Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Hợp tác nghiên cứu

Một vài nhận định về diễn biến kinh tế trong nước từ nay đến 2020 và dự báo khả năng tác động đến hoạt động ngành ngân hàng

25/09/2014 17:09:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

1. Kinh tế nước ta đang bước vào giai đoạn phục hồi tăng trưởng nhưng chậm và tiềm ẩn rủi ro

Tăng trưởng có chiều hướng cải thiện trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô vẫn được coi là ưu tiên hàng đầu và những nỗ lực của Chính phủ tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thông qua việc thúc đẩy tín dụng, xử lý nợ xấu, miễn giảm giãn thuế. Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2014 đạt 5,2%, cao hơn so với mức 4,9% của cùng kỳ 2 năm trước đó. Dự báo của Ủy ban Giám sát Tài chính, tăng trưởng năm 2014 có thể đạt mức 5,8%, và ở mức 5,5% theo Ngân hàng Thế giới. Cả hai mức này đều cao hơn GDP năm 2013 và 20121.

Tuy nhiên, quá trình phục hồi vẫn còn chậm, khó khăn và chưa chắc chắn bởi những yếu tố tạo nên tăng trưởng chưa có dấu hiệu khởi sắc. Ưu tiên chính sách điều hành giai đoạn 2013-2015 tiếp tục đặt trọng tâm vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, duy trì tăng trưởng hợp lý và tái cơ cấu nền kinh tế. Việc đặt ưu tiên chính sách điều hành vào tăng trưởng ổn định thay vì theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao cũng là xu hướng chung của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới trong bối cảnh hiện nay. Tổng chi cân đối ngân sách Nhà nước dự toán năm 2014 chỉ tăng ở mức 2,9% so (thấp hơn nhiều so với mức tăng 8,3% năm 2013 và 24,5% năm 2012), đây là hệ lụy tất yếu trong bối cảnh các nguồn thu đều giảm sút. Chi ngân sách giảm sẽ là yếu tố giảm hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2014 là khoảng 5,8%/năm. Dự báo GDP sẽ tăng 5,71% vào năm 2014 (biến thiên trong khoảng tin cậy từ cận dưới 5,35% tới cận trên 6,07% với độ tin cậy 80%) và sẽ dần hồi phục lên mức 5,98% trong năm 2015 tính theo giá so sánh năm 2010. Như vậy, có thể thấy việc đạt được mục tiêu của kịch bản tốt (7,5-8%) là rất khó khăn, với những phân tích như trên, dự báo mức tăng GDP từ nay đến năm 2020 chỉ đạt trên dưới 6%.

2. Lạm phát đã được duy trì ở mức thấp nhưng xu hướng không ổn định và vẫn tiềm ẩn khả năng bùng phát

Có thể thấy trong những năm gần đây, lạm phát được kiểm soát ở mức hợp lý, bình quân khoảng 8,3% giai đoạn 2001-2011 và dưới 7% trong các năm 2012-2013. Nếu so với 8 tháng cùng kỳ năm 2013, chỉ số CPI tăng 4,73. So với CPI tháng 12/2013, CPI cả nước sau 8 tháng mới tăng 1,84%. Việc duy trì lạm phát ở mức thấp ổn định kéo theo xu hướng cải thiện rõ ràng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng: lãi suất hạ thấp, thanh khoản tốt lên, tỷ giá ổn định và dự trữ ngoại hối tăng. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, lạm phát thấp phần nào đó cũng phản ảnh tình trạng sức khỏe yếu kém của nền kinh tế, với hai bằng chứng rõ ràng là sức cầu thị trường tiếp tục suy yếu và số doanh nghiệp đóng cửa tăng.

Trong ngắn hạn, lạm phát có thể sẽ không tăng cao bởi các yếu tố đầu vào thế giới như giá dầu sẽ mức cân bằng dài hạn (khoảng 90 USD/thùng, cung mở rộng trong khi cầu hạn chế), giá lương thực tiếp tục xu hướng giảm trong điều kiện thời tiết thuận lợi, giá năng lượng giảm 0,8-1%, giá hàng hóa phi năng lượng giảm 0,3%-0,9% (dự báo của WB). Mặt khác, với định hướng chính sách ưu tiên mục tiêu ổn định vĩ mô giai đoạn 2013-2015, NHNN cũng sẽ có những biện pháp chủ động, linh hoạt trong điều tiết cung tiền, tỷ giá, lãi suất, cùng với đó, các chương trình bình ổn giá cả, cân bằng cung cầu hàng hóa sẽ là những yếu tố góp phần giảm kỳ vọng lạm phát.

Trong dài hạn, lạm phát có khả năng gia tăng và sẽ chủ yếu từ các nhân tố chi phí đẩy. Việc thúc đẩy tín dụng nhanh trong khi năng lực hấp thục vốn của nền kinh tế chưa tương ứng có thể để lại hệ lụy đối với lạm phát. Giá các mặt hàng thiết yếu được kỳ vọng tiếp tục điều chỉnh tăng cũng tác động đáng kể đến lạm phát.

Như vậy, trong mối tương quan với tăng trưởng kinh tế, nếu duy trì mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trên 7%, thì tỷ lệ lạm phát tương ứng sẽ cao hơn mức dự báo; và ngược lại. Nếu muốn kiềm chế lạm phát ở mức 6% thì chính sách kinh tế vĩ mô phải tập trung hạn chế cả các yếu tố “cầu kéo” và “chi phí đẩy”, qua đó có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Điều này sẽ tác động trực tiếp đến việc điều hành CSTT của NHNN trong thời gian sắp tới.

Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam dự báo đạt 6,84% năm 2014 (biến thiên trong khoảng tin cậy từ cận dưới 5,53% tới cận trên 8,21% với độ tin cậy 80%) và sẽ tăng nhẹ lên mức 7,08% năm 2015 (biến thiên trong khoảng tin cậy từ cận dưới 5,71% tới cận trên 8,45% với độ tin cậy 80%2).

3. Thâm hụt ngân sách ở mức cao và tình hình nợ công có xu hướng gia tăng tạo sức ép lớn đối với ổn định kinh tế vĩ mô và khu vực ngân hàng

Tốc độ tăng thâm hụt ngân sách những năm gần đây là một vấn đề đáng quan tâm. Tỷ lệ này đang ở trên ngưỡng “báo động đỏ” – 5% theo thông lệ quốc tế. Trên thực tế diễn biến vay trong nước và nước ngoài trong thời gian qua cho thấy, nguồn vốn bù đắp cho thâm hụt ngân sách phần lớn vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn trong nước, thông qua kênh phát hành trái phiếu. Điều này cũng sẽ tác động nhất định đến lượng tiền lưu thông và mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế.

Thu ngân sách giảm do nhiều yếu tố khách quan như kinh tế khó khăn, doanh nghiệp phá sản, giải thể; và một số yếu tố chủ quan liên quan đến việc hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, do cơ cấu thu ngân sách phụ thuộc vào tài nguyên, thiên nhiên như thu từ dầu thô bình quân chiếm khoảng 20%, các khoản thu từ đất đai, khoáng sản. Khi các nguồn này trở nên cạn kiệt, cũng sẽ khó khăn. Chi ngân sách tăng nhanh đặc biệt là chi thường xuyên và chi trả nợ, dẫn đến việc chi cho đầu tư phát triển giảm, trong điều kiện kinh tế khó khăn, càng gây áp lực lên cách doanh nghiệp.

Ngân sách eo hẹp sẽ tác động trực tiếp đến giá các mặt hàng thiết yếu, bởi Chính phủ sẽ phải thả nổi giá các mặt hàng này theo giá thị trường nhằm giảm chi phí bù lỗ từ ngân sách và dư địa các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp bị giới hạn; đồng thời đòi hỏi chính phủ phải gia tăng vay nợ để bù đắp cho khoản thiếu hụt, kéo theo sự gia tăng của nợ công và khối lượng trái phiếu phát hành. Với việc phát hành một khối lượng lớn trái phiếu chính phủ trong năm 2014 (170 tỷ VND) sẽ gây áp lực lên lãi suất thị trường và ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân.

Thâm hụt ngân sách ở mức cao sẽ dẫn đến tình trạng nợ công tăng, gây nhiều áp lực gián tiếp lên khu vực ngân hàng, đặc biệt là về tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Theo báo cáo của Chính phủ, nợ công năm 2013 ước khoảng 53,4% GDP. Như vậy, nếu đem so sánh với tỷ lệ phổ biến 30% – 40% ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi khác thì đây là một con số cao hơn hẳn.

4. Cán cân thương mại tiếp tục thặng dư và có xu hướng duy trì ổn định

Cán cân thương mại tiếp tục thặng dư, dù không lớn (3,07 tỷ USD trong 8 tháng tính từ đầu năm 2014). Số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho thấy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong 8 tháng tính từ đầu năm 2014 đạt gần 191,4 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, xuất khẩu đạt 97,23 tỷ USD, tăng 14,4% và nhập khẩu là 94,16 tỷ USD, tăng 10,7%. 

Xuất khẩu cả trong ngắn hạn và dài hạn đều có xu hướng gia tăng nhờ các yếu tố sau: (i) Các chính sách hỗ trợ, khuyến khích xuất khẩu ngày càng được hoàn thiện; (ii) Phần lớn các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn thuộc hàng tiêu dùng, nguyên phụ liệu thiết yếu do vậy ít thuộc diện cắt giảm tại các thị trường chủ chốt (Mỹ, EU...) khi người tiêu dùng tại các thị trường này cắt giảm chi tiêu; (iii) Việc các tập đoàn đa quốc gia dẫn dắt các chuỗi giá trị toàn cầu chuyển hướng đầu tư từ Trung Quốc, Thái Lan vào Việt Nam 2 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là điện tử - máy tính - linh kiện và dệt may - dày dép (chiếm tổng tỷ trọng gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu) vẫn có triển vọng tăng trưởng rất khả quan: hầu hết các doanh nghiệp dệt may, dày dép đã nhận được đơn hàng quý I và quý II/2014; (iv) Tiếp tục ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do FTA mới: Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP, Cộng đồng kinh tế Asean AEC, các hiệp định song phương FTA với nhiều nước trên thế giới. Đây sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng tiếp cận thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh. Xuất khẩu và GDP của Việt Nam có thể tăng thêm tương ứng 68 tỷ USD (tương đương 28,4%) và 36 tỷ USD (tương đương 10,5%) vào năm 2025 so với kịch bản nếu không tham gia TPP tính theo giá 20073.

Dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm 2014 sẽ tăng trưởng 13-14% và đạt mức  148-150 tỷ USD. Về nhập khẩu, dự kiến nhập khẩu trong năm 2014 chưa thể lấy lại đà tăng trưởng như năm 2010-2011, kim ngạch nhập khẩu sẽ trong khoảng 150-153 tỷ USD và cán cân thương mại sẽ chỉ thâm hụt nhẹ trong khoảng 2-3 tỷ USD (tương đương ~2% giá trị xuất khẩu, thấp hơn mục tiêu 6% giá trị xuất khẩu Quốc Hội giao)4. 

5. Tỷ giá có xu hướng ổn định

Diễn biến kinh tế vĩ mô thuận lợi (lạm phát được kiềm chế khá tốt, thặng dư cán cân vốn đủ bù đắp cho thâm hụt cán cân thương mại) giúp nguồn cung ngoại tệ được cải thiện. Tỷ giá USD/VND chính thức luôn duy trì xu hướng ổn định. Dự trữ ngoại hối tăng lên rất nhiều, đến nay đã đạt mức kỷ lục là 35 tỷ USD, góp phần nâng vị thế của Việt Nam trong thị trường tài chính quốc tế. Sự ổn định của tỷ giá trong nửa đầu năm đã giúp trạng thái ngoại hối của hệ thống ngân hàng được cải thiện rõ nét, từ -5,99% vào cuối năm 2009 lên 2,11% năm 2013; đồng thời giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Với những nhận định trên, nền kinh tế của Việt Nam có khả năng sẽ đi theo một trong hai kịch bản dưới đây, theo đó, hoạt động của ngành ngân hàng cần phải có những điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

Kịch bản 1: Quá trình tái cấu trúc nền kinh tế thành công, viễn cảnh kinh tế trong nước nói chung và ngành ngân hàng nói riêng sẽ hứa hẹn nhiều khởi sắc. Sản xuất phục hồi và tăng trưởng tốt. Thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp sẽ phát triển hơn.

Câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam trong thập kỷ qua đã được đánh dấu bởi khoảng thời gian đầy biến động của lạm phát cao, tiền tệ bị phá giá, và lãng phí kinh tế phổ biến là sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả (DNNN) sẽ được giải quyết bởi việc tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước.

Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế nhà nước sau quá trình cổ phần hóa được cải thiện; năng lực hấp thụ vốn tăng, chỉ số đầu tư ICOR giảm giúp tăng hiệu quả đầu tư. Những yếu tố trên làm giảm áp lực cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế từ phía ngân hàng bởi doanh nghiệp có thể tìm kiếm nguồn vốn từ nhiều kênh dẫn vốn khách ngoài ngân hàng như phát hành trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán. Hiện tại, Việt Nam vẫn phụ thuộc rất nhiều vào tín dụng ngân hàng, chiếm khoảng 85% tổng vốn cung ứng ra nền kinh tế. Cuối năm 2012, dư nợ tín dụng nội địa đạt 104.9% GDP, tức là gấp 6.5 lần tổng giá trị thị trường trái phiếu và gấp gần 3 lần giá trị vốn hóa của thị trường cổ phiếu . Việc phát triển thiếu cân bằng của thị trường tài chính với sự phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng mang lại rất nhiều rủi ro cho sự ổn định của thị trường tài chính và nền kinh tế nói chung. Thêm vào đó, theo như ước tính của Phòng Thương mại Châu Âu (Eurocham), trong vòng 5 tới 10 năm tới, Việt Nam sẽ cần khoảng 120 tỉ đô-la cho việc phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho tăng trưởng bền vững. Số tiền này vượt xa so với khả năng tài chính của ngân sách chính phủ. Hơn thế nữa, do đầu tư cơ sở hạ tầng cơ bản cần nguồn vốn ổn định và dài hạn, nên việc phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu là cực kì quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cán cân thanh toán cũng sẽ được cải thiện do quá trình tái cấu trúc khu vực xuất nhập khẩu cải thiện tình trạng cán cân thương mại. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng. Đầu tư của các chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia có xu hướng chuyển từ Trung Quốc và Thái Lan sang Việt Nam. Do các chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia hiện chiếm một tỷ trọng lớn trong thương mại toàn cầu nên việc tham gia mạnh mẽ vào các mạng sản xuất toàn cầu này giúp Việt Nam có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Ngoài ra, triển vọng về các hiệp định thương mại tự do mới FTA sắp được ký kết mà nổi bật là Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng tiếp cận thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh. Xuất khẩu và GDP của Việt Nam có thể tăng thêm tương ứng 68 tỷ USD (28,4%) và 36 tỷ USD (hay 10,5%) vào năm 2025 so với kịch bản nếu không tham gia TPP. Vì vậy, những biến động về tỷ giá trong tương lai sẽ có ảnh hưởng lớn hơn trong việc cải thiện cán cân xuất nhập khẩu.

Trong viễn cảnh bức tranh kinh tế trong nước có những điểm sáng kể trên, ngành ngân hàng có thể hội đủ điều kiện để thực hiện CSTT ổn định lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Mặt khác, tăng trưởng cao và những thay đổi về cơ cấu nền kinh tế sẽ làm gia tăng nhu cầu dịch vụ ngân hàng vì sẽ có nhiều doanh nghiệp được mở ra và đời sống người dân cũng được nâng cao.

NHNN giữ trách nhiệm đẩy mạnh việc cải cách hệ thống ngân hàng nhằm cải thiện việc quản lý rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng trong những năm tới. Những nỗ lực này sẽ giúp hướng mức tăng trưởng tín dụng xuống tới trung bình 9,3% trong thập kỷ tới. Theo đó, lạm phát tiêu dùng sẽ ở mức 5,3%/ năm và đây cũng là một tín hiệu tích cực với đồng Việt Nam trong dài hạn.

Tuy vậy, vẫn còn một điểm nghẽn chưa thể khơi thông trong tương lai gần là vấn đề bội chi ngân sách nhà nước. Mức bội chi đã được Chính phủ đề xuất tăng từ 4,8% GDP lên mức 5,3% GDP giai đoạn 2013-2014. Cơ cấu thu ngân sách vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tài nguyên, thiên nhiên (thu từ dầu thô bình quân chiếm khoảng 20%, các khoản thu từ đất đai, khoáng sản, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu...). Trong tương lai, khi các nguồn tài nguyên này dần trở nên cạn kiệt, ngân sách nhà nước chưa thể tìm được nguồn thu thay thế, thì việc tăng thu ngân sách là điều rất khó khăn. Mặt khác, chi ngân sách dự kiến cũng sẽ có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là chi thường xuyên và chi trả nợ. Điều này khiến dư địa cho đầu tư phát triển kinh tế bị thu hẹp. Ngân sách eo hẹp cũng sẽ trực tiếp đến giá các mặt hàng thiết yếu, bởi Chính phủ sẽ phải thả nổi giá các mặt hàng này theo giá thị trường nhằm giảm chi phí bù lỗ từ ngân sách và dư địa các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp bị giới hạn.

Để bù đắp thâm hụt, Chính phủ buộc phải phát hành trái phiếu; Với việc phát hành một khối lượng lớn trái phiếu chính phủ giai đoạn 2014-2016 (170 tỷ VNĐ) sẽ gây áp lực lên lãi suất thị trường trong thời gian tới, ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân; đồng thời tác động trực tiếp đến hệ thống ngân hàng, gây áp lực cho việc cung ứng tiền ra nền kinh tế.

Hiện tại, hầu hết các trái phiếu chính phủ do ngân hàng nắm giữ. Tình trạng này dự báo khó có thể cải thiện trong tương lai và kéo theo sự phụ thuộc giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa vẫn sẽ gia tăng. Áp lực về lạm phát với NHTW là hậu quả tất yếu nếu không có một cơ chế phối hợp chính sách hiệu quả và thiết thực.

Như vậy, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng trái phiếu Chính phủ và được NHNN mua lại (như phân tích ở trên) được thực hiện song song với chính sách tiền tệ nới lỏng, tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể cao hơn nhưng lạm phát và thâm hụt cán cân vãng lai cũng sẽ cao hơn. Kịch bản này có khả năng xảy ra nhất, song rủi ro đối với nền kinh tế là rất lớn trong khi tác động đối với tăng trưởng kinh tế là không cao5.

Kịch bản 2: Tái cấu trúc nền kinh tế không đạt được thành công như mong đợi, việc xử lý nợ xấu chưa dứt điểm, viễn cảnh kinh tế trong nước nói chung và ngành ngân hàng sẽ có những tác động tiêu cực.

Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế chưa được cải thiện đáng kể, kéo theo tình trạng nợ xấu không được xử lý dứt điểm. Điều này tạo áp lực cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế từ phía ngân hàng bởi doanh nghiệp khó có thể tìm kiếm nguồn vốn qua các khênh phát hành trái phiếu doanh nghiệp hay từ phía thị trường chứng khoán.

Lạm phát cao tác động đến lòng tin đối với đồng nội tệ bị giảm sút, khiến các ngân hàng phải huy động vốn với lãi suất cao; trong trường hợp không tăng được lãi suất cho vay tương ứng thì chênh lệch lãi suất giữa đầu ra và đầu vào của các ngân hàng bị thu hẹp, gây khó khăn cho hoạt động của các ngân hàng. Lạm phát cao còn gây áp lực giảm giá trị đồng nội tệ, tác động bất lợi đến diễn biến của thị trường ngoại hối, gây khó khăn cho công tác điều hành chính sách tỷ giá và có thể thông qua đó tác động bất ổn tới hoạt động của khu vực ngân hàng.

Cán cân thanh toán tổng thể thâm hụt ảnh hưởng đến dự trữ ngoại tệ của quốc gia, tạo sức ép lên công tác điều hành tỷ giá của NHNN. Tình trạng nhập siêu có thể khiến nguồn dự trữ ngoại hối sụt giảm, tăng nợ quốc gia và gây sức ép giảm giá đồng nội tệ. Thâm hụt cán cân vãng lai lớn cùng với thâm hụt ngân sách cao, nợ công có xu hướng tăng nhanh sẽ là những trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế. Thâm hụt của cán cân vãng lai ở nước ta thường được bù đắp bởi Cán cân vốn và tài chính. Tỷ giá tăng gây khó khăn cho các TCTD trong việc đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng và cũng đã tạo ra một số dư luận không tốt đối với hoạt động của ngành ngân hàng trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, xét về mặt lý thuyết, việc các doanh nghiệp gặp khó khăn hơn trong việc mua đô la trả nợ ngân hàng cũng tiềm ẩn rủi ro làm gia tăng nợ xấu của hệ thống ngân hàng.

Như vậy, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng vay nợ (phát hành trái phiếu Chính phủ nhưng không đi kèm với quá trình tạo tiền từ NHNN) và không đi kèm với CSTT nới lỏng hỗ trợ, rủi ro lạm phát là rất thấp nhưng đi kèm với đó tốc độ tăng trưởng cũng không cao. Về lý thuyết, đầu tư công sẽ chèn lấn hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, trong bối cảnh đầu tư của khu vực doanh nghiệp yếu dưới tác động của vấn đề nợ xấu, mức độ chèn lấn sẽ không lớn. Nếu đầu tư công được thực hiện hiệu quả, tập trung và các dự án hạ tầng trọng điểm thì còn khả năng kích hoạt đầu tư của khu vực doanh nghiệp.

Mặt khác, thâm hụt ngân sách diễn biến theo đúng kế hoạch và chính sách tiền tệ nới nỏng có thể hỗ trợ để làm cho nền kinh tế phục hồi nhanh hơn. Tuy nhiên, để giảm thiểu rủi ro lạm phát, các hướng tái cấu trúc cần phải thực hiện một cách quyết liệt, nhanh chóng để tăng đáng kể năng lực sản xuất của nền kinh tế, giảm áp lực lên nhập khẩu và lạm phát. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi những thay đổi căn bản trong phương thức điều hành, tái cấu trúc nền kinh tế - vốn là một quá trình phức tạp, đòi hỏi vượt qua rào cản của các nhóm lợi ích cũng như có sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành.

Ths. Đỗ Thị Bích Hồng

Phòng Xây dựng Chiến lược – Viện Chiến lược Ngân hàng

 

 

1 Năm 2013 GDP đạt mức 5,42%, năm 2012 là 5,25%

2 Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia

3 Theo đánh giá của Petri và Plummer (2013)

4 Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia

5 Ước lượng của Nguyễn Anh Dương (2013) cho thấy khi dùng toàn bộ 0,5% GDP thêm từ nâng trần bội chi ngân sách nhà nước cho đầu tu công và khoản này giải ngân nhanh, mang lại tác động ngay thì tăng trưởng GDP có thể cũng chỉ tăng thêm 0,057-0,086 điểm phần trăm trong năm 2014.

1

 


  • aA
  • Categories:
  • Hợp tác nghiên cứu
OTHER NEWS
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
05/01/2025
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
12/10/2016
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
12/10/2016
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
12/04/2016
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
12/04/2016
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
11/06/2017
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
11/06/2017
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
11/04/2016
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
11/04/2016
Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
09/04/2016
Showing 1 to 10 of 94
  • 1
  • 2
  • 3
  • 10
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready