Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Kinh tế Đông Á- Thái Bình Dương tiếp tục phục hồi vững chắc

12/04/2022 22:40:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương tháng 4/2022 của Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá các quốc gia EAP (EAP) đều đã bước vào lộ trình phục hồi vững chắc từ đầu 2022. Mặc dù điều kiện tài chính và thương mại quốc tế vẫn bình ổn, và chính phủ các quốc gia đã tính đến việc quay lại củng cố tình hình tài khóa, nhưng những vấn đề như: thắt chặt điều kiện tài chính tại Hoa Kỳ do lạm phát gia tăng; tình trạng lây nhiễm COVID-19 và căng thẳng tiếp diễn tại các doanh nghiệp bất động sản có tỷ lệ đòn bẩy quá cao của Trung Quốc; diễn biến cuộc chiến Nga – Ukraine, đã tác động không nhỏ đến triển vọng kinh tế của khu vực. Trên cơ sở đó, WB đã hạ dự báo tăng trưởng năm 2022 của EAP xuống còn 5% từ mức 5,4% trong dự báo trước đó. Tuy nhiên, những xáo trộn này không thể lấn át lộ trình tăng trưởng mới thông qua thương mại và đổi mới sáng tạo; các cải cách mạnh mẽ về chính sách tài khóa, an toàn tài chính, thương mại và đổi mới sáng tạo có thể giúp các quốc gia EAP ngăn ngừa rủi ro và nắm bắt cơ hội mới.

Các diễn biến gần đây

Sau ảnh hưởng nặng nề của làn sóng biến chủng Delta trong Quý III/2021, quá trình phục hồi kinh tế đã được khôi phục ở hầu hết các quốc gia trong khu vực từ Quý IV/2021 và tiếp tục trong Quý I/2022, bất chấp biến chủng Omicron bùng phát. Theo ước tính của WB, các nền kinh tế trong khu vực tăng trưởng bình quân 7,2% và dự báo sẽ tăng trưởng với tốc độ 5% trong năm 2022. Tuy nhiên, phục hồi diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia và các lĩnh vực. Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam đã vượt mức sản lượng trước đại dịch, trong khi Cambodia, Malaysia, Mông Cổ, Philippines và Thái Lan được kỳ vọng sẽ đạt được điều này trong năm 2022. Sản lượng tại một số quốc đảo Thái Bình Dương bị ảnh hưởng nặng nhất và khó có thể quay lại mức trước đại dịch kể cả vào năm 2023.

Kết quả kinh tế tại các quốc gia trong khu vực đang được định hình bởi mức độ hiệu quả trong việc kiểm soát cú sốc COVID-19, mức độ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện đang thay đổi ở phần còn lại của thế giới, và mức độ hỗ trợ của chính phủ. Bên cạnh đó, các thảm họa, thiên tai cũng đóng vai trò quan trọng.

Cùng với những tiến triển trong tiêm chủng vắc xin, hầu hết các quốc gia trong khu vực đến nay đã ít bị tổn thương hơn với các đợt lây nhiễm mới của biến chủng Omicron, và vì vậy ít phải áp đặt các biện pháp hạn chế đối với đi lại và hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, một số quốc gia, nhất là ở Thái Bình Dương và Trung Quốc gần đây đối mặt với số ca nhiễm tăng lên, dẫn đến phải phong tỏa nghiêm ngặt. Biến chủng Delta đã gây ra tổn thất sinh mạng lớn hơn nhiều cho khu vực trong năm 2021 so với làn sóng COVID-19 đầu tiên vào đầu năm 2020. Tuy nhiên, sự suy giảm kinh tế do biến chủng Delta gây ra lại nhỏ hơn so với đợt dịch trước đó. Mặc dù vậy, dịch bệnh và các biện pháp liên quan vẫn tiếp tục làm suy giảm tiêu dùng trong nước, đầu tư tư nhân và du lịch quốc tế.

Theo WB, nhu cầu từ phần còn lại của thế giới vẫn mạnh mẽ và những nút thắt về logistics đang bắt đầu nới lỏng sẽ là động lực giúp thương mại tiếp tục tăng trưởng. Nhưng số liệu gần đây đang chỉ ra sự giảm tốc trong tăng trưởng thương mại toàn cầu năm 2022. Mặc dù thương mại dịch vụ số, một ngành có vai trò quan trọng đối với các quốc gia như Trung Quốc và Philippines, vẫn đứng vững, nhưng du lịch, ngành có vai trò sống còn với một số quốc đảo Thái Bình Dương đang phục hồi chậm hơn nhiều.

