Người lao động trong tiến trình cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước (Số 13/2007)
Xung quanh chuyện hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán 3% (Số 12/2007)
Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Số 11/2007)
Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong bối cảnh phát triển thị trường chứng khoán (Số 11/2007)
© Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Địa chỉ : Số 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà NộiThường trực Ban biên tập : (84 - 243) 266.9435Email : thuongtrucweb@sbv.gov.vnRSS