Tín dụng hỗ trợ ngư dân đóng tàu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP và các khuyến nghị
TS. Đỗ Hoài Linh1
Cùng nhóm cộng sự Phạm Thị Lan Phương, Phạm Anh Nam, Nguyễn Đăng Quốc
Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phân tích thủy sản có ý nghĩa lớn đối với không chỉ ngành đánh bắt thủy sản, nền kinh tế quốc dân, mà còn có vai trò quan trọng trong an ninh quốc phòng. Sau một thời gian triển khai, việc thực hiện Nghị định đã đạt được một số thành tựu nhất định, song, cũng vẫn còn một số vướng mắc. Bài viết sẽ chỉ ra những kết quả đạt được, một số bất cập cũng như một số khuyến nghị để việc thực hiện Nghị định 67 diễn ra thuận lợi hơn, đạt được các mục tiêu đã đề ra.
1. Ngành đánh bắt thuỷ sản Việt Nam và sự ra đời của Nghị định 67/2014/NĐ-CP
1.1. Ngành đánh bắt thủy sản Việt Nam
Việt Nam nằm trong bán đảo Trung Ấn được thiên nhiên dành cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thủy sản. Với bờ biển dài hơn 3200 km trải dài suốt 13 vĩ độ Bắc Nam, biển Việt Nam có khoảng 11.000 loài sinh vật, trong đó có 6000 động vật đáy, trên 2038 loài cá, trong đó khoảng 130 loài có giá trị kinh tế. Ngoài ra, biển nước ta còn có 657 loài động vật phù du, 653 loài rong biển [1]. Chính những lợi thế về điều kiện tự nhiên đã tạo điều kiện phát triển ngành đánh bắt thủy sản ở Việt Nam, làm cho ngành này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đất nước trên các khía cạnh: (1) Ngành đánh bắt thủy sản cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng về đạm và vitamin. Theo Hội nghề cá Khánh Hoà, 50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm cho người dân trong nước [2]; (2) Đánh bắt thủy sản góp phần tạo công ăn việc làm, giúp nhiều hộ gia đình ven biển thoát khỏi đói nghèo [2]; (3) Đánh bắt thủy sản góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn, giúp phát triển nền kinh tế biển, đồng thời tạo nguồn xuất khẩu quan trọng cho đất nước [2]; (4) Đánh bắt thủy sản góp phần đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh quốc phòng, nhất là ở vùng biển xa và hải đảo [2]. Trong giai đoạn 2012 - 2014, tổng sản lượng thủy sản nước ta tăng đều qua các năm, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Năm 2014, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 6.304 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2013; sản lượng khai thác thủy sản đạt khoảng 2.684 nghìn tấn, chiếm 42,58% tổng sản lượng thủy sản với giá trị là 73.023,3 tỷ đồng, chiếm 38,82% tổng giá trị sản xuất thủy sản. [3,tr1][4,tr1]. (Bảng 1)
Bảng 1: Sản lượng thủy sản nước ta giai đoạn 2012-2014
Hạng mục |
Đơn vị |
Năm 2012 |
Tỷ lệ (%) |
Năm 2013 |
Tỷ lệ (%) |
Năm 2014 |
Tỷ lệ (%) |
Tổng sản lượng thủy sản |
1000 tấn |
5.925 |
100 |
5.938 |
100 |
6.304 |
100 |
1.Khai thác thủy sản |
1000 tấn |
2.652 |
44,76 |
2.725 |
45,89 |
2.684 |
42,58 |
+Khai thác hải sản |
1000 tấn |
2.440 |
41,18 |
2.526 |
42,53 |
2.495 |
39,57 |
+Khai thác nội địa |
1000 tấn |
212 |
3,58 |
145 |
2,44 |
189 |
3 |
2.Nuôi trồng thủy sản |
1000 tấn |
3.273 |
55,24 |
3.213 |
54,11 |
3.620 |
57,42 |
SL tôm nước lợ |
1000 tấn |
488 |
|
400 |
|
660 |
|
SL cá tra |
1000 tấn |
1.244 |
|
997 |
|
1.100 |
|
Nguồn: Tổng cục Thủy sản
Một trong những nguyên nhân của sự tăng trưởng đến từ quy mô và cơ cấu đội tàu khai thác trên cả nước có những thay đổi rõ rệt. Tổng số tàu cá cả nước năm 2013 là 117.998 tàu cá với tổng công suất khoảng 10 triệu CV và công suất trung bình mỗi tàu là 84,74CV, tăng 37,8 CV/tàu so với năm 2001. Số tàu có công suất lớn hơn 90 CV có xu hướng tăng lên, hết năm 2013, số tàu trên 90 CV là 28.285 chiếc (chiếm 23,1% tổng số tàu), tăng 471% so với năm 2001 [5,tr6][6; tr7,tr8][7]. Bên cạnh đó, năng suất lao động trong ngành có xu hướng tăng nhẹ (0,7%/năm) nhưng năng suất theo tàu thuyền, và công suất lại có xu hướng giảm từ 0,49 tấn/CV xuống 0,37 tấn/CV (giảm 3,1%/năm) [5,tr8]. Điều này chứng tỏ, sự gia tăng tổng công suất máy không tương xứng với sự gia tăng tổng sản lượng khai thác. (Biểu đồ 1)
Biểu đồ 1. Cơ cấu tàu khai thác thủy sản theo công suất
Thực trạng này đến từ các nguyên nhân như: Nghề khai thác hải sản phát triển tự phát, công tác quản lý tàu cá còn nhiều bất cập, số lượng tàu thuyền trên từng vùng biển chưa phù hợp với khả năng cho phép của nguồn lợi. Trong khi nguồn hải sản xa bờ còn rất dồi dào thì nguồn hải sản gần bờ dần cạn kiệt… dẫn đến việc nhiều ngư dân bỏ nghề.
Trước vai trò quan trọng của đánh bắt thủy sản và những vấn đề tồn tại, Nhà nước đã chủ trương tạo điều kiện, khuyến khích phát triển nghề cá, đặc biệt là đánh bắt xa bờ, cụ thể bằng việc ban hành Nghị định 67/NĐ-CP để hỗ trợ ngư dân bám biển.
1.2. Sự ra đời và nội dung Nghị định 67/2014/NĐ-CP
Nghị định 67 được ban hành với một số chính sách hỗ trợ phát triển mạnh mẽ ngành đánh bắt thủy sản, cũng như dần thay đổi phương thức đánh bắt cũ, hình thành phương thức đánh bắt mới hiện đại, nâng cao giá trị thủy sản. Nghị định 67 quy định đầy đủ, đồng bộ các chính sách cơ bản nhất cho việc khuyến khích ngư dân đóng tàu công suất lớn, vỏ thép để dần chuyển từ khai thác gần bờ sang khai thác xa bờ có giá trị kinh tế cao hơn, đồng thời góp phần bảo vệ các vùng biển nước ta. Đó là chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng cho khai thác thủy sản gồm các cảng cá, bến cá; chính sách tín dụng; chính sách vay vốn lưu động; chính sách bảo hiểm thân tàu; chính sách bảo hiểm thuyền viên. Trong đó, chính sách nổi bật nhất là chính sách tín dụng hỗ trợ đóng tàu. Chính sách này hướng tới đối tượng là các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, có nhu cầu đóng mới, nâng cấp tàu. Đi vào cụ thể, chính sách tín dụng hỗ trợ đóng tàu được xây dựng trên quan hệ thương mại, không sử dụng tiền từ ngân sách nhà nước cho ngư dân đóng tàu mà nhà nước chỉ hỗ trợ mặt lãi suất, hạn mức, thời hạn... đối với ngư dân vay vốn đóng tàu, nhất là tàu vỏ bọc thép. Nghị định quy định mức lãi suất hết sức ưu đãi từ 1-3%/năm (mức lãi suất thấp nhất hiện nay), Nhà nước cấp bù từ 4-6%, với thời gian cho vay là 11 năm, trong đó có một năm ân hạn, hạn mức cho vay từ 70-95% giá trị đóng mới tàu [8,tr4]. Để triển khai cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện. Theo Quyết định 3602/QĐ-BNN-TCTS, số tàu khai thác hải sản xa bờ đóng mới bổ sung là 2070 chiếc (trong đó, Vịnh Bắc Bộ 41 chiếc; Trung Bộ: 1.057 chiếc; Đông Nam Bộ: 426 chiếc; Tây Nam Bộ: 185 chiếc). Số lượng tàu dịch vụ hậu cần phục vụ cho khai thác hải sản xa bờ đóng mới bổ sung 205 chiếc (trong đó, Vịnh Bắc Bộ: 43 chiếc; Trung Bộ: 105 chiếc; Đông Nam Bộ: 37 chiếc; Tây Nam Bộ: 20 chiếc) và được phân bổ cho từng địa phương [9,tr2]. (Biểu đồ 2)
Biểu đồ 2: Số tàu phân bổ theo khu vực
Nghị định 67 được đánh giá là đột phá nhất, hoàn thiện nhất trong các chính sách phát triển thủy sản từ trước đến nay để phát triển nghề cá và giải quyết khó khăn giúp cho ngư dân an tâm bám biển.
2. Quá trình triển khai Nghị định 67
2.1. Lợi ích từ việc tham gia thực hiện Nghị định 67 đối với các bên liên quan trực tiếp
Thực trạng cho thấy nền kinh tế mặc dù có dấu hiệu phục hồi, nhưng vẫn còn rất yếu, hoạt động sản xuất vẫn còn trì trệ khiến dòng vốn ngân hàng bị ứ đọng, tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn còn thấp. Trong khi đó, nguồn cung vốn cho lĩnh vực nghề cá vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Trong hoàn cảnh này, cho vay lĩnh vực phát triển kinh tế biển vẫn là một “đại dương xanh” rộng lớn đối với các ngân hàng. Việc ra đời Nghị định 67 giúp các ngân hàng khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, nếu nguồn vốn được giải ngân, ngân hàng có thể giúp ngư dân phát triển bền vững.Bên cạnh đó, với sự đa dạng và phong phú về nguồn hải sản cùng sự hoạch định phát triển thì ngành đánh bắt hải sản có tiểm năng phát triển lớn, từ đó ngân hàng có thể mở rộng thị trường, mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khách hàng trong phân khúc tín dụng biển. Ngoài ra, tham gia vào hoạt động này, ngân hàng có thêm nguồn thu lãi trong lĩnh vực này - đây là nguồn khá ổn định và an toàn.
Theo Nghị định 67, với tàu thép đóng mới có công suất máy chính từ 400-800CV, ngư dân sẽ chịu lãi suất 7%/năm nhưng lại được ngân sách nhà nước hỗ trợ 5%/năm, với tàu vỏ thép đóng mới có công suất trên 800CV, ngân sách nhà nước hỗ trợ tới 6%/năm, với tàu vỏ gỗ đóng mới, ngân sách nhà nước hỗ trợ 4% và 4% cũng là mức hỗ trợ đối với tàu vỏ gỗ đóng mới nhưng được gia cố bọc thép hoặc bọc vật liệu mới, nếu ngư dân vay vốn để nâng cấp tàu cũng được hỗ trợ với lãi suất rất ưu đãi [8,tr4].
2.2. Triển khai Nghị định 67 và các kết quả đạt được
Ngay sau khi Nghị định có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chỉ định 5 ngân hàng thương mại nhà nước trích 14.000 tỷ đồng để cho ngư dân vay bao gồm: Agribank 5.000 tỷ đồng, BIDV 3.000 tỷ đồng, Vietinbank 3.000 tỷ đồng, MHB 2.000 tỷ đồng, Vietcombank 1.000 tỷ đồng. Đây là chương trình có mục tiêu khác với cho vay thương mại đối với lĩnh vực nghề cá thông thường do hiệu ứng xã hội và bảo vệ chủ quyền rất lớn nên các ngân hàng thương mại rất tích cực tham gia vào Chương trình này. Các ngân hàng đã tổ chức các tổ công tác trực tiếp xuống các xã, phường, thị trấn để hướng dẫn người dân hoàn thiện hồ sơ, thủ tục vay vốn theo quy định, đảm bảo người dân được vay trực tiếp tại ngân hàng, nhằm hạn chế tối đa việc vay vốn đóng tàu thông qua môi giới tín dụng. Đồng thời, hệ thống ngân hàng thành lập đường dây nóng để tiếp nhận và phản hồi kịp thời những thắc mắc của người dân khi tham gia chương trình, xử lý nghiêm minh những cán bộ ngân hàng vi phạm quy định…[10].
Cụ thể với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng chủ động tích cực nhất trong việc triển khai cả trước và sau khi Nghị định 67 ra đời.Từ khi còn dự thảo chính sách cho Nghị định 67, BIDV đã chủ động nghiên cứu, tích cực tham gia đóng góp các ý kiến thiết thực để hoàn thiện Nghị định và các dự thảo Thông tư hướng dẫn triển khai Nghị định. Tháng 6/2014, BIDV đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hai tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi (hai địa phương có đội tàu lớn nhất khai thác hải sản xa bờ tại ngư trường Hoàng Sa và Trường Sa) tổ chức các buổi tọa đàm, lấy ý kiến trực tiếp của bà con ngư dân, các nhà khoa học, các cấp chính quyền địa phương, các đơn vị liên quan về các chính sách phát triển thủy sản của Chính phủ, chương trình tín dụng khai thác hải sản xa bờ [11]... Nhiều kiến nghị của BIDV đã được Ban soạn thảo tiếp thu, đưa vào Nghị định và các thông tư hướng dẫn.
Ngay sau khi Nghị định 67 được ban hành, BIDV đã có những hành động cụ thể bằng việc thành lập Ban chỉ đạo triển khai Nghị định 67 của Chính phủ và Thông tư 22 của NHNN. Các hoạt động nổi bật: (1) Tổ chức tập huấn cho 54 chi nhánh tại 28 tỉnh/thành phố triển khai chương trình; làm việc trực tiếp với chính quyền các tỉnh, thành phố để nắm bắt nhu cầu và thống nhất phương án phối hợp triển khai cho vay; giới thiệu chương trình cho vay đánh bắt xa bờ và đề án cho vay theo chuỗi giá trị sản xuất cá ngừ đại dương; (2) Xây dựng quy trình, hướng dẫn thủ tục cho vay đối với khách hàng ngắn gọn, đơn giản, phù hợp với Nghị định của Chính phủ về phát triển thuỷ sản và hướng dẫn của NHNN, thời gian cam kết xử lý trả lời trong 04 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ vay vốn[11,tr2]. Với những nỗ lực đó, BIDV đã đạt được những kết quả bước đầu như 05 hợp đồng tín dụng đã được ký kết với tổng trị giá 63,2 tỷ đồng, trong đó 1 tàu vỏ gỗ công suất 900 CV, được ký kết tại Thừa thiên - Huế với số tiền cho vay là 2,2 tỷ đồng và 4 con tàu vỏ thép sẽ được đóng mới được ký kết với ngư dân Bình Định (gồm 3 tàu vỏ thép lưới vây mạn, công suất 880CV với số tiền cho vay đến 95% giá trị là 17,1 tỷ đồng/tàu; 1 tàu vỏ thép lưới vây mạn, công suất 811CV với số tiền hỗ trợ là 9,7 tỷ đồng). Dự kiến đến tháng 7/2015, các tàu cá này sẽ hoàn thiện, bàn giao và đưa vào khai thác, sử dụng [12][13].
Bên cạnh BIDV, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Agribank, ngân hàng đăng kí tham gia với số vốn lớn và đã đạt được một số kết quả, tiêu biểu tại tỉnh Quảng Ngãi. Đến thời điểm đầu tháng 3/2015, Agribank đã ký kết 4 hợp đồng tín dụng, trong đó, Agribank đã ký kết hợp đồng tín dụng cho vay Dự án đóng mới tàu vỏ thép dịch vụ hậu cần nghề cá với Công ty Cổ phần thủy sản Lý Sơn có tổng nhu cầu vốn là 25 tỷ đồng, vốn cho vay của Agribank là 20,4 tỷ đồng. Đặc biệt hơn, tàu cá vỏ gỗ có công suất 765 CV có tổng giá trị 6,3 tỷ đồng do Agribank ký kết cho vay (chiếm 70% kinh phí) với ngư dân tỉnh Quảng Ngãi đã hạ thủy [14][15].
Còn lại 3 ngân hàng còn lại trong nhóm 5 ngân hàng đã cam kết tham gia chương trình là Vietcombank, VietinBank, MHB, vẫn còn rất e dè và chưa tạo nhiều chuyển biến lớn trong việc thực hiện Nghị định 67. (Biểu đồ 3)
Biểu đồ 3. Tiến độ triển khai Nghị định 67
Tổng hợp sau hơn 6 tháng kể từ khi có hiệu lực, việc triển khai Nghị định 67 tại các địa phương được phân bổ trong cả nước rất chậm chạp, chưa có nhiều tiến triển. Đến nay, có 10 hợp đồng tín dụng giữa các ngân hàng thương mại và chủ tàu đóng mới được ký kết với tổng số tiền trên 127 tỷ đồng, trong đó, Bình Định 4 tàu, Thừa Thiên - Huế 2 tàu, Quảng Ngãi 2 tàu, Khánh Hòa 1 tàu và Bà Rịa - Vũng Tàu 1 tàu[24].
Như vậy, tình hình triển khai Nghị định 67 tại các ngân hàng, mới chỉ có BIDV tại Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa và Bình Định, Agribank tại Thừa Thiên Huế và Quảng Ngãi đạt được những kết quả ban đầu. Kết quả này đạt được sau 6 tháng triển khai Nghị định là khá khiêm tốn.
2.3. Nguyên nhân một số bất cập khi triển khai thực hiện Nghị định 67
2.3.1. Nguyên nhân từ chính sách
Các chính sách mặc dù được ban hành, song chưa thực sự rõ ràng: (i) “Đánh bắt xa bờ”, “ngư trường” dù được nhắc nhiều, nhưng lại không có định nghĩa cụ thể; (ii) Điều 4 về chính sách tín dụng, phần điều kiện vay ghi rõ là các đối tượng đang hoạt động nghề cá có hiệu quả và có khả năng tài chính, nhưng lại không giải thích cụ thể thế nào là tàu cá có hoạt động hiệu quả [25] nên gây khó khăn cho ngân hàng trong khâu thẩm định; (iii) bộ máy thực hiện Nghị định cồng kềnh nên ngư dân muốn vay vốn phải nộp hồ sơ xét duyệt qua nhiều cấp và các cấp có những tiêu chí đánh giá không thống nhất. Dù Nghị định 67 và các văn bản hướng dẫn quy định các cấp chính quyền địa phương có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn, đưa chính sách đến với ngư dân; xác nhận, thẩm định, lập danh sách những chủ tàu đủ điều kiện được hỗ trợ theo Nghị định 67 [8,tr9,tr10][26,tr7,tr8], nhưng trong thực tế, các cơ quan này chưa vào cuộc mạnh mẽ, chưa tuyên truyền chính sách và bị động trước những khó khăn của ngư dân trong quá trình thực hiện [27]
2.3.2. Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Tiến độ trong giải ngân còn chậm theo Nghị định 67 cũng đến từ phía ngân hàng do một số ngân hàng còn do dự, e dè đối với lĩnh vực này bởi những nguyên nhân sau:
- Tín dụng đóng tàu vẫn là lĩnh vực khá mới mẻ với các ngân hàng. Ngoài BIDV và Agribank, các ngân hàng hàng còn lại chưa có nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là sự thiếu hụt về nhân lực có chuyên môn về ngành để thẩm định hiệu quả một hợp đồng đóng tàu.
- Một trong những nguyên tắc cơ bản của tín dụng là khả năng thu hồi vốn. Với loại hình cho vay đặc thù này, nguồn thu nợ chủ yếu đến từ hoạt động khai thác và kinh doanh của chủ tàu, nhưng nguồn thu nhập này lại khó kiểm soát do: (1) Đây là nguồn thu không ổn định và có nhiều biến động. Sản lượng hải sản mỗi chuyến ra khơi phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết và luồng cá. Nếu thời tiết tốt và gặp được luồng cá thì tàu sẽ thu được mẻ cá lớn. Ngược lại, thời tiết xấu, không gặp được luồng cá, không những thất thu mà con tàu và các thuyền viên còn gặp rủi ro lớn. Do đó, ngân hàng không thể ước lượng một con số cố định về sản lượng đánh bắt mỗi chuyến ra khơi [28]; (2) Rất khó xác định dòng tiền để ghi chép, theo dõi trong hồ sơ. Do giá cả hải sản trên thị trường biến đổi hàng ngày và phụ thuộc vào tư thương. Đồng thời, đánh bắt ở ngư trường xa khiến ngư dân phải neo đậu ở các địa phương ngoài tỉnh nên ngân hàng rất khó khăn trong việc kiểm tra, quản lý dòng tiền sau khi ngư dân bán hải sản khai thác [29][30]; (3) Xác định chi phí mỗi chuyến ra khơi cũng không dễ dàng [31].
- Khi rủi ro xảy ra, khách hàng không có khả năng hoàn trả khoản vay cho ngân hàng thì tài sản đảm bảo là "tấm đệm", là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng. Trong trường hợp này, tài sản đảm bảo là con tàu - không phải là "tấm đệm" hoàn hảo, bởi nó tham gia trực tiếp vào mỗi chuyến xa khơi, mang nhiều rủi ro tai nạn, rủi ro hư hỏng và phần lớn do thiên tai. Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản, trong 5 năm (2007-2012), cả nước có 4.737 vụ tai nạn tàu cá trên biển, trong đó, năm 2007, có 908 vụ và giảm xuống còn 805 vụ vào năm 2011; năm 2012, đã có 518 vụ. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và diễn biến thời tiết trên biển phức tạp, khó lường, với tần suất cao và cấp độ lớn (năm 2007-2012 có 45 cơn bão và 23 đợt áp thấp trên biển Đông, bình quân mỗi năm cả nước có 9 cơn bão) [32]. Tài sản đảm bảo trong trường hợp này là những tài sản di động, hoạt động ngoài vùng biển xa nên dễ xuống cấp, hư hỏng, khả năng thanh khoản yếu. Hơn nữa, nếu chủ phương tiện cố tình không đưa tàu về bến địa phương mà neo đậu ở các bến của các tỉnh ở xa, ngân hàng sẽ rất khó khăn thu hồi tài sản đảm bảo nên dù Nghị định 67 cũng đã quy định về chính sách bảo hiểm cho tàu, nhưng ngân hàng vẫn khó có thể yên tâm khi nắm giữ tài sản đảm bảo mang nhiều rủi ro như vậy.
Chính những lý do này, nhiều ngân hàng đã đặt ra yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo đối với các ngư dân.
3. Các khuyến nghị đẩy nhanh tiến độ triển khai Nghị định 67
3.1. Đối với các ngân hàng thương mại
Trước thực trạng ngư dân chưa tiếp cận được nhiều với nguồn vốn vay trong khi đây lại là mắt xích quan trọng nhất của Nghị định 67, một số khuyến nghị đã được nghiên cứu và đưa ra cho các ngân hàng thương mại gồm:
- Để giải quyết vấn đề thiếu hụt nhân lực ngân hàng có chuyên môn trong lĩnh vực thủy hải sản - đóng tàu, ngân hàng có thể nghiên cứu thực hiện theo hai hướng: (1) Thực hiện đào tạo nguồn nhân lực sẵn có thông qua việc mở các lớp đào tạo ngắn hạn về kỹ thuật tàu phục vụ cho khâu thẩm định, giám sát; các lớp cung cấp kiến thức về thủy hải sản phục vụ cho khâu kiểm soát nguồn thu. Ngân hàng có thể thuê các chuyên gia có chuyên môn sâu trong từng lĩnh vực về làm giảng viên, đồng thời liên kết chặt chẽ với cơ sở đóng tàu để đảm bảo cả kiến thức lý thuyết lẫn thực hành; (2) Tuyển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của công việc. Bên cạnh việc tuyển nhân viên có chuyên môn về lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có thể tuyển nhân viên am hiểu về tàu biển, thủy hải sản và tiến hành đào tạo thêm kiến thức ngân hàng hoặc kết hợp song song giữa nhân viên này với nhân viên có kiến thức ngân hàng. Ngoài ra, ngân hàng có thể thuê các chuyên gia thẩm định có kinh nghiêm về tàu biển cũng như thủy sản.
- Thực trạng hiện nay cho thấy ngư dân gặp khó khăn từ việc lập hồ sơ và hiểu các chính sách tín dụng của từng ngân hàng. Do đó, các ngân hàng cần tổ chức nhiều hơn nữa các buổi tiếp xúc giữa đại diện ngân hàng với ngư dân để tháo gỡ những khó khăn trong thủ tục - hồ sơ cho khách hàng, đồng thời phổ biến rõ hơn về chính sách tín dụng ưu đãi và những điều riêng biệt của ngân hàng đến với ngư dân. Điều này giúp các ngư dân dễ dàng hơn trong việc lập hồ sơ vay vốn theo đúng yêu cầu, giảm được các trường hợp ngư dân phải làm lại hồ sơ nhiều lần làm kéo dài thời gian giải ngân nguồn vốn.
- Về tài sản đảm bảo. Tài sản đảm bảo vốn vay đóng tàu chính là con tàu hình thành từ vốn vay sẽ khiến ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn trong việc quản lý và phát mại tài sản đảm bảo nếu ngư dân không có khả năng trả nợ. Vì vậy, để giảm bớt rủi ro, bên cạnh việc thu nợ, hàng kỳ, các ngân hàng thương mại yêu cầu ngư dân gửi vào ngân hàng một số tiền nhất định dựa trên sản lượng đánh bắt và ngân hàng sẽ trả lãi tiền gửi cho khoản tiền này. Khi kết thúc hợp đồng vay nợ, nếu hoàn trả hết nợ, ngư dân có quyền rút và được toàn quyền sử dụng số dư trong tài khoản này, đây sẽ là khoản đảm bảo rủi ro nếu chuyến ra khơi không được như ý muốn.
3.2. Đối với các Bộ, ngành liên quan
Để chương trình đạt được mục tiêu, sự nỗ lực từ phía các ngân hàng thương mại là chưa đủ, cần phải có sự nỗ lực đồng bộ từ tất cả các bên tham gia vào tiến trình thực hiện.
Thứ nhất, Chính phủ cần có các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện “Kế hoạch hành động phát triển ngành công nghiệp đóng tàu”, để các cơ sở đóng tàu có thể nhanh chóng tiếp cận được với những chính sách ưu đãi về thuế, thủ tục hải quan, chính sách tín dụng cũng như có nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu đóng tàu và yêu cầu của sự phát triển trong lĩnh vực đánh bắt thủy hải sản [33]
Thứ hai, khuyến khích ngư dân xây dựng các mô hình tiểu đội, chuyển đổi từ phương thức đánh bắt nhỏ lẻ sang đánh bắt theo nhóm, đội để hỗ trợ nhau trong quá trình ra khơi. Các cấp chính quyền địa phương cần phải tiếp xúc và giải thích, giúp ngư dân thay đổi suy nghĩ, hiểu về những lợi ích của phương thức sản xuất mới, đồng thời hướng dẫn ngư dân cách xây dựng mô hình thông qua việc xây dựng một mô hình mẫu.
Thứ ba, cần đề ra những chính sách cụ thể để quản lý và phát triển đồng bộ, hiệu quả toàn bộ chuỗi sản xuất từ khai thác, thu mua, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch 25 - 30% như hiện nay xuống còn dưới 10%. Có như vậy, các đội tàu mới phát huy được tác dụng và hiệu quả trong khai thác. Ngư dân mới thực sự được hưởng lợi từ thành quả lao động của mình. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đóng mới, đào tạo thuỷ thủ trên các tàu dịch vụ hậu cần nghề cá, vừa tạo thêm công ăn việc làm, vừa giảm thiểu chi phí cho ngư dân vì không phải ra vào đất liền nhiều lần.
Thứ tư, Cần nhanh chóng triển khai các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng về cầu cảng, luồng hàng hải, các khu neo đậu, tránh trú bão để giảm thiệt hại tối đa khi có bão xảy ra, đảm bảo cho việc giao thương diễn ra thuận lợi, tạo điều kiện cho nghề đánh bắt cá phát triển.
Thứ năm, tích cực thực hiện liên kết, phối hợp đồng bộ giữa các bên tham gia: (i) Tăng cường sự phối hợp giữa ba bên: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đơn vị đóng tàu và ngư dân. Trên cơ sở kết hợp những kiến thức kỹ thuật của các chuyên gia của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, những kinh nghiệm thực tế của các cơ sở đóng tàu và những kinh nghiệm, hiểu biết về đặc điểm các ngư trường của ngư dân để nhanh chóng hình thành nên các mẫu thiết kế đảm bảo các thông số kỹ thuật, cũng như đáp ứng được yêu cầu của ngư dân; tránh tình trạng ngư dân đợi vốn, vốn đợi tàu; (ii) Phân cấp rõ ràng và duy trì sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp thẩm định: các cấp chính quyền địa phương, các ngân hàng thương mại. Chính quyền địa phương gần gũi và nắm rõ tình hình hoạt động đánh bắt của các ngư hộ, do đó, sẽ thẩm định các hồ sơ vay vốn dựa trên các tiêu chí định tính như kinh nghiệm và nhiệt huyết dành cho nghề đánh bắt, uy tín và mức độ trung thực, thiện trí vay vốn và trả nợ… Các ngân hàng thương mại có trình độ, kinh nghiệm trong việc thẩm định sẽ thẩm định về khả năng tài chính, phương án vay vốn. Sự phối hợp giữa các cấp này nếu không được duy trì tốt có thể dẫn đến việc tồn tại khoảng cách không nhỏ giữa tiêu chuẩn cho vay của ngân hàng và tiêu chí xét duyệt của các cơ quan nhà nước. Điều này khiến ngân hàng mất thêm thời gian thẩm định lại hồ sơ vay vốn của ngư dân, thời gian đồng vốn đến được tay ngư dân sẽ bị kéo dài; (iii) Thường xuyên liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa các bên để tạo liên kết đầu ra, đầu vào cho ngư dân, đảm bảo việc sản xuất có hiệu quả và khả năng thu hồi nợ của ngân hàng. Về đầu vào, bên cạnh cho vay theo Nghị định 67, các ngân hàng thương mại có thể kết hợp cung cấp các gói tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn lưu động, đảm bảo cho ngư dân không lâm vào tình trạng chịu lãi kép: lãi tín dụng ngân hàng đóng tàu, lãi tín dụng đen đáp ứng vốn lưu động, làm tăng rủi ro trong thu hồi nợ của ngân hàng. Đồng thời, các ngân hàng có thể ký những hợp đồng liên kết ba bên: ngân hàng thương mại - ngư dân - công ty thu mua thủy hải sản. Theo đó, các công ty thu mua sẽ cam kết mua hết số lượng cá đạt yêu cầu nhất định của ngư dân theo giá đã thỏa thuận từ trước. Công ty sẽ chuyển khoản trực tiếp cho ngân hàng để thực hiện trả nợ cho ngư dân. Phần này sẽ được trừ vào số tiền phải trả cho ngư dân của công ty. Phương pháp này giúp ngư dân an tâm về đầu ra, tránh tình trạng bị tư thương ép giá. Thông qua đơn vị thu mua, ngân hàng cũng dễ dàng trong kiểm soát dòng tiền và thu nợ định kỳ, tránh được tình trạng khai sai sự thật hay trì hoãn trả nợ từ phía người dân; (iv) Thắt chặt phối hợp giữa ngân hàng và cơ quan đảm bảo an ninh biển. Sự phối hợp này giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong giám sát tài sản đảm bảo ở các bến tàu, đồng thời giảm thiểu những rủi ro trong quá trình ngư dân ra khơi đánh bắt cũng như quá trình phát mại tài sản đảm bảo của ngân hàng.
Có thể nói, ban hành và thực thi các chính sách để phát triển ngư dân đóng tàu là một nội dung không mới nhưng trước bối cảnh bức thiết về kinh tế cộng với áp lực bảo vệ chủ quyền biển đảo thì đây lại là nội dung có tính thời sự cao. Thông qua các số liệu về ngành thuỷ sản và số lượng tàu đánh bắt, bài viết phân tích và đưa ra các giải pháp góp phần khơi thông nguồn tín dụng đối với các ngư dân đóng tàu, để những người ngư dân có đầy đủ công cụ để hoàn thành sứ mệnh kinh tế và quốc phòng với đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Vương Hà (2013), Xây dựng các khu bảo tồn biển Việt Nam phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hộ bền vững, truy cập ngày 06 tháng 03 năm 2015, từ :
http://www.fistenet.gov.vn/d-khai-thac-bao-ve/b-bao-ve-nguon-loi/xay-dung-cac-khu-bao-ton-bien-viet-nam-phuc-vu-bao-ton-111a-dang-sinh-hoc-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-ben-vung/.
2. Hội nghề cá Khánh Hòa (2014), truy cập ngày 27 tháng 03 năm 2015, từhttp://www.khafa.org.vn/?file=privateres/htm/xnk/tt_vt.htm.aspx
3. Tổng cục thủy sản (2014), Tình hình sản xuất thủy sản năm 2014, Hà Nội.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 12 tháng năm 2013 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hà Nội.
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Dự thảo đề án tổ chức lại khai thác hải sản năm 2012, Hà Nội.
6. Tổng cục thủy sản (2013), Kế hoạch hành động quốc gia quản lý năng lực khai thác hải sản Việt Nam, Hà Nội.
7. Giúp ngư dân làm chủ biển khơi (2014), truy cập ngày 06 tháng 03 năm 2015, từ http://tapchitaichinh.vn/Kinh-te-Dau-tu/Giup-ngu-dan-lam-chu-bien-khoi/50369.tctc>.
8. Chính phủ (2014), Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản, ban hành ngày 07 tháng 07 năm 2014.
9. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Quyết định 3602/QĐ-BNN-TCTS hướng dẫn số lượng tàu cá đóng mới thực hiện Nghị định số 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, ban hành ngày 19 tháng 08 năm 2014.
10. Ngọc Quyết (2014), Hội nghị Triển khai Nghị định 67 của chính phủ về một số chính sách thủy sản, truy cập ngày 06 tháng 03 năm 2015, từ:
http://sbv.gov.vn/portal/faces/vi/vilinks/videtail/vicm101/vict101;jsessionid=CR21J22JZNvLzGQ0McQKLLkJQgWnS5mJLM1ynybl0cZRd2yG2Pf3!-2121781221!254918861?dDocName=CNTHWEBAP0116211766939&_afrLoop=941807478402300&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3Dnull%26_afrLoop%3D941807478402300%26dDocName%3DCNTHWEBAP0116211766939%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D10b1v8ccr3_4
11. Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (2014), BIDV triển khai Chương trình tín dụng phát triển thủy sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP, Thông cáo báo chí ngày 05 tháng 09, Hà Nội .
12. 4 ngư dân Bình Định đầu tiên được vay vốn đóng tàu vỏ thép theo Nghị định 67(03/02/2015) (2015), truy cập ngày 07/03/2015, từ:
http://binhdinh.gov.vn/inetcloud/portal/main/page/news/chitiet.ivt?intl=vi&id=54d0d97e02f2cfe964f9e28b>
13. Tăng tốc hơn, hiệu quả hơn trong đánh bắt xa bờ (2015), truy cập ngày 07/03/2015, từ: https://www.thuathienhue.gov.vn/PortalNews/Detail/22715/Tang_toc_hon_hieu_qua_hon_trong_danh_bat_xa_bo.html>
14. Tàu cá đóng mới đầu tiên theo Nghị định 67 đã được hạ thủy (2015), truy cập ngày 07/03/2015, từ: http://ubnd.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/bangtin/2015/92198/>
15. Agribank Quảng Ngãi ký kết hợp đồng tín dụng đóng tàu vỏ thép theo Nghị định 67, (2015), truy cập ngày 07/03/2015, từ:
http://ubnd.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/bangtin/2015/92198/>
16. Quảng Ngãi: Phê duyệt đóng mới, nâng cấp 27 tàu cá theo NĐ67,(2015), truy cập ngày 07/03/2015, từ: http://vtv.vn/kinh-te/quang-ngai-phe-duyet-dong-moi-nang-cap-27-tau-ca-theo-nd-67-20150108205145191.htm>
17. Phú Yên: Phê duyệt vốn vay đóng mới 19 tàu cá (2015). Truy cập ngày 07/03/2015, từ: http://www.antv.gov.vn/tin-tuc/xa-hoi/phu-yen-phe-duyet-von-vay-dong-moi-19-tau-ca-142127.html>
18. Ngư dân phấn khởi với vốn ưu đãi đóng tàu (2015), truy cập ngày 07/03/2015, từ: http://www.baokhanhhoa.com.vn/kinh-te/201412/ngu-dan-phan-khoi-voi-von-uu-dai-dong-tau-2361015/>
19. Thực hiện Nghị định số 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản (2015), truy cập ngày 07/03/2015, từ:
http://sonnptnt.nghean.vn/sonn_new/default/explorer/news/1698?folder_id=94>
20. Tập trung triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ ngư dân tỉnh Kiên Giang (2015), truy cập ngày 07/03/2015, từ:
http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1539781?pers_id=2177092&item_id=160754419&p_details=1>
21. Hồng Nhung (2015), Quảng Ninh: 45 chủ tàu được hỗ trợ đóng mới, nâng cấp tàu cá theo Nghị định 67, truy cập ngày 07/03/2015, từ: http://baoquangninh.com.vn/kinh-te/chuyen-dong-qn/201501/quang-ninh-45-chu-tau-duoc-ho-tro-dong-moi-nang-cap-tau-ca-theo-nghi-dinh-67-2256213/>
22. Thạch Hà (2015), Đóng tàu theo Nghị định 67 ở Quảng Nam: Chưa tàu nào được vay vốn, truy cập ngày 07/03/2015, từ: http://cadn.com.vn/news/99_127150_dong-tau-theo-nghi-dinh-67-o-quang-nam-chua-co-tau-nao-duoc-vay-von.aspx>
23. Phan Minh Minh (2015), Công bố danh sách đóng mới, nâng cấp tàu cá theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ, truy cập ngày 07/03/2015, từ: http://snnptnt.binhthuan.gov.vn/wps/portal/home/tintuc/!ut/p/c4/04_8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3hfRxMDTyNnA3cLPzdDA88woxBfc89gQx9zA_2CbEdFAMfMzTk!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sbn_nnptnt_vi/sbn_nnptnt/kho_noi_dung/tin_tuc/tts/86cfae0046694e5fa125f3f25f843528>
24. Kim Phượng (2015), Sơ kết 6 tháng thực hiện Nghị định 67, truy cập ngày 07/03/2015, từ:
http://thuysanvietnam.com.vn/so-ket-6-thang-thuc-hien-nghi-dinh-67-article-11107.tsvn.
25. Ngọc Thọ, Dương Thảo (2015), Triển khai Nghị định 67: “Cần sớm tháo gỡ khó khăn cho ngư dân”, truy cập ngày 29/03/2015, từ: http://thuysanvietnam.com.vn/trien-khai-nghi-dinh-67-can-som-thao-go-kho-khan-cho-ngu-dan-article-11159.tsvn Chính phủ (2014), Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản, ban hành ngày 07 tháng 07 năm 2014.
26. Bộ Tài chính (2014), Thông tư 117/2014/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, ban hành ngày 21 tháng 8 năm 2014.
27. Nguyễn Hùng, Văn Thắng (2014), Khó tiếp cận vốn đóng tàu, truy cập ngày 29/03/2015, từ: http://www.sggp.org.vn/thongtincanuoc/mientrung/2014/12/371197/
28. Doãn Công (2015), Ngư dân mất mùa cá ngừ đại dương, truy cập ngày 29/03/2015, từ: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/ngu-dan-mat-mua-ca-ngu-dai-duong-1042305.htm
29. Vietnamplus (2015), Kiên Giang: Giá hải sản giảm ngư dân ngừng đi biển, truy cập ngày 29/03/2015 từ: http://www.tinmoi.vn/kien-giang-gia-hai-san-giam-ngu-dan-ngung-di-bien-01926640.html
30. Đình Thiên, Biến động giá: Mực rớt giá thê thảm nhất từ trước đến nay, truy cập ngày 29/03/2015 từ: http://finance.tvsi.com.vn/News/201282/212458/bien-dong-gia-muc-rot-gia-the-tham-nhat-tu-truoc-den-nay.aspx
31. Thanh Nhị, Nỗi lo khi xăng, dầu, điện tăng giá, truy cập ngày 20/03/2015, từ: http://baoquangngai.vn/channel/2034/201503/noi-lo-khi-xang-dau-dien-tang-gia-2377968/
32. Hồ Công Hường (2013), An toàn tàu cá trên biển và giải pháp giúp ngư dân bám biển, truy cập ngày 06 tháng 03 năm 2015, từ: http://www.fistenet.gov.vn/d-khai-thac-bao-ve/a-ktts/an-toan-tau-ca-tren-bien-va-giai-phap-giup-ngu-dan-bam-bien/
33. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định phê duyệt kế hoạch hành động phát triển ngành công nghiệp đóng tàu thực hiện chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản, hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030, ban hành ngày 22 tháng 10 năm 2014.
1 Viện Ngân hàng tài chính – ĐH Kinh tế quốc dân