Các chính sách hỗ trợ kinh tế vĩ mô được dự báo sẽ tiếp tục giảm dần trong năm 2022, mặc dù Trung Quốc dự kiến sẽ nới lỏng chính sách tài khóa một cách đáng kể để hỗ trợ tăng trưởng. Trong năm 2021, lạm phát bình quân vẫn trong ngưỡng mục tiêu của ngân hàng trung ương ở hầu hết các nền kinh tế lớn, cho phép ngân hàng trung ương các quốc gia duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng trong cả năm.

Những rủi ro tăng trưởng mới

Các diễn biến quốc tế gần đây như việc thắt chặt tài chính, đặc biệt tại Hoa Kỳ, thay đổi trong tốc độ tăng trưởng và cơ cấu hoạt động kinh tế, đặc biệt là ở Trung Quốc, và cuộc chiến tại Ukraine, đang định hình môi trường kinh tế đối ngoại của các quốc gia EAP. Nền kinh tế Hoa Kỳ phục hồi nhanh nhờ các gói kích cầu nhưng việc thắt chặt chính sách tiền tệ sớm hơn dự kiến để ứng phó với lạm phát tăng cao có thể khiến quá trình phục hồi tại các quốc gia khác diễn ra khó khăn hơn.

Điều kiện tài chính tại Hoa Kỳ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển khu vực EAP, nhất là các quốc gia như Malaysia hiện đang dựa nhiều vào dòng vốn ngắn hạn. Rủi ro dòng vốn tháo chạy có thể gây áp lực lên đồng nội tệ, dẫn đến việc phải thắt chặt điều kiện tài chính quá sớm. Cú sốc chính sách tiền tệ tại Hoa Kỳ, với giả định lãi suất tăng ít nhất 25 điểm phần trăm, có khả năng cao sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng tại các quốc gia EAP. Các cú sốc riêng đối với hoạt động kinh tế Trung Quốc có khả năng cao cũng sẽ ảnh hưởng đến EAP do đang có hoạt động thương mại đang ngày càng hướng đến thị trường này. Ngành xây dựng, bị hạn chế do các nỗ lực giảm đòn bẩy tài chính, ngành công nghiệp bị hạn chế bởi các nỗ lực giảm khí thải, và ngành dịch vụ bị hạn chế bởi các nỗ lực kiểm soát COVID-19 và các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền, đều là những điểm đến quan trọng của giá trị gia tăng từ khu vực EAP. Suy giảm trong ngành bất động sản, giả định tương đương với mức giảm 10 điểm phần trăm được dự báo trong tốc độ tăng đầu tư nhà ở từ năm 2020 đến năm 2022 có thể làm giảm tăng trưởng ở khu vực EAP đến 0,3 điểm phần trăm trong năm 2022. Riêng chính sách zero-COVID của Trung Quốc, có thể làm giảm tăng trưởng của EAP 0,14 điểm phần trăm.

Các cú sốc phát sinh từ cuộc chiến tại Ukraine và các biện pháp trừng phạt liên quan có thể ảnh hưởng đến khu vực EAP, nhất là làm gián đoạn nguồn cung hàng hóa, gia tăng căng thẳng tài chính và giảm niềm tin toàn cầu. Sự phụ thuộc trực tiếp của khu vực vào Nga và Ukraine thông qua xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và vốn là không nhiều nhưng chiến tranh và các biện pháp trừng phạt có khả năng cao sẽ làm tăng giá lương thực và nhiên liệu thế giới, ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng và tăng trưởng. Hơn nữa, với áp lực lạm phát toàn cầu vốn đã gia tăng, tác động bổ sung của chiến tranh có lẽ không chỉ mang tính chất tạm thời và có thể phá vỡ việc neo kỳ vọng lạm phát.

Các cú sốc trên vừa triệt tiêu vừa củng cố cho nhau. Một mặt, cú sốc tài chính xuất phát từ chiến tranh ở Ukraine có thể khiến Hoa Kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ chậm hơn dự kiến bất chấp áp lực lạm phát lớn hơn. Tương tự, giá cả hàng hóa tăng cao do chiến tranh gây ra có thể bù lại đà giảm giá do ngành bất động sản của Trung Quốc đang suy giảm, mặc dù các hàng hóa bị tác động có thể không giống nhau. Mặt khác, mỗi cú sốc đều ảnh hưởng bất lợi đến tăng trưởng toàn cầu thông qua gây hại cho hoạt động kinh tế ở các quốc gia chịu tác động trực tiếp cũng như các quốc gia chịu tác động gián tiếp còn lại. Tăng trưởng của các nước G7 giảm 0,9% sẽ làm nhu cầu đối với xuất khẩu của các quốc gia EAP yếu đi, và dẫn đến giảm tăng trưởng bình quân trong khu vực đến 0,6%.

Những cú sốc trên có thể làm trầm trọng hơn những khó khăn đang tồn tại sau dịch COVID. Mặc dù vậy, một số quốc gia trong khu vực có khả năng chống chịu tốt hơn so với các quốc gia khác khi phải đối mặt với các cú sốc này, do đặc trưng và quan điểm thận trọng trước đó của họ. Các quốc gia xuất khẩu hàng hóa có thể hấp thụ tác động tăng giá quốc tế dễ dàng hơn so với các quốc gia nhập khẩu hàng hóa. Các quốc gia thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ kiềm chế ở những giai đoạn đầu của đại dịch còn dư địa chính sách để chống chọi với cú sốc.

Tuy nhiên, tất cả các quốc gia trong khu vực, do mức độ mở cửa về thương mại và tài chính, sẽ phải đối mặt với những rủi ro kinh tế nghiêm trọng nếu điều kiện toàn cầu xấu đi đáng kể. Tăng trưởng của khu vực năm 2022 có thể giảm từ mức 5,4% theo dự báo cập nhật tháng 10/2021 xuống 5% theo kịch bản cơ sở hiện tại và thậm chí xuống 4,4% theo kịch bản xấu.

Những cơ hội tăng trưởng mới

Động lực đa dạng hóa sản xuất và xuất khẩu, vốn đã mạnh mẽ do quan điểm sợ phụ thuộc giai đoạn sau COVID-19, sẽ được khuếch đại bởi tác động của chiến tranh và các biện pháp trừng phạt. Các động lực di dời cơ sở sản xuất đã được đẩy mạnh hơn, do tăng lương ở Trung Quốc nhờ tăng trưởng và thay đổi nhân khẩu học, cũng như căng thẳng thương mại Mỹ - Trung. Tỷ trọng của các quốc gia EAP ngoài Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa cuối cùng của Hoa Kỳ tăng từ 10% vào đầu năm 2018 lên 14% vào giữa năm 2021, trong khi tỷ trọng của Trung Quốc giảm trong cùng kỳ từ 33% xuống còn 25%. Tuy nhiên, tiềm năng tự động hóa tăng lên sẽ thu hẹp cơ hội cho các quốc gia khác tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) qua chuyên môn hóa vào các nhiệm vụ thâm dụng lao động. Mức độ hưởng lợi của từng quốc gia khi các chuỗi giá trị được định hình lại còn phụ thuộc vào chi phí sản xuất và thương mại của họ. Tuy nhiên, lợi thế lao động giá rẻ ở các quốc gia EAP đang bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau bởi năng suất lao động thấp.

Công nghệ là yếu tố chính quyết định năng suất và cú sốc COVID-19 đã và đang đẩy nhanh quá trình lan tỏa công nghệ số. Tại các quốc gia EAP, các doanh nghiệp tiên phong có xu hướng áp dụng công nghệ tốt một cách nhanh chóng hơn trước đây, nhưng những công nghệ này chậm lan tỏa đến các doanh nghiệp khác. Mặc dù cú sốc COVID đã dẫn đến sự hội tụ trong việc sử dụng công nghệ tương tác với người tiêu dùng như thương mại điện tử, nhưng cũng dẫn đến sự phân tán sử dụng những công nghệ nâng cao năng suất tinh vi hơn, như phân tích dữ liệu.

Lan tỏa công nghệ do đại dịch cũng đang làm thay đổi cơ cấu ngành thương mại dịch vụ. Dù ngành du lịch và lữ hành bị gián đoạn, nhưng thương mại các ngành dịch vụ thâm dụng dữ liệu lại phát triển. Những khoản đầu tư không thể đảo ngược vào giao nhận số hóa (digital delivery) của doanh nghiệp và người tiêu dùng trong giai đoạn đại dịch đang làm giảm chi phí thương mại quốc tế tương quan với các giao dịch trong nước. Kết quả là cơ hội về thương mại dịch vụ số sẽ tăng lên, cho dù ngành du lịch và lữ hành phục hồi chậm hơn. Giá cả nhiên liệu hóa thạch cao có thể làm tăng động lực chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Việc áp dụng các công nghệ sản xuất xanh sẽ cho phép các quốc gia EAP cắt giảm phát thải các-bon, và ứng phó với tình trạng mất an ninh năng lượng mới mà không phải cắt giảm tiêu dùng và tăng trưởng quá lớn. Nhưng không phải tất cả những thay đổi hiện nay đều thuận lợi với công nghệ xanh. Giá năng lượng cao cũng có thể dẫn đến tăng đầu tư vào sản xuất năng lượng hóa thạch. Đồng thời, chiến tranh ở Ukraine có thể làm giảm nguồn cung đầu vào quan trọng cho sản xuất hàng hóa xanh như pa-la-đi-um và ni-ken.

Các biện pháp chính sách

Chính sách tài khóa. Các quốc gia EAP đã gặp khó khăn trong việc hài hòa giữa hỗ trợ tài khóa để cứu trợ, phục hồi và tăng trưởng, với dư địa tài khóa đang bị thu hẹp. Việc gia tăng nợ công có thể khiến nhiều nền kinh tế đứng trước áp lực phải củng cố tài khóa khi quá trình phục hồi còn chưa hoàn thành. Ngoài ra, các hoạt động hỗ trợ tài khóa được triển khai bởi chính quyền địa phương và doanh nghiệp nhà nước có rủi ro làm suy giảm sức khỏe tài chính của họ. Các cú sốc mới sẽ khiến cho phương án đánh đổi trở nên khó khăn hơn, đồng thời làm giảm đầu tư cho cơ sở hạ tầng thương mại, năng lượng và lan tỏa công nghệ - đều là những điều kiện cần để làm chủ các cơ hội tăng trường mới thông qua nâng cao năng lực trong nước và khả năng kết nối quốc tế.

Có ba biện pháp có thể giúp ích. Thứ nhất, an sinh xã hội hiệu suất cao hơn có thể tiết kiệm dư địa tài khóa cho những mục tiêu khác. Các quốc gia EAP đã phòng vệ cho các hộ gia đình khỏi các cú sốc về thu nhập gần đây liên quan đến COVID thông qua tăng chi đồng loạt cho an sinh xã hội và chống lại các cú sốc về giá cả thông qua kết hợp giữa kiểm soát giá và trợ giá (hoặc giảm thuế). Cả hai biện pháp trên có lẽ là hình thức trợ giúp duy nhất khả thi trong ngắn hạn, nhưng đều không có hiệu suất cao và không bền vững về mặt tài khóa. Hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nghèo và doanh nghiệp, một khi đã có cơ sở hạ tầng số phù hợp, là cách để loại bỏ tác động của các cú sốc cộng dồn mà không làm méo mó tín hiệu giá cả hoặc dẫn đến trợ cấp cho người giàu.

Thứ hai, nguồn lực công kết hợp với cải cách chính sách đầu tư có thể khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư mạnh hơn cho cơ sở hạ tầng công cộng. Cuối cùng, chính phủ có thể hài hòa giữa nhu cầu chi tiêu và giới hạn ngân sách đang thu hẹp bằng cách cam kết (a) khôi phục kỷ cương tài khóa thông qua (tái) áp dụng các quy tắc tài khóa; và (b) cải cách tài khóa thông qua ban hành các văn bản pháp luật, và việc triển khai thực hiện các văn bản này sẽ phải dựa trên các chỉ tiêu khách quan đo lường mức độ phục hồi.

Chính sách an toàn vĩ mô. Các quốc gia EAP phải đề phòng rủi ro bất ổn tài chính khi đối mặt với thắt chặt tài chính tại các thị trường lớn. Chính sách tiền tệ vẫn cần thận trọng với những áp lực lạm phát mới, nhưng hiện vẫn có thể tiếp tục hỗ trợ phục hồi ở hầu hết các quốc gia EAP, do lãi suất thực tương đối cao và lạm phát cơ bản đang tương đối thấp. Mặc dù ngân hàng ở hầu hết các quốc gia EAP có tỷ lệ an toàn vốn tốt và nợ xấu được báo cáo ở mức thấp, nhưng việc chẩn đoán sức chịu đựng có thể giúp xác định nguy cơ dễ tổn thương có thể nhen nhóm sau các quy định cho phép giãn thời gian trả nợ. Tiếp theo, tùy vào hoàn cảnh, các quốc gia phải đảm bảo an toàn vốn ở các ngân hàng có tỷ lệ nợ có nguy cơ trở thành nợ xấu cao; phòng ngừa rủi ro và kéo dài kỳ hạn nợ để xử lý bất cân đối về đồng tiền và rủi ro đảo nợ; tăng cường dự phòng thanh khoản và có dòng tín dụng để dự phòng khả năng tăng nhu cầu huy động vốn nước ngoài.

Thương mại: chính sách và cơ sở hạ tầng. Cải cách toàn diện về thương mại sẽ tạo điều kiện giúp các quốc gia EAP tận dụng được sự chuyển dịch trong bối cảnh thương mại toàn cầu. Thứ nhất, đối với làn sóng chuyển dịch hoạt động sản xuất về nước, thay vì trả đũa thì tự do hóa và tạo thuận lợi thương mại có thể dẫn đến thu nhập thực tăng ròng đến 3%. Đồng thời, kiềm chế ban hành những hạn chế xuất khẩu trên toàn cầu khi phải đối mặt với cú sốc về giá hàng hóa sẽ tránh tạo ra vòng xoáy giá cả, và cùng đó là kết quả còn tồi tệ hơn trên toàn cầu. Thứ hai, ngoài thương mại hàng hóa, cải cách các biện pháp hạn chế thương mại vẫn ở mức cao trong lĩnh vực vận tải, truyền thông và các dịch vụ doanh nghiệp khác, có thể giúp giảm chi phí thương mại và nâng cao năng suất cho toàn bộ nền kinh tế. Thứ ba, triển khai các biện pháp tạo thuận lợi để lao động dịch chuyển trong nước, chẳng hạn, qua đào tạo lại và hỗ trợ tìm việc, sẽ cho phép nguồn lực chuyển đến những nơi có lợi thế so sánh mới, nâng cao năng suất và thu nhập. Cuối cùng, tham gia vào các hiệp định thương mại có chiều sâu có thể vừa là xúc tác cải cách trong nước vừa đảm bảo tiếp cận các thị trường nước ngoài. Các hiệp định có chiều sâu không chỉ đề cập đến tự do hóa thương mại, mà còn cả hợp tác pháp lý và phối hợp hạ tầng, qua đó tiếp tục tăng cường chiều sâu hội nhập kinh tế.

Lan tỏa công nghệ: Chính sách và hạ tầng. Công nghệ lan tỏa nhanh chóng trong giai đoạn hậu COVID có thể nâng cao năng suất. Tuy nhiên, để làm chủ được công nghệ thì cần phải cải cách chính sách và hỗ trợ. Thứ nhất, nâng cao mức độ cạnh tranh bằng cách loại bỏ rào cản gia nhập và thoái lui cho cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, kết hợp với những cải cách về môi trường kinh doanh sẽ giúp tăng cường động lực áp dụng và lan tỏa công nghệ. Thứ hai, các biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng quản trị và kỹ thuật cũng như khả năng tiếp cận tài chính cần thiết, sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đưa công nghệ giúp nâng cao năng suất vào hoạt động kinh doanh của họ. Thứ ba, dù cơ sở hạ tầng số phục vụ cho công nghệ cơ bản nhìn chung đã có sẵn, nhưng truy cập băng thông rộng cần được mở rộng để tạo thuận lợi cho việc sử dụng những công nghệ tiên tiến hơn. Cuối cùng loại bỏ những méo mó trong nước, chẳng hạn như những méo mó do trợ cấp cho nhiên liệu hóa thạch và yêu cầu về hàm lượng nội địa, có thể khuyến khích áp dụng công nghệ xanh.

HN (theo WB)

  • aA
  • Categories:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
OTHER NEWS
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
10/2/26
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
2/2/26
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
5/1/28
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
10/1/27
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
7/1/27
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
3/1/27
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
2/1/27
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
9/1/26
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
8/1/26
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
6/12/26
Showing 1 to 10 of 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready