Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Hợp tác nghiên cứu

TỔNG QUAN VỀ KHUÔN KHỔ CHÍNH SÁCH AN TOÀN VĨ MÔ HIỆU QUẢ

11/12/2014 21:03:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Ngày 30/5/2014 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức Hội thảo với chủ đề “Vai trò của NHNN đối với sự ổn định của hệ thống tài chính”. Các tác giả đã có nhiều bài viết chuyên sâu đóng góp cho hội thảo. Nhằm đáp ứng nhu cầu tham khảo nghiên cứu của Quý bạn đọc, Tổ Biên tập sẽ tập hợp và đăng tải chùm bài viết nổi bật nhất.

TỔNG QUAN VỀ KHUÔN KHỔ

CHÍNH SÁCH AN TOÀN VĨ MÔ HIỆU QUẢ

 

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009 với những hậu quả kéo dài của nó đã buộc các nhà hoạch định chính sách nhìn lại các chính sách kinh tế vĩ mô của mình. Cuộc khủng hoảng đã cho thấy những khoảng trống chính sách khi các chính sách vĩ mô truyền thống như chính sách tiền tệ và tài khóa cũng như hệ thống giám sát tài chính vi mô đã không thể giúp phát hiện kịp thời, ngăn ngừa và xử lý khủng hoảng. Thực tế đã chứng minh các rủi ro đối với hệ thống tài chính vẫn có thể xảy ra ngay cả khi các tổ chức tài chính vẫn nằm trong giới hạn an toàn vi mô. Đồng thời, nó cũng cho thấy thế giới đã đánh giá thấp những rủi ro mang tính hệ thống của khu vực tài chính cũng như sự gắn kết chặt chẽ giữa sự ổn định của khu vực tài chính với tính ổn định kinh tế vĩ mô.

Giờ đây, các nước trên thế giới bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới việc kiềm chế và giảm thiểu các rủi ro bắt nguồn từ hệ thống tài chính. Các nhà hoạch định chính sách bắt đầu tìm kiếm các công cụ nhằm làm giảm mức độ nghiêm trọng và tần suất xuất hiện của các bong bóng tài sản và tăng trưởng tín dụng quá mức. Các mối quan tâm vì thế tập trung cho các chính sách ngăn ngừa và hấp thụ các cú sốc này. Trong bối cảnh đó, các chính sách an toàn vĩ mô, có thể xem là các chính sách chống bong bóng, đã và đang giành được ngày càng nhiều sự quan tâm của ngân hàng trung ương cũng như các cơ quan quản lý tài chính các nước. Cùng với chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, chính sách an toàn vĩ mô góp phần tạo nên thế “kiềng ba chân” trong bộ chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của các nước nhằm hướng tới sự ổn định kinh tế vĩ mô.

Ổn định tài chính nói chung và chính sách an toàn vĩ mô nói riêng là những phạm trù hết sức mới mẻ. Hiện chưa có sự chuẩn hóa chính thức về khái niệm, mục tiêu, bộ công cụ chính sách an toàn vĩ mô giữa các quốc gia hay các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, tất cả đều có chung một nhận định, chính sách an toàn vĩ mô có vai trò hết sức quan trọng đối với ổn định tài chính. Bài viết nhằm làm rõ khái niệm, mục tiêu, công cụ của chính sách an toàn vĩ mô, đồng thời đi sâu tìm hiểu mối tương tác giữa chính sách an toàn vĩ mô với các chính sách vĩ mô khác cũng như những yếu tố quyết định một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô hiệu quả.

 

  • Khái niệm và mục tiêu của Chính sách an toàn vĩ mô
  • Khái niệm
  • Theo Hội đồng Ổn định Tài chính (FSB), Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Chính sách an toàn vĩ mô là chính sách sử dụng các công cụ an toàn để hạn chế các rủi ro mang tính hệ thống và/hoặc các rủi ro đối với tổng thể hệ thống tài chính nhằm giảm thiểu khả năng đổ vỡ của hệ thống tài chính thông qua việc ngăn ngừa các dịch vụ tài chính có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế thực. (FSB, BIS và IMF, 2011).

    Trong đó, rủi ro hệ thống được xem xét trên hai khía cạnh:

    (i) Chiều thời gian (time dimension hay procyclical dimension) tức là diễn biến của rủi ro hệ thống theo thời gian. Theo đó, trọng tâm của chính sách an toàn vĩ mô là nhằm giảm thiểu tính thuận chu kỳ của hệ thống tài chính thông qua việc xem xét các cơ chế khuếch đại rủi ro hệ thống bởi các tương tác trong hệ thống tài chính và giữa hệ thống tài chính và nền kinh tế thực mà đôi khi có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính; và

    (ii) Liên kết chéo giữa các lĩnh vực (cross-sectional dimension hay structural dimension), tức là sự phân bố rủi ro giữa các lĩnh vực trong hệ thống tài chính tại một thời điểm nhất định. Trọng tâm là làm giảm sự tập trung của rủi ro hệ thống mà có thể phát sinh từ các mối liên kết giữa các tổ chức tài chính hoặc từ các mối liên kết ngoại bảng trực tiếp giữa các tổ chức này. Điều này đảm bảo rằng sự an toàn và lành mạnh của từng định chế tài chính sẽ góp phần ngăn ngừa rủi ro hệ thống và hạn chế tác động lan tỏa từ sự thất bại của từng tổ chức.

    Như vậy, chính sách an toàn vĩ mô là một công cụ điều hành thận trọng nhằm đạt được sự ổn định tài chính của toàn bộ hệ thống tài chính, chứ không phải sự lành mạnh của từng tổ chức tài chính riêng lẻ. Chính sách an toàn vĩ mô tập trung vào sự tương tác giữa các tổ chức tài chính, các thị trường tài chính, cơ sở hạ tầng tài chính và toàn bộ nền kinh tế.

  • Mục tiêu
  • Hiện có nhiều cách diễn giải khác nhau về mục tiêu của chính sách an toàn vĩ mô. Tuy nhiên, tựu chung lại, các học giả, các nhà hoạch định chính sách cũng như các tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế đều thống nhất chính sách an toàn vĩ mô hướng tới một mục tiêu cuối cùng là ổn định tài chính.

    Theo Nhóm Công tác các nước G30, mục tiêu của chính sách an toàn vĩ mô là nhằm tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống tài chính và ngăn ngừa các rủi ro hệ thống vốn có trong hệ thống tài chính mà gây ra bởi các mối lên kết lẫn nhau giữa các tổ chức, tính nhạy cảm trước các cú sốc và xu hướng dịch chuyển thuận theo chu kỳ của các tổ chức tín dụng mà theo đó làm tăng sự dao động của các chu kỳ tài chính.

    Theo Ủy ban về Hệ thống Tài chính Toàn cầu (CGFS), chính sách an toàn vĩ mô có hai mục tiêu tách biệt. Một là tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống tài chính trước sự suy giảm kinh tế và các cú sốc tổng cầu bất lợi khác. Hai là ngăn ngừa các rủi ro hệ thống phát sinh và lan truyền trong nội bộ hệ thống tài chính thông qua sự liên kết lẫn nhau của các tổ chức từ những rủi ro thông thường của các tổ chức này trước các cú sốc và xu hướng hành động thuận theo chu kỳ của các định chế tài chính mà có thể dẫn đến việc khuếch đại chu kỳ tài chính. (SEACEN, 2012)

    Khác với chính sách an toàn vi mô với mục tiêu là nhằm đảm bảo từng định chế tài chính riêng lẻ có đủ vốn và khả năng thanh khoản để hấp thụ các cú sốc đối với các danh mục cho vay và nguồn tài trợ của mình, chính sách an toàn vĩ mô nhằm thúc đẩy sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính, nhờ đó mà góp phần ổn định nền kinh tế. Với ý nghĩa này, chính sách an toàn vĩ mô sẽ bổ sung cho chính sách an toàn vi mô và cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô khác ổn định toàn bộ hệ thống tài chính.

    Mục tiêu của chính sách an toàn vĩ mô có thể được thực hiện thông qua việc: (i) phát hiện và ngăn ngừa các nguy cơ khủng hoảng tài chính; (ii) giảm thiểu những rủi ro lan truyền từ hệ thống tài chính đến nền kinh tế thực; và (iii) thực hiện xử lý khủng hoảng.

    Việc thực hiện các chính sách an toàn vĩ mô sẽ không thể loại trừ hoàn toàn những tổn thương của hệ thống tài chính trước các cú sốc. Tuy nhiên, một chính sách an toàn vĩ mô thích hợp sẽ hỗ trợ sự ổn định của hệ thống tài chính, tăng khả năng phục hồi của thị trường trước các cú sốc và cần bao gồm chức năng cảnh báo sớm để dự báo nguy cơ khủng hoảng trong tương lai. Việc thực hiện chính sách an toàn vĩ mô sẽ khuyến khích các tổ chức tài chính xây dựng dự phòng chung trong giai đoạn nền kinh tế đi lên để chuẩn bị cho việc hấp thụ các tổn thất trong tương lai. (SEACEN, 2012).

  • Khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô
  • Khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô bao gồm khuôn khổ pháp lý và thể chế cho chính sách an toàn vĩ mô, bộ công cụ chính sách an toàn vĩ mô, và nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, một cơ chế phối hợp chặt chẽ và chia sẻ thông tin đầy đủ giữa các đơn vị hữu quan cũng như cơ chế tương tác hài hòa giữa các chính sách vĩ mô sẽ góp phần hỗ trợ thực hiện mục tiêu ổn định tài chính.

    Việc đánh giá hiệu quả của khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô thường dựa trên các tiêu chí: (i) khả năng xác định và theo dõi các rủi ro tài chính ở cấp độ hệ thống; (ii) việc thiết kế các công cụ phục vụ mục đích an toàn vĩ mô; và (iii) việc xây dựng thể chế, quản lý chính sách an toàn vĩ mô đặt trong mối tương quan với các chính sách khác trong nước và trong khu vực.

    Trong khuôn khổ bài viết này, nhóm tác giả sẽ đi sâu vào khai thác các công cụ chính sách an toàn vĩ mô và tương tác giữa chính sách an toàn vĩ mô với chính sách an toàn vi mô và các chính sách vĩ mô khác.

  • Các công cụ an toàn vĩ mô
  • Để đối phó với các rủi ro hệ thống trong lĩnh vực tài chính, các quốc gia sử dụng rất nhiều công cụ chính sách, bao gồm hầu hết các công cụ an toàn và cả các công cụ vốn được xem là điển hình của các chính sách công khác như các biện pháp tài khóa, tiền tệ, hối đoái và thậm chí cả các biện pháp hành chính. Theo nghiên cứu của IMF, các công cụ an toàn vĩ mô tỏ ra rất hiệu quả trong việc giảm thiểu các rủi ro hệ thống.

    Tuy vậy, không có bộ công cụ chính sách an toàn vĩ mô chuẩn tắc cho tất cả các nước. Việc lựa chọn các công cụ chính sách tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - tài chính của mỗi quốc gia cũng như cơ chế tỷ giá và khả năng tổn thương của hệ thống trước các cú sốc. Các nước thường sử dụng kết hợp nhiều công cụ một lúc hơn là sử dụng đơn nhất một công cụ và thường sử dụng chúng để bổ trợ cho các chính sách vĩ mô khác và điều chỉnh chúng chống lại các chu kỳ để các công cụ này vận hành như các “cơ chế ổn định tự động”. (IMF, 2011b)

    Có nhiều cách phân chia các công cụ an toàn vĩ mô, trong đó có hai cách phân chia phổ biến đó là theo đối tượng điều chỉnh và theo loại hình rủi ro điều chỉnh.

    (i) Theo đối tượng điều chỉnh: các công cụ an toàn vĩ mô được chia thành 03 nhóm, đó là:

  • Các công cụ tác động đến hành vi của người cho vay, chẳng hạn như các yêu cầu về vốn đệm chống rủi ro chu kỳ, tỷ lệ đòn bẩy, hoặc trích lập dự phòng rủi ro theo chu kỳ. Các công cụ này góp phần kiềm chế việc bùng nổ tín dụng và bong bóng bất động sản. Bên cạnh đó, các công cụ này cung cấp các bộ đệm lớn hơn cho việc giảm thiểu thiệt hại của các ngân hàng và hạn chế chi phí tài khóa của cuộc khủng hoảng.
  • Các công cụ tập trung vào hành vi của khách hàng vay, chẳng hạn như giới hạn tỷ lệ cho vay theo giá trị (LTV) hoặc giới hạn tỷ lệ tỷ lệ nợ trên thu nhập (DTI). Các công cụ này nhằm mục đích ngăn ngừa các rủi ro đối với người đi vay, giúp giảm nguy cơ phá sản và tịch biên mà thường dẫn đến những đổ vỡ kinh tế vĩ mô lớn hơn.
  • Các công cụ quản lý dòng vốn (kiểm soát vốn) nhắm vào các rủi ro đến từ các dòng vốn không ổn định.
  • (ii) Theo loại hình rủi ro điều chỉnh: các công cụ an toàn vĩ mô được chia thành 03 nhóm, đó là:

  • Các công cụ liên quan đến tín dụng, ví dụ như: giới hạn tỉ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo (LTV), giới hạn tỷ lệ nợ trên thu nhập (DTI), giới hạn cho vay bằng ngoại tệ và trần tín dụng hay tăng trưởng tín dụng;
  • Các công cụ liên quan đến thanh khoản, ví dụ như: giới hạn vị thế ngoại tệ mở ròng/mất cân đối tiền tệ (NOP), giới hạn về mất cân đối kỳ hạn (limits on maturity mismatch) và các yêu cầu về dự trữ;
  • Các công cụ liên quan đến vốn, ví dụ như: các yêu cầu về vốn chống rủi ro chu kỳ/biến đổi theo thời gian (countercyclical/time-varying capital requirements), trích lập dự phòng biến đổi theo thời gian (time-varying/dynamic provisioning) và các hạn chế về phân bổ lợi nhuận. (IMF, 2011b)
  • Như vậy, các yếu tố xác định của chính sách an toàn vĩ mô là:

    - Mục tiêu: hạn chế các rủi ro mang tính hệ thống của toàn bộ hệ thống tài chính.

    - Phạm vi tác động: hệ thống tài chính nói chung và tương tác của nó với nền kinh tế thực.

    - Quyền hạn và các công cụ: các công cụ bảo đảm an toàn và những công cụ khác được chỉ định cụ thể cho các cơ quan chức năng về an toàn vĩ mô.

    2. Mối quan hệ giữa chính sách an toàn vĩ mô và các chính sách vĩ mô khác

    Như đã đề cập ở phần trên, trước khủng hoảng tài chính 2008, các nhà hoạch định chính sách chỉ chú trọng tới hai bộ chính sách độc lập một cách tương đối đó là chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách an toàn vi mô. Tuy nhiên, những hạn chế của chính sách an toàn vi mô và các chính sách kinh tế vĩ mô khác đã buộc các nhà hoạch định chính sách chuyển sự quan tâm của mình sang chính sách an toàn vĩ mô và đặt chính sách này vào trung tâm của sự tương tác giữa các chính sách kinh tế vĩ mô với chính sách an toàn vi mô (xem Hình 1).

     

     

     

     

    Ổn định tài chính là kết quả tương tác của nhiều chính sách. Sự xuất hiện của chính sách an toàn vĩ mô không thay thế các chính sách kinh tế vĩ mô cũng như các chính sách an toàn vi mô. Trái lại, chính sách an toàn vĩ mô là sự bổ sung toàn diện cho bộ chính sách điều hành kinh tế vĩ mô hiện đại, tạo thành một khuôn khổ ổn định tài chính hữu hiệu cho từng quốc gia. Giữa các chính sách này có sự tương tác và giao thoa lẫn nhau. Việc thực hiện mục tiêu của chính sách này sẽ hỗ trợ cho việc đạt được mục tiêu của chính sách kia và ngược lại. Tương tác giữa chính sách an toàn vĩ mô với các chính sách khác được thể hiện trong Hình 2.

  • Theo đó, phần giao thoa giữa các chính sách là sự khác biệt trong mục tiêu của các chính sách. Chẳng hạn, nếu như mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả thì mục tiêu của chính sách an toàn vĩ mô là ổn định tài chính. Nếu như chính sách cạnh tranh khuyến khích các nhà đầu tư chấp nhận rủi ro thì chính sách an toàn vĩ mô lại ngăn ngừa các hành vi chấp nhận rủi ro quá mức. Nếu như, các chính sách an toàn vi mô hướng đến mục tiêu kiểm soát các rủi ro mang tính đặc thù của ngành (idiosyncrratic risks) hay còn gọi là rủi ro phi hệ thống (unsystemic risks) mà các định chế tài chính có thể gặp phải nhằm bảo vệ lợi ích của người gửi tiền và các nhà đầu tư, thì chính sách an toàn vĩ mô hướng mục tiêu vào việc kiểm soát các rủi ro có tính hệ thống (systemic risks) của toàn bộ hệ thống tài chính, qua đó nhằm giảm thiểu các thất bại có thể xảy ra trên một phạm vi rộng lớn hơn của toàn hệ thống v.v… Tuy có mục tiêu, nhiệm vụ và công cụ khác nhau, nhưng phải khẳng tiêu của các bên. Cụ thể:
  • Tương tác giữa chính sách an toàn vĩ mô và chính sách an toàn vi mô
  •    Sự phối kết giữa chính sách an toàn vĩ mô với chính sách an toàn vi mô sẽ giúp cách ly các rủi ro hệ thống ra khỏi các rủi ro đặc thù và ngược lại. Chính sách an toàn vi mô (với mục tiêu là sự lành mạnh của các tổ chức tài chính riêng lẻ) mới thực hiện được đánh giá về mặt tuân thủ của các tổ chức chứ chưa thực hiện được đánh giá trên cơ sở rủi ro hệ thống. Chính sách an toàn vĩ mô, trong khi đó, sẽ giúp ngăn ngừa sự hình thành rủi ro hệ thống bằng việc quản lý tăng trưởng tín dụng và các chu kỳ tăng giá tài sản, đồng thời tăng cường sức chịu đựng của hệ thống tài chính trước các cú sốc mang tính hệ thống.

  • Tương tác giữa chính sách an toàn vĩ mô và chính sách tiền tệ
  • Kênh dẫn truyền chủ yếu của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế thường là thông qua hệ thống tài chính, trong đó chủ yếu là hệ thống ngân hàng. Một hệ thống ngân hàng hiệu quả sẽ giúp nâng cao hiệu lực của chính sách tiền tệ, đồng thời giảm các rủi ro không mong muốn, chẳng hạn như các tác động lên bảng cân đối tài sản, do quá trình điều tiết cung tiền thường thông qua kênh ngân hàng. Chính vì vậy, hệ thống giám sát an toàn tài chính nói chung và chính sách an toàn vĩ mô nói riêng có vai trò nhận dạng các rủi ro tiềm ẩn, đưa ra các tín hiệu cảnh báo, thực thi một số các biện pháp đảm bảo an toàn, ngăn ngừa hành vi chấp nhận rủi ro quá mức. Một khuôn khổ giám sát an toàn vĩ mô hữu hiệu có thể giúp giảm bớt các xung đột về mặt chính sách hoặc giảm thiểu những tác động phụ (không mong muốn) của một biện pháp chính sách cụ thể và tạo thêm không gian để chính sách tiền tệ có thể theo đuổi các mục tiêu của mình.

  • Tương tác giữa chính sách an toàn vĩ mô và chính sách tài khóa
  •    Chính sách an toàn vĩ mô không chỉ giúp duy trì sự an toàn của nợ công mà còn giúp tránh các tác động tiêu cực từ rủi ro vỡ nợ của chính phủ lên sự an toàn của hệ thống tài chính và ngược lại. Chính sách an toàn vĩ mô mặc dù không có thẩm quyền đối với các chính sách tài khóa, song vẫn có thể giúp phân tích các rủi ro kinh tế nền tảng và tình trạng mất cân đối vĩ mô để đưa ra các cảnh báo rủi ro hệ thống nhằm gây sự chú ý hoặc tạo sự quan tâm đối với các nhà hoạch định chính sách tài khóa. Trên cơ sở đó, các khuyến nghị chính sách cũng được đưa ra, bổ sung vào tập hợp các lựa chọn chính sách của các cơ quan chính phủ. Đồng thời, các cơ chế phản biện tích cực cũng được tạo ra nhằm làm cho cơ quan giám sát trở nên có tiếng nói hơn với các cơ quan thực thi chính sách tài khóa.

    Bên cạnh đó, trong phạm vi khuôn khổ ổn định tài chính, mối quan hệ tương đối giữa các chính sách trong khuôn khổ ổn định tài chính được thể hiện trong Hình 3. Theo đó, chính sách an toàn vĩ mô, chính sách an toàn vi mô cho hệ thống tài chính và chính sách quản lý (bao gồm ngăn ngừa và xử lý) khủng hoảng được xem là ba cấu phần cốt lõi (hình chữ nhật) của ổn định tài chính. Bộ ba chính sách này cùng với các chính sách vĩ mô khác như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách cạnh tranh, v.v… tạo nên một khuôn khổ toàn diện của ổn định tài chính (hình Oval), trung tâm của nền kinh tế thực.

    Chính vì vậy, để đảm bảo thực hiện mục tiêu ổn định tài chính có hiệu quả, chính sách an toàn vĩ mô cần phải phối hợp và đặt trong mối tương quan chặt chẽ với các chính sách khác, đặc biệt là chính sách an toàn vi mô và chính sách tiền tệ (Sự khác biệt tương đối giữa ba chính sách này được thể hiện trong Bảng 1). Ba chính sách này là một sự bổ sung hữu hiệu cho nhau trong việc đảm bảo sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính, nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng là ổn định kinh tế vĩ mô.

    Bảng 1. So sánh chính sách an toàn vĩ mô, chính sách an toàn vi mô

    và chính sách tiền tệ

     

    Chính sách an toàn vĩ mô

    Chính sách an toàn vi mô

    Chính sách tiền tệ

    Mục tiêu cơ bản

    Ổn định hệ thống tài chính

    Sự lành mạnh của các tổ chức tài chính

    Ổn định giá trị đồng tiền, hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô

    Mục tiêu trung gian

    Ngăn ngừa rủi ro hệ thống nhằm giảm thiểu các thất bại có thể xảy ra trên một phạm vi rộng lớn của hệ thống tài chính

    Ngăn ngừa rủi ro phi hệ thống (hay rủi ro mang tính đặc thù của ngành) của từng tổ chức tài chính riêng lẻ

    Lãi suất và lượng cung tiền

    Các đặc tính của rủi ro

    Bắt nguồn từ hành động tập thể của nhiều tổ chức tài chính và giữa các tổ chức tài chính (nội sinh)

    Bắt nguồn từ hành động của từng tổ chức tài chính riêng lẻ và không liên quan đến sự phản ứng của hành động tập thể (ngoại sinh)

     

    Rủi ro thông thường và rủi ro hệ thống

    Có liên quan đến nhau: các rủi ro thông thường là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro hệ thống

    Không liên quan đến nhau

     

    Trọng tâm giám sát

    Tập trung vào toàn bộ hệ thống tài chính;

    Tập trung bảo vệ từng tổ chức riêng lẻ;

    Thị trường tiền tệ

    Nguyên tắc tiếp cận

    Nguyên tắc từ trên xuống

    Nguyên tắc từ dưới lên

     

    Công cụ

    Các công cụ đảm bảo an toàn tiêu chuẩn cùng với các biện pháp dự phòng và định giá rủi ro

    Các tiêu chuẩn đảm bảo khả năng thanh toán thống nhất và quy tắc đạo đức kinh doanh

    Tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng và tỷ giá hối đoái

    Nguồn: Borio (2003, 2009) và bổ sung của tác giả

  • Các yếu tố quyết định một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô hiệu quả
  • Theo kinh nghiệm đúc kết từ một số nước đi trước, để xây dựng và vận hành một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô hiệu quả, cần chú ý đến những vấn đề sau:

  • Xác định một cơ quan quản lý đầu mối về chính sách an toàn vĩ mô và việc mở rộng phạm vi của cơ quan quản lý thực hiện nhiệm vụ an toàn vĩ mô cần phải được quy định trong luật
  • Theo kinh nghiệm của các nước, Ngân hàng trung ương nên đóng vai trò chủ đạo trong việc ban hành chính sách an toàn vĩ mô. Sự tham gia của Bộ Tài chính vào quá trình ban hành chính sách là hữu ích, tuy nhiên, quyết định cuối cùng nên thuộc về Ngân hàng trung ương. Bên cạnh đó, khi xây dựng khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô cần đặt khuôn khổ này trong mối tương quan bổ trợ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác và cơ chế tổ chức về chính sách an toàn vĩ mô cần tính đến đặc trưng của mỗi quốc gia.

  • Tăng cường năng lực xác định, phân tích và giám sát rủi ro hệ thống
  •    Để làm được điều này, cần xây dựng các cơ chế chia sẻ thông tin hiệu quả và đảm bảo việc tiếp cận các thông tin liên quan của các cơ quan chức năng. Đồng thời, cần tăng cường năng lực phân tích, xác định và đánh giá rủi ro hệ thống cho các cơ quan này song song với việc tận dụng nguồn lực và kinh nghiệm hiện có.

  • Xây dựng bộ công cụ chính sách an toàn vĩ mô toàn diện và phối hợp sử dụng các công cụ này theo cách thức đồng bộ.
  • Điều này có thể được thực hiện thông qua việc: (a) xây dựng được nhiệm vụ, quyền hạn thích hợp cho cơ quan quản lý đầu mối về an toàn vĩ mô; (b) xây dựng một cơ chế đảm bảo sự sẵn sàng phối hợp hành động nhằm ngăn ngừa việc hình thành rủi ro hệ thống và giảm thiểu độ trễ của các phản ứng chính sách; và (c) đảm bảo được trách nhiệm giải trình một cách minh bạch và phù hợp.

  • Xây dựng một cơ chế vận hành chính sách an toàn vĩ mô hiệu quả.
  • Triển khai hoạch định chính sách an toàn vĩ mô cần chú ý 05 nhiệm vụ sau: (Hình 4)

  • Tăng cường năng lực phân tích rủi ro hệ thống cho các cơ quan chức năng có liên quan, xem xét trên cả hai khía cạnh là việc hình thành rủi ro theo thời gian và rủi ro từ tình trạng liên kết lẫn nhau trong khu vực tài chính.
  • Lựa chọn và tập hợp công cụ điều hành an toàn vĩ mô để giải quyết các rủi ro hệ thống.
  • Hiệu chỉnh các công cụ hiện có, trên cơ sở xem xét lợi ích và chi phí của các công cụ đó (bao gồm đánh giá tác động chủ ý và các tác động phụ, kể cả những tác động vòng 2 và sau đó) và xây dựng kênh truyền thông cho các chính sách an toàn vĩ mô, cung cấp thông tin rõ ràng về các tiêu chí để đánh giá chính sách cho công chúng và thị trường.
  • Theo dõi, giám sát những khoảng trống pháp lý để có hành động kịp thời, ngăn chặn các hành vi trục lợi kinh doanh từ các lỗ hổng pháp lý.
  • Xác định và xử lý các khoảng trống dữ liệu mà cản trở việc phân tích mối liên kết tài chính vĩ mô, việc thiết kế và hiệu chỉnh các công cụ an toàn vĩ mô và việc phát hiện các lỗ hổng pháp lý.
  • Xây dựng một cơ chế phối hợp hiệu quả trong việc xử lý rủi ro hệ thống
  • Một cơ chế tổ chức hiệu quả là điều kiện cần nhưng chưa đủ để ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng một cách hiệu quả. Một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô hiệu quả không thể thay thế được chính sách an toàn trong các lĩnh vực khác. Ngoài ra, việc triển khai chính sách an toàn vĩ mô vẫn tồn tại những thách thức hoạt động cho dù khuôn khổ chính sách đó là hoàn toàn hiệu quả. Do vậy, chính sách an toàn vĩ mô cần phải được xây dựng trên nền tảng của một chính sách an toàn vi mô mạnh mẽ và một khuôn khổ xử lý nợ hiệu quả

       Chính vì vậy, việc xây dựng một cơ chế phối hợp chính sách là hết sức cần thiết. Cơ chế phối hợp này bao gồm cả sự phối hợp trong nội bộ Ngân hàng trung ương cũng như giữa Ngân hàng trung ương và các cơ quan quản lý có liên quan nhằm mục tiêu ổn định tài chính. Điều này cho phép phối hợp hiệu quả giữa chính sách an toàn vĩ mô với các chính sách khác như chính sách tiền tệ, tài khóa, chính sách an toàn vi mô, v.v… nhằm xử lý rủi ro hệ thống, giảm thiểu khoảng cách và sự chồng chéo trong việc nhận diện và ngăn ngừa rủi ro trong khi vẫn duy trì được tính độc lập của từng chức năng chính sách riêng biệt.

    Ngoài ra, trong khi xây dựng và triển khai chính sách an toàn vĩ mô, các nhà hoạch định chính sách cũng cần tính đến các mục tiêu khác bên cạnh mục tiêu ưu tiên là giảm thiểu rủi ro hệ thống, để từ đó cân nhắc các chi phí đánh đổi trong việc thực hiện các mục tiêu này.

    Tóm lại, không có một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô chung có thể áp dụng cho tất cả các nước. Trên thực tế, tùy thuộc vào trình độ phát triển và đặc thù kinh tế - chính trị - xã hội của mình mà mỗi quốc gia sẽ thiết lập một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô riêng phù hợp. Đồng thời, dựa vào kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng và triển khai chính sách an toàn vĩ mô trên thế giới, các nhà hoạch định chính sách sẽ rút ra những bài học hữu ích cho mình để tiến đến gần hơn một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô hiệu quả./.

    ThS. Đỗ Việt Hùng & nhóm nghiên cứu

    Vụ Ổn định tiền tệ – tài chính

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    ______________________________

    Tài liệu tham khảo

  • BIS, 2010, “Macroprudential Instruments and frameworks: a stocktaking of issues and experiences”, SGFS Papers No. 38, 5/2010;
  • Borio, C., 2003, “Towards a Macroprudential Framework for Financial Supervision and Regulation?”, BIS Working Paper 128;
  • Borio, C., 2009, “Implementing the macroprudential approach to financial regulation and supervision”, Financial Stability Review 13, Tháng 9/2009;
  • FSB, IMF, and BIS, 2011, “Macroprudential Tools and Frameworks,” Update to G-20 Finance Ministers and Central Bank Governors;
  • IMF, 2011a, “Macroprudential Policy: An Organizing Framework”;
  • IMF, 2011b, “Macroprudential Policy: What Instruments and How to Use Them?”, Working paper WP/11/238
  • IMF, 2013a, “Key aspects of Macroprodential Policy”;
  • IMF, 2013b, “Interaction of Monetary and Macroprudential Policies”;
  • Nguyễn Xuân Thành và Đỗ Thiên Anh Tuấn, 2013, “Tăng cường phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô với chính sách giám sát an toàn tài chính ở Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm quốc tế”, Fulbright;
  • Olivier Blanchard, Giovanni Dell’Ariccia và Paolo Mauro, 2013, “Rethinking Macro Policy II: Getting Gralunar”, IMF staff discussion note SDN/13/03;
  • SEACEN, 2012, “Framework for Macro-prudential Policies for Emerging Economies in a Globalized Environment”.
  •  


    • aA
    • Categories:
    • Hợp tác nghiên cứu
    OTHER NEWS
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    05/01/2025
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    12/10/2016
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    12/10/2016
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    12/04/2016
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    12/04/2016
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    11/06/2017
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    11/06/2017
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    11/04/2016
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    11/04/2016
    Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
    09/04/2016
    Showing 1 to 10 of 94
    • 1
    • 2
    • 3
    • 10
    About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
    CPI
    Reserve requirement
    Interest Rate
    Money Market Operations
    • Notification of New Offering off the State Bank Bills
    • Invitation for Gold Auctions
    • Nghiệp vụ thị trường mở
    • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    System of Credit Institutions
    • Banks
      • Commercial Banks
        • State-owned Commercial Banks
        • Joibt-stock Commercial Banks
        • Wholly Foreign Owned Banks
        • Joint-venture Banks
      • Policy Banks
      • Cooperative Banks
    • Non-Banks Credit Institution
      • Finance Companies
      • Leasing Companies
      • Other non-bank credit Institutions
    • Micro finance Institutions
    • People's Credit Fund
    • Foreign Bank Branches
    • Representative Offices
    Search Bar
    TIN VIDEO
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    TIN ẢNH
    Album
    Album
    TIN ẢNH
    Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
    Ngân hàng
    ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
    Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
    © state bank of vietnam portal
    Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
    Webmaster: (84 - 243) 266.9435
    Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
    NCSC Certification
    State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
    Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
    IPv6 Ready