Skip to content
Chính sách tín dụng ngân hàng cho phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết XII của Đảng (số 21)
Cỡ chữ: A-A+ | Tương phản | 

Chính sách tín dụng ngân hàng cho phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết XII của Đảng

ThS. Hà Mạnh Hùng1

ThS. Nguyễn Thế Anh2

 

Đặt vấn đề

Kinh tế tư nhân đã được đề cập trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng, đồng thời hoạt đông tín dụng ngân hàng cũng đang chuyển động mạnh mẽ sang mở rộng cho vay kinh tế tư nhân. Gần đây nhất, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4, khóa XII, tiếp tục xác định rõ việc phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế nước ta hiện nay cũng như các năm tới, nhất là trong điều kiện ngày càng hội nhập sâu rộng vào cộng đồng kinh tế quốc tế. Đây là cũng là điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng, nhưng cũng đòi hỏi chính sách tín dụng, hoạt động cho vay phải không ngừng hoàn thiện, đổi mới, đảm bảo thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng.

 

Nội dung nghiên cứu

Hoàn thiện cơ chế chính sách về cho vay vốn đối với kinh tế tư nhân

Trong các cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi cho phát triển mạnh kinh tế tư nhân được Văn kiện Đại hội XII đề cập, thì chính sách tín dụng ngân hàng có vị trí quan trọng hàng đầu. Bởi vì để phát triển sản xuất kinh doanh nói chung, phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân nói riêng thì cần phải có vốn. Song trong điều kiện vốn đầu tư của ngân sách nhà nước phải ưu tiên cho các lĩnh vực khác, vốn tự có của kinh tế tư nhân có hạn, thì phải chủ yếu dựa vào vốn tín dụng ngân hàng.

Trong thời gian gần đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách về tiền tệ, ngân hàng, tạo thuận lợi cho khách hàng nói chung, kinh tế tư nhân nói riêng tiếp cận vốn vay. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, ngày 30/12/2016, NHNN Việt Nam đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và Thông tư số 43/2016/TT-NHNN quy định cho vay tiêu dùng của công ty tài chính. Hai Thông tư này được ban hành tạo lập khuôn khổ pháp lý mới về cho vay vốn, theo hướng hoàn thiện chính sách tín dụng, không phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình cá nhân, tất cả đều bình đẳng trong quan hệ tín dụng với ngân hàng. Đặc biệt là Thông tư số 39/2016/TT-NHNN đã đơn giản hóa một số hồ sơ, thủ tục cho vay; bổ sung nhiều quy định để đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động cho vay, bảo vệ quyền lợi của người vay; nâng cao tính tự chủ trong hoạt động cho vay của TCTD, đồng thời nâng cao yêu cầu minh bạch hóa, bảo đảm an toàn cho hoạt động cho vay của TCTD đối với kinh tế tư nhân.

Theo quy định khách hàng vay vốn tại TCTD là pháp nhân, cá nhân, không có sự phân biệt doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tư nhân. Về lãi suất, TCTD và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp cho vay ngắn hạn bằng Đồng Việt Nam thì lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do NHNN quyết định trong từng thời kỳ, nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn. Như vậy, quy định về trần lãi suất chỉ áp dụng đối với trường hợp cho vay ngắn hạn bằng nội tệ thuộc các lĩnh vực ưu tiên. Ngân hàng và kinh tế tư nhân bình đẳng, tự thỏa thuận về lãi suất vay vốn. Về thời hạn cho vay, giữa hai bên ngân hàng và kinh tế tư nhân cũng bình đẳng, tự thỏa thuận, thống nhất.

Chính sách cho vay mới cũng yêu cầu ngân hàng cho vay phải niêm yết công khai hợp đồng tín dụng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung về cho vay tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của TCTD; Cung cấp đầy đủ thông tin về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung cho khách hàng, kinh tế tư nhân biết trước khi ký kết thỏa thuận cho vay và có xác nhận của khách hàng về việc đã được TCTD cung cấp đầy đủ thông tin.

Hai chính sách nói trên cũng có các quy định về đơn giản hóa thủ tục cho vay, đảm bảo minh bạch trong hoạt động cho vay, bảo vệ quyền lợi của khách hàng vay, của kinh tế tư nhân, như: bỏ giấy đề nghị vay vốn tại hồ sơ đề nghị vay vốn; đơn giản hóa yêu cầu về phương án sử dụng vốn trong cho vay phục vụ đời sống... Ngân hàng có trách nhiệm cung cấp cho khách hàng, kinh tế tư nhân đầy đủ các thông tin trước khi xác lập thỏa thuận cho vay như: Lãi suất cho vay; nguyên tắc và các yếu tố xác định, thời điểm xác định lãi suất cho vay đối với trường hợp áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; phương pháp tính lãi tiền vay; loại phí và mức phí áp dụng đối với khoản vay; các tiêu chí xác định khách hàng, kinh tế tư nhân vay vốn theo lãi suất cho vay.

Thỏa thuận cho vay giữa ngân hàng và kinh tế tư nhân phải có nội dung thỏa thuận về mức lãi suất cho vay và phương pháp tính lãi đối với khoản vay. Trường hợp mức lãi suất cho vay không quy đổi theo tỷ lệ %/năm và/hoặc không áp dụng phương pháp tính lãi theo số dư nợ cho vay thực tế, thời gian duy trì số dư nợ gốc thực tế đó, thì trong thỏa thuận cho vay phải có nội dung về mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ %/năm tính theo số dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó.

Chính sách mới cũng không giới hạn mục đích vay vốn của khách hàng, của kinh tế tư nhân như quy chế cũ mà chia nhu cầu vay vốn thành 2 nhóm: (i) Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống; và (ii) Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác, trừ những nhu cầu vốn không được cho vay.

Về phương thức cho vay, chính sách mới đã bổ sung một số phương thức cho vay đối với khách hàng, đối với kinh tế tư nhân cho phù hợp với thực tế hoạt động tín dụng, như cho vay quay vòng, cho vay tuần hoàn, cho vay lưu vụ; đồng thời cũng chỉnh sửa quy định về một số phương thức cho vay cho phù hợp với nhu cầu quản lý nhà nước: như cho vay thấu chi tài khoản thanh toán để thực hiện các dịch vụ thanh toán trên tài khoản; bổ sung thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng (không quá 1 năm) đối với phương thức cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng...

 

Triển khai cơ chế chính sách mới thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân nói chung và lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn nói riêng

Ngày 24/4/2017, NHNN Việt Nam đã có Quyết định số 813/QĐ-NHNN, về chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, theo Nghị quyết 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ. Theo quy định của chính sách tín dụng này, đối tượng áp dụng bao gồm pháp nhân và cá nhân có nhu cầu vay vốn để thực hiện dự án, phương án sản xuất, kinh doanh nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo tiêu chí xác định chương trình, dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, quy định tại Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN ngày 14/3/2017, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chính sách này cũng quy định rõ về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và cho vay mới. Theo đó, khách hàng, kinh tế tư nhân khó khăn trong việc trả nợ vay do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng được NHTM chủ động xem xét: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ để phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng. Khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ, NHTM cho vay được giữ nguyên nhóm nợ 01 lần đối với một khoản nợ; Cho vay mới để phục hồi sản xuất – kinh doanh đối với khách hàng, kinh tế tư nhân có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh khả thi.

Trong quá trình thảo luận dự thảo Văn kiện Đại hội và trước khi diễn ra Đại hội Đảng XII, ngành Ngân hàng đã chủ động trình Chính phủ hoàn thiện và ban hàng mới một số chính sách tín dụng phát triển kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân nói chung và phát triển kinh tế tư nhân đối với nông nghiệp, nông thôn
nói riêng.

Ngày 09/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/NĐ-CP, về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/7/2015, thay thế Nghị định số 41/NĐ-CP ngày 12/4/2010. Đây là lĩnh vực chủ yếu do kinh tế tư nhân thực hiện.

Chính sách mới không phân biệt doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tư nhân; đồng thời đã bổ sung đối tượng được vay vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, bao gồm cả những cá nhân, hộ gia đình sinh sống trên địa bàn thành phố, thị xã nhưng tham gia sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và đối tượng khách hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng nằm ngoài khu vực
nông thôn.

 Mức cho vay không có tài sản bảo đảm tăng gấp 1,5-2 lần so với qui định tại Nghị định 41. Cụ thể là, mức cho vay không có tài sản đảm bảo tối đa là 100 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình; tối đa 300 triệu đồng đối với hộ kinh doanh; tối đa 1 tỷ đồng đối với hợp tác xã, chủ trang trại. Ngoài ra, bổ sung thêm hai nhóm đối tượng được vay vốn không có tài sản bảo đảm. Bao gồm: các hợp tác xã nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, cung cấp dịch vụ phục vụ khai thác hải sản xa bờ, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp được vay tối đa 2 tỉ đồng; các liên hiệp hợp tác xã nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, cung cấp dịch vụ khai thác hải sản xa bờ được vay tối đa 3 tỉ đồng.

Cũng theo quy định trong chính sách tín dụng mới, các cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại TCTD không phải nộp lệ phí chứng thực hợp đồng thế chấp tài sản tại cơ quan thực hiện chứng thực hợp đồng, lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm.

Chính sách mới cũng qui định riêng về chính sách tín dụng khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao. Đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ký hợp đồng cung cấp, tiêu thụ đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, mức cho vay không có tài sản bảo đảm lên tới 70% giá trị dự án, phương án cho vay theo mô hình liên kết. Đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đầu mối ký hợp đồng thực hiện dự án liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp, mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản lên tới 80% giá trị của dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo mô hình liên kết.

Nhằm hạn chế rủi ro trong lĩnh vực nông nghiệp, chính sách mới cũng qui định cụ thể hơn về nguyên tắc, qui trình xử lý các khoản nợ vay gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng, hoặc do nguyên nhân khách quan bất khả kháng đối với khách hàng vay vốn; khuyến khích khách hàng vay vốn tham gia mua bảo hiểm trong nông nghiệp, thông qua qui định: tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay với mức tối thiểu 0,2%/năm so với lãi suất của những khoản cho vay cùng loại và có thời hạn tương ứng.

Về phía NHNN, đã ban hành Thông tư 10/2015/TT-NHNN ngày 22/7/2015, hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định 55/2015 nói trên, triển khai mạnh mẽ các chương trình tín dụng ưu đãi đối với kinh tế tư nhân thuộc một số ngành, lĩnh vực đặc thù, như: cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn; chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ; cho vay hỗ trợ ngư dân đóng tàu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP; cho vay tái canh cây cà phê; cho vay hỗ trợ nhà ở; chính sách hỗ trợ khắc phục thiên tai, ngập mặn, sự cố môi trường; Hỗ trợ tháo gỡ khó khăn đối với ngành chăn nuôi lợn,...

Về thủ tục vay vốn, ngành ngân hàng luôn quan tâm cải cách thủ tục hành chính để giảm thiểu phiền hà cho người dân, kinh tế tư nhân, đặc biệt trong tiếp cận vốn ngân hàng. Thời gian qua, ngành Ngân hàng cũng đã rà soát, cắt giảm, bãi bỏ nhiều thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, kinh tế tư nhân trong giao dịch hành chính với NHNN, TCTD. Các TCTD cũng tích cực đổi mới thủ tục giao dịch; công bố công khai trên Trang tin điện tử các thông tin về hồ sơ tín dụng, dịch vụ, lãi suất, phí dịch vụ; quy định tiêu chuẩn chất lượng đối với các dịch vụ; cắt bỏ nhiều loại phí cho vay không cần thiết. Quy trình sản phẩm dịch vụ cho khách hàng được cải tiến thuận tiện, nhanh gọn hơn thông qua việc ứng dụng công nghệ (Internet Banking, Mobile Banking,...). Theo thống kê, thời gian, số lần giao dịch, giấy tờ cần cung cấp của khách hàng đã giảm 20-40%; Một số quy trình, sản phẩm dịch vụ đã giảm 42% số lượng bản gốc mẫu biểu, giảm 45% số lượng chữ ký khách hàng và 48% số lượng chữ ký cán bộ ngân hàng trên hồ sơ; giảm 70-75% thời gian đăng ký do khách hàng thực hiện trực tuyến...

Để góp phần khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế nói chung, kinh tế tư nhân nói riêng, NHNN cũng đã trình Chính phủ và báo cáo Bộ Chính trị Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020. Một trong các giải pháp là trình Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/NQ-QH 14 về xử lý nợ xấu và đang trình Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD. Nghị quyết của Quốc hội tạo điều kiện xử lý triệt để các vướng mắc khó khăn về cơ sở pháp lý hiện hành liên quan đến xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm, các khoản nợ của các TCTD, tạo cơ chế xử lý đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, khả thi các khoản nợ xấu. Nhờ đó sẽ giải phóng khối lượng vốn lớn đang đọng lại trong các khoản nợ xấu cũng như giải phóng khối lượng tài sản thế chấp hiện nay chưa xử lý được, gây lãng phí nguồn lực xã hội, giúp các TCTD mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, cho phát triển kinh tế tư nhân, đồng thời, giảm được chi phí hoạt động để có điều kiện tiếp tục giảm lãi suất cho vay.

Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh triển khai có hiệu quả các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tập trung là kinh tế tư nhân trên cả nước với nhiều giải pháp hỗ trợ trực tiếp, như: tăng cường cho vay mới, cơ cấu lại nợ vay, giảm lãi suất cho vay, đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng, xây dựng các chương trình tín dụng cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp với lãi suất hợp lý, quy trình, thủ tục thuận tiện, minh bạch.

Những giải pháp mà ngành Ngân hàng đã và đang triển khai cho thấy ngành Ngân hàng luôn hoàn thiện cơ chế, chính sách, đặc biệt là chính sách tín dụng, nhằm khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển.

 

Kết quả triển khai các chính sách tín dụng đối với kinh tế tư nhân

Theo Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 20/9/2017, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế đạt 11,02% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ tăng 10,46%). Các TCTD tích cực triển khai thực hiện chính sách của NHNN về giảm lãi suất cho vay nói chung và giảm 0,5% lãi suất cho vay 5 đối tượng ưu tiên nói riêng, không phân biệt thành phần kinh tế. Ngày 7/7/2017, NHNN Việt Nam đã có các quyết định điều chỉnh giảm một số mức lãi suất điều hành và lãi suất cho vay lĩnh vực ưu tiên, có hiệu lực từ ngày 10/7/2017. Theo đó, NHNN quyết định giảm 0,25%/năm các mức lãi suất điều hành gồm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các TCTD; giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế.

Hiện nay vốn tín dụng cho kinh tế tư nhân chiếm gần 90% tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế. Trong đó, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm 19% tổng dư nợ cho vay. Vốn tín dụng ngân hàng thúc đẩy phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp tư nhân, kể cả doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp liên doanh, công ty cổ phần, hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề.

Trong điều hành chính sách tiền tệ, NHNN thực hiện định hướng giảm lãi suất và giữ tỷ giá ổn định, tạo dựng được niềm tin cho DN, cho kinh tế tư nhân giảm chi phí vốn vay, mở rộng sản xuất kinh doanh.

Các NHTM chủ động triển khai có hiệu quả các chính sách lớn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, như cho vay thu mua lúa gạo, được thực hiện chủ yếu đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là lĩnh vực đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn cho nền kinh tế, liên quan đến việc làm và thu nhập của hàng triệu hộ nông dân. Các NHTM cũng đang tích cực triển khai cho vay ứng dụng công nghệ cao trong phát triển nông nghiệp, với gói tín dụng 100.000 tỷ đồng để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, với lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 0.5%/năm đến 1.5%/năm so với các chương trình cho vay khác. Tổng dư nợ cho vay lĩnh vực này của các TCTD đến tháng 6/2017 đạt 32.339 tỷ đồng, với 4.125 khách hàng còn dư nợ; bao gồm: 3.957 khách hàng cá nhân, 168 doanh nghiệp. Trong đó, riêng dư nợ cho vay nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của các TCTD là 27.737 tỷ đồng, chiếm gần 86% tổng dư nợ; dư nợ cho vay nông nghiệp sạch đạt 4.602 tỷ đồng, không phát sinh nợ xấu. Ước tính đến hết tháng 9/2017 dư nợ lĩnh vực nói trên lên tới 28.500 tỷ đồng.

Các NHTM cũng đang triển khai đồng bộ các biện pháp thực hiện chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; chính sách tín dụng hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP; chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra theo Quyết định số 540/QĐ-TTg, ngày 16/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách đối với lĩnh vực nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thủy sản; cho vay phục vụ tái canh cây cà phê ở khu vực Tây nguyên; Chương trình tín dụng xanh.

Về hoạt động tín dụng chính sách đối với kinh tế tư nhân, hiện nay, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Việt Nam đang thực hiện 22 chương trình tín dụng đối với người nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách. Tính đến hết tháng 8/2017, đã có trên 30 triệu lượt hộ nghèo và các và đối tượng chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH trong gần 15 năm qua, góp phần giúp trên 4,5 triệu hộ thoát nghèo. Cũng từ nguồn vốn này, đã thu hút, tạo việc làm cho gần 3,5 triệu lao động, trong đó có hơn 111 nghìn lao động thuộc hộ nghèo và gia đình chính sách được vay vốn đi XKLĐ có thời hạn ở nước ngoài; trên 3,5 triệu lượt HSSV có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng gần 10 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; gần 520 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách; gần 105 nghìn căn nhà cho hộ gia đình vượt lũ đồng bằng sông Cửu Long; trên 11 nghìn căn nhà phòng tránh bão, lụt. Tổng dư nợ của NHCSXH đến hết tháng 8/2017 đạt 167.047 tỷ đồng, gấp 23 lần so với thời điểm nhận bàn giao, với tốc độ tăng bình quân 30%/năm. Tỷ lệ nợ quá hạn của NHCSXH chỉ là 0,43%/tổng dư nợ. Hiện nay đang có gần 6,8 triệu người nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ, dư nợ bình quân 25 triệu đồng/hộ, tăng 4 triêu hộ so với đầu
năm 2003.

 

Một số nhận xét và kiến nghị

Một là, Đảng và Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo các biện pháp cụ thể về phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân, đặc biệt là thực hiện nghiêm túc, đúng kế hoạch cổ phần hóa, kế hoạch thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, niêm yết cổ phiếu các doanh nghiệp đã cổ phần hóa trên thị trường chứng khoán,…

Hai là, các cơ chế, chính sách tín dụng ngân hàng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện, tiệm cận theo thông lệ quốc tế, thực hiện hội nhập, dần xóa bỏ sự phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tư nhân, tạo sự bình đẳng trong quan hệ tín dụng ngân hàng, khuyến khích thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế. Lãi suất cho vay có xu hướng giảm, tỷ giá ổn định, các thủ tục vay vốn không ngừng được đơn giản. NHNN tiếp tục quan tâm, chỉ đạo các TCTD tập trung triển khai có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhất là DNNVV trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, trong đó đặc biệt là cải tiến quy trình, thủ tục vay vốn; tăng cường cho vay tín chấp; Tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương liên quan xử lý triệt để những vướng mắc trong việc xử lý tài sản bảo đảm, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV.

Ba là, trong thời gian qua, các TCTD đã chuyển dịch vốn tín dụng đến các lĩnh vực an toàn, hiêu quả cho nền kinh tế, hướng vốn cho vay đến các lĩnh vực ưu tiên theo định hướng điều hành của NHNN, chủ trương của Chính phủ, tăng tỷ trọng cho vay kinh tế tư nhân. Việc chuyển hướng đó cũng là góp phần tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn, nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, trong thời gian tới, các TCTD vẫn cần tiếp tục tập trung vốn vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, trong đó đặc biệt là các dự án hiệu quả, các doanh nghiệp, kinh tế tư nhân, dự án đầu tư có chiều sâu, ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất các sản phẩm thương hiệu Việt Nam cạnh tranh được trong khu vực và thị trường thế giới; các doanh nghiệp sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp sạch, các doanh nghiệp khởi nghiệp, DNNVV.

Bốn là, thời gian qua, việc triển khai các chính sách tín dụng cho các chương trình lớn thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân được ngành ngân hàng thực hiện quyết liệt, mạnh mẽ. Tuy nhiên so với một số lĩnh vực khác của doanh nghiệp nhà nước, như: điện lực, xăng dầu, viễn thông,… thì lãi suất cho vay của TCTD đối với kinh tế tư nhân vẫn còn cao hơn, do đó, các NHTM cần có chính sách và biện pháp giảm thêm lãi suất cho vay các đối tượng này, nhất là chính sách ưu tiên nông nghiệp - nông thôn nằm trong 5 đối tượng ưu tiên về lãi suất cho vay.

Năm là, các bộ ngành, các địa phương cần hoàn thiện các cơ chế, chính sách thuộc phạm vi trách nhiệm của mình nhằm khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, như: chính sách thuế, cho thuê đất,… Đặc biệt là cần chú ý có các quy định cụ thể hơn về khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nói chung và nông nghiệp công nghệ cao nói riêng.

Sáu là, Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính nghiên cứu, triển khai rộng rãi chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng và doanh nghiệp yên tâm trong việc triển khai dự án liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chính sách bảo hiểm đối với các sản phẩm nông nghiệp chủ lực. Bộ tài chính xần xem xét trình Chính phủ về hoàn thiện mô hình và cơ chế, chính sách tín dụng nhà nước do Ngân hàng phát triển Việt Nam thực hiện, phát huy vai trò của định chế tài chính này trong thực hiện chính sách tín dụng nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.

Bộ Tài chính và NHNN cần thống nhất trình Chính phủ mở rộng các chương trình tín dụng chính sách qua NHCSXH Việt Nam thực hiện và đảm bảo nguồn vốn chủ động, ổn định cho ngân hàng này, góp phần thực hiện có hiệu quả hơn nữa chính sách tín dụng thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.

 

Kết luận

Trong số các chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế tư nhân nói riêng, thì chính sách tín dụng có vai trò hàng đầu vì đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và tiêu dùng. Tuy nhiên để chính sách tín dụng phát huy hiệu quả thì đòi hỏi cần có sự chuyển động đồng bộ, kịp thời của các chính sách khác có liên quan, sự vào cuộc thực sự của các ngành, các cấp khác.

 

Nguồn tài liệu:

www.sbv.gov.vn

www.agribank.com.vn

Một số nguồn khác

*1 Ngân hàng TMCP Quốc dân

*2 Trường Sỹ quan Chính trị

2263 lượt xem
Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ gia đình nông thôn: Từ lý thuyết đến thực tiễn tại Việt Nam (số 21)
Phát triển hoạt động tại Lào – “miền đất hứa” đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam (số 21)
Mối qua hệ giữa hiểu biết tài chính và tiết kiệm cá nhân: Trường hợp Việt Nam (số 20)
Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam: Thực trạng và phương hướng hoàn thiện (số 19)
Phát triển dịch vụ thanh toán ngân hàng trong giai đoạn phát triển công nghệ hiện nay (số 19)
Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam: 15 năm một chặng đường hình thành và phát triển (số 19)
© Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Địa chỉ : Số 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà NộiThường trực Ban biên tập : (84 - 243) 266.9435Email : thuongtrucweb@sbv.gov.vnRSS