Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Kinh tế toàn cầu tiếp tục duy trì động lượng

25/10/2017 21:57:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Ngày 10/10/2017, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế toàn cầu với nhận định, kinh tế toàn cầu tiếp tục duy trì động lượng nhờ hoạt động thương mại, đầu tư, sản xuất công nghiệp và niềm tin được củng cố.

Báo cáo nêu rõ, kinh tế toàn cầu được dự báo tăng từ 3,2% trong năm 2016 lên lên 3,6% vào năm 2017 và 3,7% vào năm 2018, tăng 0,1% so với dự báo đưa ra hồi tháng 4/2017 và tháng 7/2017. Các hoạt động kinh tế được dự báo sẽ cải thiện tại tất cả các nhóm quốc gia, ngoại trừ khu vực Trung Đông.

Triển vọng kinh tế toàn cầu (% so với năm trước)

 

 

2016

 

2017

 

2018

Khác biệt so với dự báo 04/2017

 

 

 

 

2017

2018

GDP toàn cầu

3,2

3,6

3,7

0,1

0,1

Các nước phát triển

1,7

2,2

2,0

0,2

0,0

Mỹ

1,5

2,2

2,3

-0,1

-0,2

Khu vực đồng tiền chung euro

1,8

2,1

1,9

0,4

0,4

CHLB Đức

1,9

2,0

1,8

0,4

0,3

CH Pháp

1,2

1,6

1,8

0,2

0,2

Italia

0,9

1,5

1,1

0,7

0,3

Tây Ban Nha

3,2

3,1

2,5

0,5

0,4

Nhật Bản

1,0

1,5

0,7

0,3

0,1

VQ Anh

1,8

1,7

1,5

-0,3

0,0

Canada

1,5

3,0

2,1

1,1

0,1

Những nước phát triển khác *

2,2

2,6

2,5

0,3

0,1

Các nước đang phát triển

4,3

4,6

4,9

0,1

0,1

Cộng đồng các quốc gia độc lập

0,4

2,1

2,1

0,4

0,0

CHLB Nga

-0,2

1,8

1,6

0,4

0,2

Không kể CHLB Nga

1,9

2,9

3,3

0,4

-0,2

Các nước đang phát triển châu Á

6,4

6,5

6,5

0,1

0,1

Trung Quốc

6,7

6,8

6,5

0,2

0,3

Ấn Độ

7,1

6,7

7,4

-0,5

-0,3

ASEAN 5 **

4,9

5,2

5,2

0,2

0,0

Các nước đang phát triển châu Âu

3,1

4,5

3,5

1,5

0,2

Mỹ Latinh và Caribê

-0,9

1,2

1,9

0,1

-0,1

Brazil

-3,6

0,7

1,5

0,5

-0,2

Mêhicô

2,3

2,1

1,9

0,4

-0,1

Trung Đông và Bắc Phi

5,1

2,2

3,2

-0,1

0,0

Trung Đông, Bắc Phi ***

5,0

2,6

3,5

0,0

0,1

Arập Xê út

1,7

0,1

1,1

-0,3

-0,2

Khu vực cận Sahara

1,4

2,6

3,4

0,0

-0,1

Nigeria

-1,6

0,8

1,9

0,0

0,0

CH Nam Phi

0,3

0,7

1,1

-0,1

-0,5

Các nước thu nhập thấp

3,6

4,6

5,2

-0,1

-0,1

Nguồn: IMF tháng 10/2017

(*): Không kể các nước G7 và khu vực euro;

(**): Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Land, Việt Nam;

(***): Kể cả Afghanistan và Pakistan.

Với đà tăng trưởng cao trong năm 2016 và đầu năm 2017, GDP tại các nước phát triển năm 2017 được điều chỉnh tăng 2,2%, cao hơn so với dự báo tháng 4/2017 là chỉ tăng 2,0% và cao hơn hẳn so với kết quả tăng 1,7% trong năm 2016. Trong đó, điều chỉnh giảm dự báo GDP tại Mỹ do chính sách tài khóa sẽ không hỗ trợ nhu cầu, đồng thời điều chỉnh tăng dự báo GDP tại khu vực euro.

Tại các nước đang phát triển và mới nổi, GDP được dự báo sẽ tăng cao, từ kết quả tăng 4,3% trong năm 2016 lên 4,7% trong năm 2017 và 4,9% trong năm 2018, tăng 0,1% so với dự báo đưa ra cách đây 6 tháng. Đà tăng này chủ yếu bắt nguồn từ triển vọng tích cực về tiêu dùng trong nước tại Trung Quốc, và xu hướng phục hồi xuất khẩu và tiêu dùng trong nước tại các nước châu Âu. Trong nhóm các nước đang phát triển và mới nổi, các nước nhập khẩu hàng hóa được dự báo sẽ đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế trong tương lai, nhưng các nước xuất khẩu hàng hóa cũng đóng góp tích cực, đặc biệt là Brazil và CHLB Nga, đây là hai quốc gia gặp những khó khăn trầm trọng về kinh tế trong hai năm 2015-2016. Giữa các nước đang phát triển và mới nổi, triển vọng kinh tế có sự khác biệt đáng kể, GDP tại các nước mới nổi châu Á tiếp tục tăng cao, nhưng trầm lắng tại nhiều nước thuộc khu vực Cận Sahara, Mỹ Latinh và Trung Đông.

Trong giai đoạn trung hạn, kinh tế toàn cầu được dự báo tăng nhẹ so với năm 2018, đạt mức tăng trưởng 3,8% vào năm 2021. Trong đó, đà tăng GDP tại các nước phát triển sẽ giảm dần về mức tăng trưởng tiềm năng 1,7%. Trái lại, các nước đang phát triển và mới nổi tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng kinh tế toàn cầu, với dự báo tăng 5% vào năm 2021, và tỷ trọng tăng dần trong tổng GDP toàn cầu. Dự báo này bắt nguồn từ nhận định, kinh tế các nước xuất khẩu hàng hóa được dự báo tăng cao, mặc dù thấp hơn so với kết quả tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2000-2015; kinh tế Ấn Độ tăng dần nhờ thực hiện hàng loạt giải pháp cải cách cơ cấu cần thiết; kinh tế các nước nhập khẩu hàng hóa tiếp tục tăng cao, kinh tế Trung Quốc vẫn tăng cao mặc dù đà tăng giảm dần.

Tại Mỹ, GDP được dự báo tăng 2,2% trong năm 2017 và tăng 2,3% trong năm 2018, chủ yếu nhờ điều kiện tài chính thuận lợi, niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng được củng cố. Tuy nhiên, con số này thấp hơn so với dự báo cách đây sáu tháng (tăng 2,3% trong năm 2017 và tăng 2,5% trong năm 2018), do tác động bắt nguồn từ khả năng điều chỉnh chính sách tài khóa tại Mỹ, nhất là khả năng cắt giảm thuế. Trong dài hạn, GDP tại Mỹ được dự báo chỉ tăng khiêm tốn, với mức tăng trưởng tiềm năng 1,8%, phản ánh xu hướng tăng chậm dần của các yếu tố năng suất và hiện tượng già hóa dân số.

Tại khu vực đồng tiền chung euro, kinh tế năm 2017 được dự báo tiếp tục phục hồi với mức tăng 2,1%, nhưng chỉ tăng 1,9% trong năm 2018, lần lượt tăng 0,4% và 0,3% so với dự báo cách đây sáu tháng. Điều chỉnh tăng này phản ánh xu hướng phục hồi của hoạt động thương mại toàn cầu, và điều kiện tài chính thuận lợi đã thúc đẩy nhu cầu trong nước, trong khi rủi ro chính trị và bất động chính sách có dấu hiệu giảm dần. Triển vọng kinh tế trung hạn có vẻ trầm lắng, do tiềm năng tăng trưởng chậm dần do các yếu tố năng suất và xu hướng già hóa dân số, một số quốc gia tiếp tục vấp phải những vấn đề về nợ tư nhân và nhà nước.

Tại Vương quốc Anh, GDP được dự báo tăng 1,7% trong năm 2017 và tăng 1,5% trong năm 2018. So với dự báo cách đây 6 tháng, GDP năm 2017 điều chỉnh giảm tới 0,3%, do kinh tế quý I/2017 tăng thấp hơn so với kỳ vọng, xu hướng mất giá của bảng Anh đã ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập thực tế của các hộ gia đình và nhu cầu chi tiêu trong khu vực tư nhân. Trong gia đoạn trung hạn, triển vọng kinh tế chưa rõ ràng, tùy thuộc một phần vào mối quan hệ kinh tế mới với Liên minh châu Âu và những rào cản về thương mại, chính sách nhập cư và hoạt động tài chính xuyên biên giới.

Tại Nhật Bản, động lượng kinh tế tiếp tục được dẫn dắt bởi nhu cầu gia tăng trên toàn cầu và các giải pháp chính sách đã hỗ trợ tình hình tài khóa. GDP được dự báo tiếp tục tăng 1,5% trong năm 2017, nhưng chỉ tăng 0,7% trong năm 2018, do tác động mờ nhạt dần của các giải pháp hỗ trợ tài khóa, chi tiêu tư nhân tăng nhẹ. Tuy nhiên, sự kiện Olympic năm 2020 sẽ thúc đẩy đầu tư tư nhân, góp phần bù đắp xu hướng gia tăng nhập khẩu hàng hóa phục vụ sự kiện thể thao này. Trong giai đoạn trung hạn, lực lượng lao động giảm dần sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế, mặc dù thu nhập bình quân đầu người vẫn ổn định như những năm gần đây.

Tại hầu hết những nước phát triển khác, hoạt động kinh tế được kỳ vọng sẽ tăng tốc. Sau thời kỳ khó khăn do giá dầu giảm xuống mức thấp, GDP tại các nước xuất khẩu dầu mỏ được kỳ vọng sẽ phục hồi dần. Theo đó, GDP năm 2017 có thể tăng 1,4% tại Na Uy, và tăng 3,0% tại Canada. Trái lại, GDP năm 2017 tại Australia có thể giảm nhẹ xuống mức tăng 2,2%, do thời tiết xấu đã cản trở các hoạt động đầu tư xây dựng nhà cửa và xuất khẩu khoáng sản trong sáu tháng đầu năm. Nhờ thương mại toàn cầu phục hồi và nhập khẩu của Trung Quốc tăng cao hơn kỳ vọng, GDP năm 2017 tại Singapore, Hàn Quốc, vùng lãnh thổ Đài Loan, và Hồng Kông được dự báo lần lượt tăng 2,5%, 3,0%, 2,0%, và 3,5%.

Tại Trung Quốc, GDP được dự báo tăng 6,8% trong năm 2017 và tăng 6,5% trong năm 2018. So với dự báo tháng 4/2017, GDP năm 2017 được điều chỉnh tăng thêm 0,2% do kinh tế sáu tháng đầu năm tăng cao hơn kỳ vọng, nhờ chính sách tiền tệ nới lỏng và các biện pháp cải cách nguồn cung. Trong năm 2018, GDP được điều chỉnh tăng thêm 0,3%, do chính phủ sẽ tiếp tục duy trì chính sách mở rộng kinh tế và thúc đẩy đầu tư công nhằm đạt mục tiêu tăng GDP năm 2020 tăng gấp đôi so với năm 2010. Tương tự, GDP giai đoạn 2019-2022 được điều chỉnh tăng thêm 0,2%, phản ánh khả năng chính phủ tiếp tục duy trì các gói hỗ trợ kinh tế, mặc dù động thái này sẽ làm tăng gánh nặng nợ nần và cản trở tăng trưởng kinh tế.

Tại những nước đang phát triển và mới nổi khác tại châu Á, GDP được vọng tăng vững và cao hơn dự báo tháng 4/2017. Tại Ấn Độ, chi tiêu chính phủ gia tăng đã hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong những năm qua. Tuy nhiên, GDP năm 2017 được dự báo chỉ tăng 6,7%, giảm 0,5% so với dự báo tháng 4/2017, phản ánh những rối loạn kinh tế bắt nguồn từ sáng kiến tỷ giá, được áp dụng từ tháng 11/2016 và kế hoạch tăng thuế hàng hóa và dịch vụ từ tháng 7/2017. Trong giai đoạn trung hạn, GDP tại Ấn Độ có thể tăng 8%, nhờ chủ trương nhất thể hóa thị trường trong nước và nỗ lực tái cơ cấu những vấn đề then chốt trong nền kinh tế. Tại nhóm ASEAN-5, GDP năm 2017 được dự báo tăng 5,2% (điều chỉnh tăng 0,2% so với dự báo tháng 4/2017), một phần là do nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc và châu Âu tăng cao hơn kỳ vọng. Cụ thể là, GDP năm 2017 được dự báo tăng 5,2% tại Indonesia, 5,4% tại Malaysia, 6,6% tại Philippines, 3,7% tại Thái Lan và 6,3% tại Việt Nam.

Tại Khu vực Mỹ Latinh và Caribê, sau khi giảm gần 1,0% trong năm 2016, GDP dự báo tăng 1,2% trong năm 2017 và tăng 1,9% trong năm 2018, thay đổi không đáng kể so với dự báo tháng 4/2017. Mặc dù kinh tế các nước Trung Mỹ có dấu hiệu cải thiện, nhưng hầu hết các nước Caribê vẫn gặp khó khăn do nhu cầu trong nước yếu ớt. Tại Mêhicô, GDP được dự báo tăng 2,1% trong năm 2017 và 1,9% trong năm 2018. Mặc dù kết quả đàm phán lại Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ chưa rõ ràng và hoạt động kinh tế tại Mỹ có phần kém sôi động so với dự báo tháng 4/2017, GDP năm 2017 tại Mêhicô được điều chỉnh tăng thêm 0,4% so với dự báo tháng 4/2017, phản ánh hoạt động kinh tế sôi động trong sáu tháng đầu năm và niềm tin thị trường được củng cố. Trong giai đoạn trung hạn, GDP tại Mêhicô có thể tăng 2,7% nhờ thực hiện chương trình cải cách toàn diện.

Tại Brazil, sau khi đạt mức tăng trưởng dương trong những tháng đầu năm, GDP được kỳ vọng tăng 0,7% trong năm 2017 và tăng 1,5% trong năm 2018. So với dự báo tháng 4/2017, kinh tế năm 2017 được điều chỉnh tăng thêm 0,5%, chủ yếu nhờ vụ mùa bội thu và các biện pháp hỗ trợ nhu cầu, bao gồm việc cho phép người lao động chuyển tài khoản tiết kiệm sang tài khoản thanh toán sau khi kết thúc hợp đồng lao động. Tuy nhiên, dự báo GDP năm 2018 giảm 0,2% so với trước đây, do hoạt động đầu tư có vẻ trầm lắng, cộng với nguy cơ gia tăng bất ổn chính trị và bất định chính sách. Trong giai đoạn trung hạn, GDP có thể tăng 2,0%, nhờ các biện pháp cải cách tài khóa sẽ góp phần phục hồi niềm tin.

Tại CHLB Nga, sau hai năm chìm trong suy thoái, hoạt động kinh tế được dự báo mở rộng tới 1,8% trong năm 2017, nhờ giá dầu ổn định, điều kiện tài chính thuận lợi hơn, và niềm in được cải thiện. Trong giai đoạn trung hạn, GDP có thể chỉ tăng khoảng 1,5%, do giá dầu tăng thấp, xu hướng già hóa dân số, và những trở ngại về cơ cấu. Tương tự, sau khi giảm sâu vào năm 2015 và tăng trở lại trong năm 2016, GDP tại Cộng đồng các Quốc gia độc lập được kỳ vọng tăng 2,1% trong năm 2017 và năm 2018. Trong số những nước xuất khẩu dầu khác, GDP năm 2017 tại Kazakhstan được dự báo tăng 3,3%, nhờ sản lượng dầu tăng vững.

Tại các nước đang phát triển và mới nổi châu Âu, kinh tế năm 2017 được dự báo tăng 4,5% (tăng 1,5% so với dự báo tháng 4/2017), chủ yếu nhờ tình hình kinh tế tại Thổ Nhĩ Kỳ với mức tăng 5,1% trong năm 2017 (tăng gấp trên hai lần so với dự báo tháng 4/2017), phản ánh kết quả kinh tế quý I/2017 tăng cao hơn kỳ vọng, một phần nhờ xuất khẩu phục hồi sau nhiều quý suy giảm và tác động tích cực của chính sách tài khóa mở rộng.

Tại các nước khu vực cận Sahara, GDP được dự báo tăng 2,6% trong năm 2017 và tăng 3,4% trong năm 2018, thay đổi đáng kể so với dự báo tháng 4/2017, mặc dù có sự khác biệt giữa các nước trong khu vực. Rủi ro kinh tế tăng cao, do những đặc tính riêng tại các nền kinh tế lớn trong khu vực và tình trạng chậm trễ trong việc tiến hành các biện pháp điều chỉnh chính sách. Trong ngắn hạn, GDP được dự báo tăng dần, nhưng chỉ nhích nhẹ so với tốc độ tăng dân số, trong khi nhu cầu chi tiêu công tăng cao. Sau khi chìm vào suy thoái trong năm 2016 do giá dầu giảm thấp và sản xuất dầu bị gián đoạn, kinh tế Nigeria được kỳ vọng phục hồi dần và tăng 0,8% trong năm 2017, nhờ hoạt động sản xuất dầu phục hồi và sản xuất nông nghiệp tăng cao. Tuy nhiên, triển vọng kinh tế trung hạn có vẻ mờ mịt do những lo ngại trong việc thực thi chính sách, tình trạng phân đoạn trên thị trường ngoại hối với sự lệ thuộc quá mức vào biện pháp can thiệp của Ngân hàng Trung ương, và hệ thống ngân hàng yếu kém. Tại CH Nam Phi, GDP được dự báo tiếp tục trầm lắng với mức tăng 0,7% trong năm 2017 và 1,1% trong năm 2018 do bất định chính sách gây xói mòn lòng tin thị trường, mặc dù giá cả hàng hóa xuất khẩu đang gây tác động tích cực và sản lượng nông nghiệp tăng cao.

Tại các nước khu vực Trung Đông, Bắc Phi, bao gồm cả Afghanistan và Pakistan, GDP năm 2017 được dự báo chỉ tăng 2,6%, mức tăng rất thấp so với kết quả tăng 5,0% trong năm 2016, chủ yếu là do kinh tế Iran tăng chậm lại. Trong năm 2018, GDP tại những quốc gia này được dự báo tăng 3,5%, phản ánh nhu cầu tại các nước nhập khẩu dầu tăng cao và sản lượng dầu tại các nước xuất khẩu dầu phục hồi trở lại. Tại Arập Xê út, mặc dù sản lượng dầu được củng cố dần, nhưng nguồn thu vẫn thấp, nên GDP năm 2017 hầu như không tăng, sau đó sẽ đạt mức tăng 1,1% vào năm 2018. Kinh tế Pakistan được dự báo tăng 5,3% trong năm 2017 và tăng 5,6% trong năm 2018, nhờ những lợi ích thu được từ hành lang kinh tế Trung Quốc - Pakistan và tín dụng tư nhân tăng cao.

Xuân Thanh

Nguồn: IMF tháng 10/2017

 

 

 

  • aA
  • Categories:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
OTHER NEWS
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
10/2/26
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
2/2/26
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
5/1/28
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
10/1/27
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
7/1/27
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
3/1/27
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
2/1/27
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
9/1/26
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
8/1/26
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
6/12/26
Showing 1 to 10 of 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready