Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Hợp tác nghiên cứu

TẦM QUAN TRỌNG CỦA ỔN ĐỊNH KHU VỰC TÀI CHÍNH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

14/08/2014 23:00:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Ngày 30/5/2014 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội thảo với chủ đề “Vai trò của NHNN đối với sự ổn định của hệ thống tài chính”. Các tác giả đã có nhiều bài viết chuyên sâu đóng góp cho hội thảo. Nhằm đáp ứng nhu cầu tham khảo nghiên cứu của Quý bạn đọc, Tổ Biên tập sẽ tập hợp và đăng tải chùm bài viết nổi bật nhất.

 

Khi nghiên cứu về lịch sử phát triển của khu vực tài chính, người ta nhận thấy rằng các giao dịch về tài chính được ghi lại đầu tiên chính là các giao dịch về thuế. Ngoài ra, người ta cũng tìm thấy những bằng chứng về những khoản vay liên quan đến thóc giống của nông dân Mesopotamian vào năm 3000 trước công nguyên. Tuy nhiên, những giao dịch này mới chỉ được coi là manh nha về việc hình thành nên một khu vực tài chính chứ chưa thể được coi là một khu vực tài chính thực sự. Đến năm 250 trước công nguyên, mô hình ngân hàng sơ khai đã được ghi nhận ở Ai Cập. Đây được coi là một bước tiến đáng kể trong việc hình thành một khu vực tài chính thực sự trong lịch sử, đã giúp cho các hoạt động kinh tế thời đó ở Ai Cập trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn rất nhiều. Thực tế phát triển của một số nước trên đã chứng minh được tầm quan trọng của khu vực tài chính đến việc phát triển kinh tế và sự thịnh vượng của một quốc gia. Một số nghiên cứu về lý thuyết và định lượng cũng cho thấy sự phát triển của khu vực tài chính có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng và ổn định.

Tuy nhiên, khu vực tài chính chỉ có thể phát huy tính tích cực cho tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội khi khu vực này được phát triển ổn định. Mặc dù chưa có được một sự đồng thuận chung, nhưng tất cả đều nhìn nhận ổn định khu vực tài chính đem lại nhiều lợi ích chung cho xã hội. Lợi ích xã hội này bao gồm: làm tăng khả năng và tính hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính; đơn giản hóa và tối ưu hóa quá trình phát triển kinh tế; nâng cao khả năng điều tiết rủi ro và tái phân chia rủi ro giữa các chủ thể kinh tế; và tránh được những tác động xấu từ các cú sốc đối với nền kinh tế.

Chỉ hơn 10 năm qua, thế giới đã chứng kiến khá nhiều cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ, trong đó có hai cuộc khủng hoảng có quy mô lớn (Khủng hoảng tiền tệ tại Châu Á xuất phát từ Thái Lan năm 1997 – 1998 và khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ Mỹ năm 2007). Dường như không một tổ chức, cá nhân nào có thể thống kê được đầy đủ, chính xác những thiệt hại, tổn thất mà những cuộc khủng hoảng này đã gây ra cho xã hội. Bởi vậy, sự ổn định khu vực tài chính ngày càng được nhìn nhận như một chủ thể quan trọng trong điều hành chính sách công của chính phủ nhiều quốc gia. Nhiều cơ quan chức năng của các nước, đặc biệt các nước có thu nhập cao và trung bình đã tuyên bố sẽ gia tăng mối quan tâm của mình vào khu vực tài chính và sự lành mạnh của khu vực này. Những lý do chính để tăng cường sự quan tâm này là vì chi phí dành cho việc khắc phục khủng hoảng tài chính rất lớn và các quốc gia đều muốn gia tăng hơn nữa tính minh bạch khu vực này. Thêm nữa, sự bùng nổ khối lượng các giao dịch tài chính và tính phức tạp của các công cụ mới ngày càng gia tăng đã khiến cho Chính phủ nhiều nước lo ngại.

Vậy, ổn định khu vực tài chính được hiểu như thế nào?

Theo Ngân hàng Liên bang Đức, “Ổn định tài chính là khả năng của hệ thống tài chính vận hành tốt các chức năng kinh tế vĩ mô chính, kể cả trong thời kỳ kinh tế căng thẳng và thời kỳ điều chỉnh cơ cấu. Điều này giúp phân bổ một cách có hiệu quả các nguồn lực và rủi ro tài chính cũng như tạo cơ sở hạ tầng tài chính hiệu quả”.

Tiếp cận khái niệm về “Ổn định tài chính” theo phương pháp tiếp cận chức năng, G. Schinasi đã có những nghiên cứu cơ bản về hiện tượng của chúng. Theo quan điểm của G. Schinasi, ổn định tài chính – là tình trạng hệ thống tài chính có “khả năng thực hiện đầy đủ, thỏa mãn 2 chức năng cơ bản cùng lúc. Thứ nhất, hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả và liên tục, thúc đẩy quá trình phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế (từ khu vực tiết kiệm sang khu vực đầu tư) và phân chia nguồn lực kinh tế đúng mục đích. Thứ hai, hoạt động của hệ thống tài chính luôn trong tình trạng không bị căng thẳng, không gián đoạn và có thể chống đỡ được những cú sốc, những tác động hay ảnh hưởng không mong đợi từ khu vực kinh tế thực hoặc từ khu vực tài chính.

Trong phương pháp tiếp cận phản diện, nhà kinh tế học A. Crockett cho rằng: “Tôi lựa chọn phương pháp định nghĩa ổn định tài chính là khi nó ở trạng thái bất ổn…. Mất ổn định tài chính – là tình trạng mà chức năng kinh tế có xu hướng bị xấu đi bởi sự biến động giá tài sản tài chính và các định chế tài chính không có khả năng thực hiện các trách nhiệm, nghĩa vụ đã cam kết”. Crokett cho rằng ổn định tài chính cần bảo đảm rằng các định chế chủ chốt trong hệ thống tài chính phải ổn định, trong đó có mức độ tin tưởng cao rằng họ tiếp tục thực hiện được các nghĩa vụ mà không cần sự can thiệp hay hỗ trợ từ bên ngoài; và các thị trường chủ chốt phải ổn định, theo đó các thành viên tham gia có thể giao dịch một cách tin cậy với nhau ở mức giá phản ánh các yếu tố cơ bản và không thay đổi đáng kể trong giai đoạn ngắn khi chưa có sự thay đổi nào trong các yếu tố cơ bản.

Theo phương pháp tiếp cận hỗn hợp, M.Foot cho rằng ổn định tài chính phải có: (i) ổn định tiền tệ, (ii) tỷ lệ thất nghiệp thực tế gần với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên của nền kinh tế, (iii) sự tin tưởng vào hoạt động nói chung của các định chế và thị trường tài chính chủ chốt; và (iv) không có sự thay đổi đáng kể về giá của các tài sản tài chính hay tài sản thực trong nền kinh tế trong các điều kiện (i) và (ii).

Những nghiên cứu đã cho thấy “ổn định tài chính” là một khái niệm phức tạp bởi nó bao trùm tình hình tài chính trong tất cả các khu vực của nền kinh tế quốc dân. Sự thay đổi tình hình tài chính trong bất cứ khu vực nào của nền kinh tế thực hoặc bất cứ khu vực, thị trường bộ phận nào của hệ thống tài chính (hiểu theo nghĩa hẹp của thuật ngữ này), ví dụ như dưới tác động của các cú sốc ngoại sinh, đều tác động đến sự ổn định tài chính của nền kinh tế. Chính vì sự đa dạng của các yếu tố cấu thành và phạm vi rất rộng của khái niệm “ổn định tài chính” đã làm tăng tính chất phức tạp trong việc đánh giá mức độ ổn định tài chính, và khiến cho việc đo lường (lượng hóa mức độ) ổn định tài chính trở nên khó khăn hơn.

Ngoài ra, khái niệm “ổn định tài chính” cũng phản ánh những quan hệ đặc thù của quá trình phát triển kinh tế hiện đại như: quan hệ giữa khu vực tài chính và khu vực nền kinh tế thực; giữa nền tài chính nội địa với nền tài chính tại các quốc gia khác; cũng như mối liên kết tài chính giữa khu vực kinh tế thực với các khu vực khác.

Xuất phát từ khái niệm ổn định tài chính, ổn định khu vực tài chính có thể được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là sự bảo đảm vận hành thông suốt của thị trường tài chính và hoạt động bình thường của các định chế tài chính nhằm cung cấp vốn cho nền kinh tế trong điều kiện không có những biến động lớn về giá cả các tài sản tài chính trong ngắn hạn. Xét từ giác độ hoạt động của hệ thống tài chính, ổn định khu vực tài chính là: (i) phân bổ các nguồn lực kinh tế và thực hiện các quá trình kinh tế (tích luỹ của cải, tăng trưởng kinh tế) một cách hiệu quả; (ii) đánh giá, định giá, quản trị rủi ro tài chính; (iii) duy trì khả năng thực hiện các hoạt động kể trên nhất là trong bối cảnh chịu tác động bởi các cú sốc từ bên ngoài chủ yếu thông qua chức năng tự điều chỉnh của hệ thống tài chính1. Ổn định khu vực tài chính sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định tài chính, và do vậy góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô .

Thực tế của Việt Nam cũng là một minh chứng tốt về tầm quan trọng của ổn định khu vực tài chính đối với sự phát triển kinh tế. Với một hệ thống tài chính phát triển còn ở trình độ thấp, phụ thuộc chủ yếu vào khu vực ngân hàng, những sự ổn định của hệ thống ngân hàng đặc biệt là trong giai đoạn 3 năm trở lại đây đã cho thấy vai trò đóng góp quan trọng cho việc duy trì ổn định tài chính và ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Chính sách tiền tệ đã được điều hành một cách linh hoạt và mềm dẻo với mục tiêu chủ đạo là duy trì lạm phát thấp và ổn định, từ đó đóng góp quan trọng để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Từ năm 2011 đến nay, NHNN đã luôn kiên định theo mục tiêu là ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý, đồng thời chú trọng đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng. Trước bối cảnh lạm phát năm 2011 ở mức cao 18,13%, NHNN đã đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát theo định hướng của Chính phủ là khoảng 7-8% năm 2012 và khoảng 7% trong năm 2013. Theo đó, các giải pháp điều hành trong ngắn hạn đều nhất quán và không ảnh hưởng đến mục tiêu xuyên suốt này. Nhờ đó, lạm phát đã dần được kiểm soát ở mức thấp hơn so với giai đoạn trước. Với mức lạm phát thực tế là 6,81% của năm 2012 và 6,04% trong năm 2013, có thể nói, đây là hai năm đầu tiên trong vòng nhiều năm qua mức lạm phát thực tế sát với mức lạm phát mục tiêu do Quốc hội đề ra. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, tăng trưởng thấp, sản xuất bị thu hẹp do những ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu và quá trình tái cơ cấu mới đang được triển khai, thì việc lạm phát được kiểm soát ở mức thấp đã đóng vai trò quan trọng để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng niềm tin vào nền kinh tế, thúc đẩy mở rộng sản xuất kinh doanh.

Tỷ giá cũng được xem là một trong những thành công trong điều hành chính sách của NHNN trong thời gian qua với thông điệp rõ ràng ngay từ đầu là điều hành linh hoạt nhưng theo xu hướng ổn định để góp phần kiểm soát lạm phát, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, đồng thời tăng được dự trữ ngoại hối. Để làm được điều đó, NHNN đã kiên quyết thực hiện các giải pháp đề ra, đồng thời điều hành nhịp nhàng trong mua - bán, can thiệp thị trường ngoại tệ. Ngay cả khi thị trường có những thông tin, những nhận định có xu hướng trái chiều hoặc bất lợi, tác động đến điều hành chính sách tỷ giá thì NHNN vẫn kiên định với mục tiêu ban đầu. Thực tế cho thấy, dự trữ ngoại hối tăng lên rất nhiều, đến nay đã đạt mức kỷ lục là 35 tỷ USD. Thị trường vàng cũng từng bước được sắp xếp và đổi mới căn bản, đã loại bỏ được rủi ro liên quan đến vàng và cơ bản chấm dứt tình trạng “vàng hóa”, qua đó góp phần ngăn chặn được ảnh hưởng của biến động giá vàng đến tỷ giá, thị trường ngoại hối và ổn định kinh tế vĩ mô. Việc kiểm soát được giá vàng và thị trường vàng là một bước tiến đáng kể của NHNN để kiểm soát được ổn định hệ thống tài chính. Rủi ro liên quan đến kinh doanh vàng của các TCTD về cơ bản đã được xóa bỏ. Tâm lý muốn găm giữ và hoạt động đầu cơ vàng trong dân chúng đã giảm rõ rệt. Nguồn vốn thay vì tập trung lưu trữ dưới hình thái vàng thì đã được huy động vào sản xuất kinh doanh thúc đẩy phát triển nền kinh tế thực.

Thị trường tín dụng được duy trì ổn định và từng bước được điều tiết về mức tăng trưởng hợp lý đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phù hợp trong giai đoạn khó khăn. Trong năm 2013, trước tình hình lạm phát hạ nhiệt và duy trì ổn định, NHNN đã thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát bằng việc tiếp tục giảm thêm 2% các mức lãi suất điều hành chủ chốt, đưa mặt bằng lãi suất về xấp xỉ mức lạm phát được kỳ vọng trong năm (7%). Kỳ vọng lạm phát giảm nhanh và thanh khoản giữ ổn định đã giúp cho mặt bằng lãi suất cho vay trong nền kinh tế 2013 đã tiếp tục được giảm xuống. So với thời điểm cuối năm 2012, lãi suất cho vay giảm từ 2,5% - 3,5% đối với kỳ hạn ngắn, từ 4% - 4,5% đối với trung và dài hạn. Giống như năm 2012, tăng trưởng tín dụng 2013 chậm trong nửa đầu năm nhưng đã có những cải thiện rõ rệt vào những tháng cuối năm. Nếu so với mức 8,91% của năm 2012, tín dụng năm 2013 đã có cải thiện với mức tăng trưởng đạt 12,5% (vượt mục tiêu 12%), dòng tiền trong nền kinh tế đã lưu thông tốt hơn. Bên cạnh đó, nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng cũng đã được thực thi, đóng vai trò quan trọng để hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, vượt qua giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, nhờ đó, từng bước phục hồi sản xuất.

Các giải pháp của NHNN đã góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý ở mức 6,24% trong năm 2011, mức 5,25% trong năm 2012 và 5,42% trong năm 2013. Mức tăng trưởng GDP như vậy, cùng với mức lạm phát dưới 7% thì rõ ràng đã có sự cải thiện về tốc độ tăng trưởng kinh tế thực so với giai đoạn giai đoạn trước đây, khi tăng trưởng GDP đạt 7-8% nhưng lạm phát lên đến trên 2 con số. Đặc biệt là mức tăng trưởng này đạt được trong điều kiện tín dụng được kiểm soát ở mức thấp, chứng tỏ vốn tín dụng đã được sử dụng hiệu quả hơn so với trước đây. Một trong những minh chứng rõ rệt khác cho sự ổn định kinh tế vĩ mô đã được duy trì là niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài ngày càng được củng cố mà biểu hiện là sự phục hồi của đầu tư nước ngoài. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cả năm 2013 ước đạt 21,6 tỷ USD, tăng 54,5% so với cùng kỳ năm trước; vốn thực hiện ước đạt 11,5 tỷ USD, tăng 9,9% so với năm 2012. Điểm đáng chú ý của đầu tư nước ngoài năm 2013 là vốn đầu tư tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực sản xuất, xuất hiện nhiều dự án quy mô lớn của các tập đoàn đa quốc gia, đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật cao. Đây là yếu tố góp phần đáng kể cải thiện cán cân vốn của Việt Nam năm 2013, ổn định tỷ giá đồng nội tệ.

Quá trình tái cấu trúc hệ thống các TCTD đã được tiến hành một cách căn bản, triệt để, toàn diện và thận trọng với những lộ trình thích hợp, từng bước củng cố và nâng cao tính an toàn, hiệu quả của các tổ chức tài chính, đảm bảo quá trình tái cơ cấu không ảnh hưởng đến lợi ích của người gửi tiền và các bên liên quan, không gây ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước, hạn chế tổn thất và chi phí của ngân sách nhà nước. Việc tái cơ cấu không chỉ thực hiện ở các TCTD yếu kém mà với tất cả các TCTD trong hệ thống, từ các tổ chức có quy mô lớn, hoạt động bình thường đến các tổ chức có quy mô nhỏ, các tổ chức trong nước đến các tổ chức nước ngoài theo những định hướng phát triển rõ ràng, phù hợp với năng lực và điều kiện của từng loại hình TCTD, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn hệ thống. Với quan điểm rõ ràng và lộ trình cụ thể quá trình tài cấu trúc hệ thống các TCTD đã được triển khai trong thực tế diễn ra thuận lợi, êm thấm, không gây xáo trộn trong hệ thống và bất ổn trong xã hội, đảm bảo đạt được hiệu quả mục tiêu của chương trình tái cơ cấu. Thông qua công tác tái cơ cấu, năm 2012 và năm 2013, số lượng TCTD đã giảm đi 06 tổ chức (04 NHTM cổ phần và 02 công ty tài chính) thông qua sáp nhập, hợp nhất, giải thể; rút giấy phép 03 chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được chuyển đổi hình thức (Citibank TP HCM, TaipeiFubon TPHCM, Bank of Tokyo Mitshubishi UFJ Hà Nội) và chuyển đổi QTDND Trung ương thành Ngân hàng Hợp tác xã. Tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng được đảm bảo biểu hiện ở mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục ổn định, hoạt động điều hành linh hoạt. Những biến động lãi suất tuy có xuất hiện nhưng chỉ mang tính ngắn hạn, tạm thời và thường tập trung tại các kỳ hạn ngắn 1 tháng trở xuống. Quá trình tái cấu trúc hệ thống các TCTD diễn ra một cách thuận lợi, êm thấm như vậy đã qua đó góp phần từng bước tăng cường tính hiệu quả, an toàn và bền vững của hệ thống ngân hàng, nhờ đó, niềm tin vào hệ thống ngân hàng được củng cố, góp phần giữ vững niềm tin vào hệ thống tài chính.

Như vậy có thể thấy, trong bối cảnh chịu tác động từ cú sốc bên ngoài là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế thế giới, cùng với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế trong nước nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng thì hệ thống ngân hàng – thành tố đặc biệt quan trọng của khu vực tài chính Việt Nam về cơ bản đã vận hành thông suốt các thị trường tiền tệ - tín dụng, các định chế tài chính hoạt động bình thường, đảm bảo ổn định khu vực tài chính và do vậy, đóng góp quan trọng vào sự ổn định kinh tế vĩ mô. Sự ổn định của hệ thống ngân hàng đã giúp cho chức năng huy động và phân bổ các nguồn lực kinh tế được đảm bảo, duy trì cung ứng vốn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, đảm bảo thông suốt cho quá trình lưu thông tiền tệ, phục vụ sản xuất kinh doanh. Đặc biệt là quá trình tái cấu trúc các TCTD diễn ra an toàn, êm thấm, song hành với quá trình tái cấu trúc đầu tư và tái cấu trúc doanh nghiệp, đã góp phần không nhỏ để thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế. Bên cạnh đó, phương thức điều hành của NHNN đã có sự chuyển đổi rõ nét trong giai đoạn vừa qua với tính chủ động trong kiểm soát và dẫn dắt thị trường ngày càng gia tăng. Sự chủ động trong điều hành CSTT bước đầu đã được thể hiện thông qua sự kiên định đối với mục tiêu kiểm soát lạm phát, chủ động và linh hoạt trong sử dụng các công cụ, trung hòa hóa thành công các dòng tiền tệ, tạo điều kiện để giữ thế chủ động trong việc kiểm soát khối lượng tiền, đảm bảo thanh khoản và thực thi hiệu quả chính sách lãi suất trên toàn hệ thống. Đối với mục tiêu đảm bảo an toàn hệ thống, NHNN đã nỗ lực đưa ra các hành lang an toàn cho các TCTD, bước đầu thực hiện giám sát từ xa, tăng cường tính chủ động trong kiểm soát rủi ro hệ thống và cảnh báo sớm. Với tính chủ động tăng lên như vậy, khả năng điều hành và duy trì ổn định hệ thống ngân hàng của NHNN rõ ràng đã tăng lên một bước và có sự chuyển biến về chất.

Cho đến nay, hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò cốt lõi trong hệ thống tài chính Việt Nam với tổng quy mô tín dụng của hệ thống ngân hàng chiếm trên 80% tổng vốn cung ứng ra nền kinh tế hàng năm. Do đó, tính ổn định của hệ thống ngân hàng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định khu vực tài chính. Với vai trò quan trọng đó, ngày 11/11/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 156/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong đó quyết định thành lập Vụ Ổn định tiền tệ - tài chính có chức năng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN trong hoạt động, phân tích, đánh giá, thực thi chính sách an toàn vĩ mô của hệ thống tài chính và biện pháp phòng ngừa rủi ro có tính hệ thống của hệ thống tài chính Việt nam. Việc thành lập Vụ ổn định tiền tệ - tài chính như vậy là phù hợp và đã cho thấy mối quan tâm to lớn của Chính phủ Việt Nam đối với vấn đề ổn định khu vực ngân hàng nói riêng và khu vực tài chính chung, đồng thời, đặt nền móng cơ bản để gia tăng sự phát triển ổn định, bền vững cho khu vực tài chính trong nước là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế bền vững.

Rõ ràng là trong nền kinh tế mỗi quốc gia ngày nay, khu vực tài chính ngày càng liên quan nhiều hơn đến hoạt động của khu vực kinh tế thực và do vậy, đóng vai trò quan trọng hơn, quyết định đến sự tăng trưởng và ổn định kinh tế. Ổn định khu vực tài chính vì vậy cũng trở nên đặc biệt quan trọng và thiết yếu. Một hệ thống tài chính ổn định và an toàn là một hệ thống có thể trụ vững được trước những biến động bất thường của nền kinh tế và trước các cú sốc tài chính nảy sinh từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống tài chính. Để có thể đạt được một hệ thống như vậy, cần phải có các tổ chức tài chính minh bạch, phải xây dựng được một qui trình bảo mật và các qui chế giám sát cẩn trọng đồng thời phải xây dựng một cơ cấu hoạt động tin cậy và hiệu quả./.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh

      CN.Nguyễn Thùy Linh

Viện Chiến lược ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

 

Tài liệu tham khảo:

Hướng tới ngân hàng ngang tầm khu vực - Thống đốc NHNN Việt Nam Nguyễn Văn Bình trả lời phỏng vấn nhân kỷ niệm 63 năm ngày thành lập ngành Ngân hàng (6/5/1951 - 6/5/2014), Thời báo ngân hàng.

PGS.TS. Trần Đình Thiên (2014), Kinh tế Việt Nam năm 2013: các xu hướng chính, vấn đề và triển vọng, Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2014.

GS.TS. Trần Thọ Đạt & TS. Hà Quỳnh Hoa (2014), Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô đến năm 2015, Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2014.

TS. Lê Đăng Doanh (2014), Đổi mới thể chế phân bổ nguồn lực và phân bổ lợi ích để tạo động lực cho phát triển, Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2014.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh (2010), Sự ổn định khu vực tài chính trong điều kiện tự do hóa các giao dịch vốn, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin.

 

 

1 Phần lớn các nhà nghiên cứu thường tập trung vào khái niệm khu vực tài chính với cách hiểu là khu vực các tổ chức tài chính (hay các định chế tài chính) và khu vực tài chính bao gồm các thị trường tài chính. Với cách nhìn nhận khu vực tài chính từ phía tổng hợp các tổ chức tài chính, IMF đã đưa ra khái niệm khu vực các tổ chức tài chính “bao gồm tất cả các tổ chức cư trú, các tổ chức tương tự như công ty cư trú chủ yếu thực hiện hoạt động trung gian tài chính hoặc những hoạt động tài chính phụ trợ có liên quan”. Các khu vực con của khu vực các tổ chức tài chính gồm Ngân hàng trung ương, các tổ chức nhận tiền gửi và các tổ chức tài chính khác.


  • aA
  • Categories:
  • Hợp tác nghiên cứu
OTHER NEWS
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
05/01/2025
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
12/10/2016
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
12/10/2016
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
12/04/2016
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
12/04/2016
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
11/06/2017
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
11/06/2017
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
11/04/2016
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
11/04/2016
Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
09/04/2016
Showing 1 to 10 of 94
  • 1
  • 2
  • 3
  • 10
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready