Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Hợp tác nghiên cứu

Kinh nghiệm quản lý – huy động vàng ở Ấn Độ

24/12/2014 16:20:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Theo thống kê của Hội đồng vàng thế giới, gần 80% tổng nhu cầu vàng trang sức và vàng miếng (thỏi và đồng xu) toàn thế giới đang tập trung tại khoảng 20 quốc gia. Trong đó, Ấn Độ là nước tiêu dùng vàng lớn nhất, chiếm khoảng 32% 1tổng nhu cầu vàng toàn thế giới. Nhìn vào tỷ lệ giá trị tiêu thụ vàng vật chất/GDP cũng cho thấy nhiều nét đặc trưng riêng của quốc gia này trong văn hóa tích trữ và tiêu dùng vàng.

Mặc dù Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có khối lượng tiêu thụ lượng vàng vật chất nhất nhì thế giới. Tuy nhiên, nếu ở Trung Quốc, tổng nhu cầu vàng vật chất chỉ bằng 0,5% giá trị GDP của nước này, thì ở Ấn Độ, con số này là 2,52%.

Bảng 2. Nhu cầu vàng so với GDP của 1 số quốc gia (Năm 2012)

 

Vàng trang sức

Vàng miếng

Tổng

India

1,61%

0,91%

2,52%

China

0,33%

0,17%

0,50%

Thailand

0,04%

1,15%

1,19%

Vietnam

0,43%

2,49%

2,92%

Turkey

0,47%

0,33%

0,80%

USA

0,04%

0,02%

0,06%

UK

0,05%

0,00%

0,05%

France

0,00%

0,01%

0,01%

World

0,02%

0,01%

0,04%

Nguồn: Tự tổng hợp theo số liệu từ World Bank và WGC.

Trong đó, vàng trang sức chiếm một tỷ lệ rất lớn, khoảng từ 60-70% lượng vàng vật chất hàng năm và cũng chiếm một tỷ lệ so với GDP cao hơn hẳn so với các quốc gia khác. Điều này xuất phát từ việc trong xã hội Ấn Độ, vàng có ý nghĩa văn hóa quan trọng. Theo văn hóa tôn giáo, phong tục tập quán của đất nước này, vàng là biểu tượng của sự thịnh vượng và giàu sang và là kim loại không thể thiếu trong các lễ hội của đạo Hindu (tôn giáo của 80% dân số Ấn Độ). Vàng cũng đóng vai trò quan trọng trong lễ kết hôn nơi cô dâu thường mang trang sức vàng như của hồi môn và tài sản thừa kế cha mẹ dành cho. Với trung bình mười triệu lễ cưới mỗi năm, nhu cầu vàng của người dân Ấn càng ngày càng lớn. Với nhu cầu vàng lớn như vậy, nguồn cung vàng của Ấn Độ lại chủ yếu là dựa vào nhập khẩu vàng và vàng tái chế. Điều này đã gây ra không ít khó khăn cho Ấn Độ trong việc quản lý kiểm soát thị trường vàng, cùng những ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế khi vàng không đơn giản chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa văn hóa rất lớn trong xã hội Ấn Độ. Trong những năm gần đây, sau ảnh hưởng của diễn biến bất lợi liên tục của kinh tế thế giới, vàng càng gây ra áp lực nặng nề với sự ổn định kinh tế vĩ mô của quốc gia này. Thâm hụt cán cân vãng lai trên GDP ngày càng gia tăng chủ yếu là do khối lượng nhập khẩu lớn vàng và các sản phẩm liên quan đến dầu mỏ gây ra lo ngại về sự bền vững và khả năng tài trợ thâm hụt cán cân vãng lai.

Nhận thức được những vấn đề này, chính phủ Ấn Độ từ trước cho tới nay đã cố gắng cân bằng các lợi ích chính đáng của hoạt động kinh doanh vàng, cũng như nhu cầu phòng ngừa lạm phát của người tiết kiệm để làm giảm tình trạng nhập khẩu vàng, bảo vệ sự ổn định của cán cân vãng lai và các điều kiện tài chính vĩ mô. Trong các nỗ lực đó, giải pháp huy động nguồn lực vàng trong dân cũng là một chính sách được chính phủ Ấn Độ tính tới và triển khai trong nhiều thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên, cho tới nay, quốc gia này cũng vẫn còn loay hoay, lúng túng trong việc tìm ra giải pháp quản lý thị trường vàng an toàn, bền vững nói chung và huy động vàng nói riêng. Với tỷ lệ tiêu thụ vàng vật chất trên GDP khá cao giống Ấn Độ, việc tìm hiểu chính sách quản lý vàng ở Ấn Độ rất có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam. Để có cái nhìn toàn diện và hiểu được bối cảnh quản lý thị trường vàng ở Ấn Độ, từ đó rút ra bài học có giá trị cho công tác quản lý thị trường vàng nói chung và huy động vàng nói riêng ở Việt Nam, bài viết dưới đây sẽ tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển chính sách quản lý – huy động vàng của Ấn Độ qua các thời kỳ khác nhau.

Từ khi giành được độc lập vào năm 1947, Chính phủ Ấn Độ đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến vàng, nhằm hướng tới phát triển một thị trường vàng ổn định, thúc đẩy các thị trường tài chính khác và nền kinh tế tăng trưởng theo. Ấn Độ đã mau chóng định hướng các chính sách về quản lý vàng tập trung xoay quanh 5 mục tiêu:

  • Chấm dứt thói quen ưa chuộng vàng của người dân Ấn
  • Điều tiết được nguồn cung vàng
  • Giảm tình trạng buôn lậu vàng
  • Giảm nhu cầu về vàng
  • Giảm giá vàng trong nước
  • Tuy nhiên, cho đến nay, để theo đuổi các mục tiêu này, Ấn Độ đã trải qua hai xu hướng chính sách. Trước năm 1990, Ấn Độ thực thi chính sách kiểm soát quản lý chặt chẽ thị trường vàng và sau năm 1990, thị trường vàng ở Ấn Độ được nới lỏng theo hướng tự do hóa.

    Năm 1947, Chính phủ Ấn độ ban hành Đạo luật Quy định về ngoại hối cấm toàn bộ các hoạt động xuất nhập khẩu vàng. Đến năm 1963, Chính phủ Ấn Độ đã ban hành Quy định kiểm soát vàng: cấm sản xuất trang sức bằng vàng trên 14k nguyên chất. Tất cả các thợ kim hoàn lớn, nhỏ, buộc phải thiết lập các hồ sơ lưu giữ liên quan đến mua, sản xuất và bán mặt hàng này. Cá nhân chỉ được phép nắm giữ vàng dưới dạng trang sức và phải công bố lượng vàng nắm giữ khi vượt quá mức trần nhất định (vượt quá 2000 g đối với cá nhân và 4000 g đối với gia đình). Chỉ có các nhà buôn được cấp phép mới được giao dịch bằng vàng thỏi và vàng xu. Mặc dù trong vài năm tiếp sau, quy định về mức trần 14k được nới lỏng nhưng chế độ kiểm soát vàng được khẳng định mạnh hơn qua việc ban hành dưới dạng Luật: Đạo luật quản lý Vàng năm 1968.

    Mặc dù liên tục ban hành và thể hiện bằng văn bản có tính pháp lý ngày càng cao nhưng các chính sách kiểm soát và hạn chế giao dịch vàng của Ấn Độ đạt được rất ít mục tiêu đề ra. Do vàng chỉ được sở hữu dưới hình thức duy nhất là vàng trang sức nên vàng trang sức lại trở thành công cụ để đầu tư. Ngoài trang sức được chế tác tinh xảo, rất nhiều các loại trang sức thô (chẳng hạn như nhẫn hay vòng) được chế tác (để bán với giá chế tác rất thấp) để có thể dễ dàng sử dụng như “tiền”. Sư yêu thích sở hữu vàng của người dân càng củng cố mạnh thay vì giảm dần. Nhu cầu vàng không hề giảm do một lượng lớn vàng vẫn thường xuyên được nhập lậu vào Ấn Độ. Kéo theo đó, các mối quan hệ giữa những kẻ buôn lậu vàng với quan chức cao cấp đã trở thành phổ biến.

    Trước sự thất bại của việc thực thi Đạo luật kiểm soát vàng cùng với xu thế chính sách mới bắt đầu từ năm 1990 là giảm điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế quốc gia, Ấn Độ cũng có những thay đổi kéo theo đối với chính sách quản lý vàng. Tháng 6/1990, Đạo luật kiểm soát vàng bị bãi bỏ. Năm 1991, quyền sở hữu vàng của người dân được khôi phục hoàn toàn đối với cả vàng thỏi và tiền vàng. Nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của Ấn Độ trong việc thực hiện kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng giai đoạn này có thể thấy rõ là do: Thứ nhất, Ấn Độ đã không có một chế tài đủ mạnh, không có sự điều hành hiệu quả và thực thi pháp lý một cách nhanh chóng, dứt khoát. Thứ hai, Ấn Độ đã kiểm soát thị trường vàng với mức cao nhất là cấm quyền sở hữu vàng tư nhân nhưng quyền sở hữu vàng ở Ấn Độ không bị cấm toàn diện dưới mọi hình thức (vẫn được sở hữu vàng trang sức) trong khi văn hóa vàng trang sức ở Ấn Độ lại mạnh mẽ và ăn sâu.

    Tương ứng với 2 thời kỳ chính sách này, Ấn Độ đã thực thi những cơ chế, chính sách huy động khác nhau đối với lượng vàng trong dân cư. Cụ thể như sau:

  • Giai đoạn từ năm 1947 – 1990: Ấn Độ duy trì chế độ kiểm soát vàng theo đó, người dân không được quyền sở hữu vàng dưới dạng vàng miếng hoặc đồng xu; phát hành trái phiếu vàng (gold bond schemes)
  • Giai đoạn từ 1991 – nay: Ấn Độ cho phép người dân được sở hữu vàng dưới mọi hình thức; thực hiện cơ chế huy động vàng (gold deposit schemes)
  • Giai đoạn từ năm 1947 – 1990:

    Việc phát hành trái phiếu vàng là một trong chuỗi các giải pháp để đạt được mục tiêu giảm tình trạng nắm giữ vàng quá nhiều trong dân đã đề ra từ đầu. Với ý nghĩa đó, trong giai đoạn này, chính phủ Ấn Độ đã tiến hành 3 cơ chế trái phiếu vàng, được thực hiện lần lượt vào các năm 1962 va 1965 (2 đợt) để huy động lượng vàng nhàn rỗi trong nền kinh tế. Các cơ chế trái phiếu vàng này có điểm chung là: (i) Được thực hiện bởi Chính phủ và Ngân hàng Trung ương Ấn Độ RBI; và (ii) Hình thức vàng huy động: vàng thỏi, vàng dưới dạng đồng xu và vàng trang sức.

    Có thể hiểu lý do phát hành trái phiếu vàng của chính phủ Ấn Độ trong giai đoạn thực thi đạo luật cấm sở hữu vàng tư nhân như sau:

  • Thứ nhất, vàng vẫn được phép sở hữu dưới dạng vàng trang sức, trong bối cảnh người dân vẫn ưa thích tích trữ vàng, và có thể chuyển từ đầu tư vàng miếng sang vàng trang sức, do vậy khi Ấn Độ phát hành trái phiếu vàng, đối tượng vàng thu hút ngoài vàng miếng, còn có vàng trang sức.
  • Thứ hai, thu hút và chuyển đổi được lượng vàng vật chất nhàn rỗi trong nền kinh tế thành đồng bản tệ khi mà trong hai đợt phát hành đầu, trái phiếu vàng khi đáo hạn được thanh toán bằng đồng rupee thay vì bằng vàng.
  • Tuy nhiên, hiệu quả của các đợt trái phiếu này không được như mong đợi, Đợt phát hành trái phiếu vàng lần thứ nhất được thực hiện vào 12/11/1962 với kỳ hạn 15 năm và lãi suất là 6,5% thu hút được 16,7 tấn vàng. Sau khi ban hành Quy định về kiểm soát vàng cấm mọi người dân sở hữu vàng thỏi, vàng xu, ngoại trừ vàng trang sức năm 1963, Ấn Độ tiến hành tiếp 2 đợt phát hành trái phiếu vàng vào năm 1965. Lẽ ra sau khi chính thức cấm sở hữu vàng miếng, đợt phát hành trái phiếu sau hi vọng sẽ thu hút được một lượng vàng lớn hơn, tuy nhiên ở cả 2 đợt này lượng vàng thu được thấp hơn đợt đầu tiên. Đợt phát hành trái phiếu vàng lần thứ 2 với kỳ hạn 15 năm và lãi suất 7%. lượng vàng thu được chỉ đạt 6,1 tấn. Đợt phát hành thứ 3, với tên gọi Trái phiếu vàng bảo vệ quốc gia 1980 (National Defence Gold Bonds 1980), thu hút được một lượng vàng gấp đôi lần liền trước, đạt 13.7 tấn, tuy nhiên vẫn thấp hơn đợt đầu tiên. Đặc biệt là với đợt trái phiếu lần thứ 3, chính phủ Ấn Độ đã thay đổi hình thức thanh toán bằng vàng thỏi chứ không phải bằng tiền mặt như hai đợt đầu. Động thái này cho thấy chính phủ Ấn Độ dường như đang thỏa hiệp dần với nhu cầu tích trữ vàng vật chất của người dân. Mục tiêu chấm dứt thói quen ưa chuộng vàng và giảm dần nhu cầu vàng trong dân trong bộ chính sách thuộc khuôn khổ Đạo luật Kiểm soát vàng của Ấn Độ có vẻ khó đạt được.

    Không ngăn chặn và thay đổi được việc nắm giữ vàng của người dân, tình trạng buôn lậu vàng và sở hữu vàng ngầm diễn ra mạnh mẽ, giá vàng vẫn tiếp tục gia tăng. Trước tình hình chênh lệch ngày càng lớn (từ 50% đến trên 50%) giữa giá vàng trong nước và quốc tế, năm 1978, Ngân hàng Trung ương Ấn Độ RBI đóng vai trò là đại lý của chính phủ, đứng ra thực hiện đấu thầu vàng để bán vàng từ trong tay của chính phủ nhằm: (i) hỗ trợ chống lạm phát, tạo nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách; (ii) giảm buôn lậu vàng ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, các hoạt động đấu thầu này bị chỉ trích vì cuối cùng nó không đạt được mục tiêu đặt ra. Tháng 10/1978, Chính phủ Ấn Độ bãi bỏ các hoạt động đấu thầu vàng này. Nhìn từ góc độ nghiên cứu, hoạt động đấu thấu vàng của Ấn Độ đã thất bại và sớm bị chấm dứt là do không nằm trong tổng thể chính sách, thể hiện việc thỏa hiệp với mục tiêu giảm thói quen giữ vàng trong dân trong khi đang thực thi chính sách cấm người dân sở hữu vàng. Sự thỏa hiệp này đã làm tình trạng nhập lậu và chênh lệch giá vàng trong nước quốc tế trở nên tồi tệ hơn và đẩy các nhà hoạch định chính sách của Ấn Độ vào tình thế khó khăn và trong lúng túng.

    Giai đoạn 1991 đến nay:

    Sau khi chuyển hướng chính sách quản lý vàng năm 1990, Ấn Độ vẫn kiên trì với giải pháp huy động vàng trong dân. Để thực hiện giải pháp này với xu hướng chính sách mới, Ấn Độ đã tiến hành hai cơ chế để huy động vàng trong khu vực tư nhân:

    (i) Năm 1993: Phát hành Trái phiếu vàng 5 năm (Trái phiếu 1998). Được phát hành trong vòng 3 tháng, từ 3/1993-6/1998. Đến hạn, trái phiếu được hoàn trả bằng vàng thỏi với độ nguyên chất là 99,5% cộng thêm với một khoản tiền lãi tổng là 40 rupee một gam vàng. Đợt trái phiếu này thu hút được 41 tấn vàng.

    (ii) Từ năm 1999, Cơ chế Huy động tiền gửi bằng vàng (Gold Deposit Scheme) được thực hiện dưới sự giám sát của RBI.

    Mục tiêu của cơ chế này được đưa ra là nhằm giảm lượng vàng nhập khẩu, đưa vàng nắm giữ tư nhân vào sử dụng và tạo cơ hội cho dân chúng có thu nhập từ lượng vàng mình nắm giữ.

    NHTW Ấn Độ trao quyền cho 6 ngân hàng thương mại để thực hiện cơ chế này. Cụ thể:

    Ngân hàng

    Ngày trao quyền

    State Bank of India*

    Tháng 8/1999

    Indian Oversea Bank*

    Tháng 11/1999

    Corporation Bank*

    Tháng 12/1999

    Allahabad Bank*

    Tháng 1/2000

    Canara Bank

    Tháng 3/2000

    Bank of Nova Scotia

    Tháng 8/2000

    Nguồn: RBI

       Các ngân hàng được trao quyền sẽ chịu trách nhiệm thực hiện cơ chế huy động tiền gửi theo các chương trình riêng của mình. Tuy nhiên, RBI đưa ra hướng dẫn để đảm bảo các đặc điểm chung sau đây:

    (i) Đối tượng tham gia Cơ chế huy động tiền gửi bằng vàng: các cá nhân, các gia đình thống nhất Hindu (Hindu Undivided Families), các quỹ tín thác và các công ty.

    (ii) Kỳ hạn huy động vàng kéo dài từ 3 – 7 năm, mặc dù việc rút vàng trước kỳ hạn sau một thời gian nhất định là được cho phép. Khối lượng gửi tối thiểu là 200g vàng.

    (iii) Hình thức vàng được chấp nhận: vàng thỏi, đồng tiền vàng, và vàng trang sức đều được chấp nhận. Các loại vàng này sẽ được coi là vàng nguyên liệu để phân tích và tinh chế. Sau quá trình phân tích ban đầu, nhưng trước bước phân tích cuối cùng, người gửi vàng có quyền rút lại không gửi nữa.

    (iv) Lãi suất đối với giá trị vàng gửi được quy định dao động xung quanh mức 3-4% và được trả định kỳ hoặc toàn bộ vào cuối kỳ. Khi hoàn trả, việc thanh toán có thể được thực hiện bằng vàng thỏi (99,5%) hoặc bằng đồng rupee.

    Để trang trải cho các chi phí và thanh toán tiền lãi, các ngân hàng được phép cho vay vàng đã nhận gửi (sau khi tinh chế). Đối tượng cho vay là các nhà sản xuất vàng trang sức. Các ngân hàng cũng được tham gia vào các hợp đồng tương lai với các nhà giao dịch vàng miếng quốc tế, nhưng giới hạn ở khối lượng vàng nhận gửi. Họ cũng được bán lượng vàng nhận gửi ở thị trường trong nước cũng như được cho vay bằng đồng rupee với vàng gửi là tài sản thế chấp.

    Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình này vẫn chưa cao. Dân chúng có thể tham gia vào chương trình này thông qua 134 chi nhánh ngân hàng tại 55 thành phố của 4 ngân hàng được trao quyền. Tuy nhiên chỉ có một số rất ít trong số 134 chi nhánh này có được lượng vàng gửi đáng kể. State Bank of India (SBI) là ngân hàng hoạt động tích cực nhất, chiếm 90% lượng vàng gửi trên cả nước và theo nhận định từ các ngân hàng thì đối tượng khách hàng quan trọng nhất là các đền chùa. Một số đền chùa đã gửi một lượng lớn vàng trang sức cũ mà họ nhận được qua quyên góp từ thiện. Còn công chúng, theo báo cáo từ phía các ngân hàng, việc mang trang sức của mình đi gửi là miễn cưỡng vì sau quá trình phân tích sơ bộ, trang sức của họ thường có kết quả là mang hàm lượng vàng thấp hơn mong đợi của họ. Quá trình phân tích sơ bộ lại còn thường làm hỏng trang sức trong khi đồ trang sức của họ sẽ có giá trị cao hơn khi đem bán lại hoặc đem đổi cho các cửa hàng bán lẻ mà họ đã từng mua chúng.

    Như vậy, trải qua rất nhiều năm xây dựng và phát triển chính sách, Ấn Độ vẫn chưa hoàn toàn thành công trong việc đạt được các mục tiêu quản lý thị trường vàng nói chung và huy động vàng nói riêng. Tuy nhiên, nhìn lại quá trình này ở Ấn Độ giúp nhận ra những bài học có giá trị cho công tác quản lý huy động vàng tại Việt Nam:

    Thứ nhất, để đạt được thành công trong quản lý thị trường vàng, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách trong bộ chính sách quản lý thị trường vàng và sự thực thi nghiêm khắc với chế tài đủ mạnh để đảm bảo hiệu quả của từng chính sách. Có thể thấy, trong giai đoạn đầu, chính sách huy động vàng nói riêng và chính sách kiểm soát vàng nói chung của Ấn Độ thất bại do mục tiêu chính sách đã rõ, hướng đi chính sách đã rõ nhưng hiệu lực của các chính sách thấp do bộ các chính sách theo tinh thần của Đạo luật Kiểm soát vàng còn chưa có sự kín kẽ, thống nhất và bổ sung cho nhau; và việc thực thi Đạo luật kiểm soát vàng lại thiếu tính răn đe triệt để, chính quyền có sự thỏa hiệp với mong muốn của người dân.

    Thứ hai, giải pháp huy động vàng trong dân có ý nghĩa tích cực nhưng không phải dễ thực hiện. Trước hết, nó cần phải được thiết kế phù hợp và nằm trong tổng thể định hướng chung về quản lý thị trường vàng. Ở Ấn Độ, với mỗi giai đoạn, chính phủ Ấn Độ đã lưu ý thiết kế các cơ chế huy động tương ứng. Tuy nhiên đây chỉ là điều cần cần chưa phải là điều kiện đủ để thành công. Hoạt động huy động vàng còn cần phải tập trung xác định chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc huy động; thiết kế các tài sản tài chính (chứng chỉ, trái phiếu,..) đối ứng với vàng huy động đảm bảo đủ độ tin cậy, tính khả mại và lợi ích của người nắm giữ; Xây dựng kế hoạch cụ thể đối với nguồn lực vàng huy động cũng như các biện pháp phòng ngừa các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình huy động. Theo kinh nghiệm của Ấn Độ thì lượng vàng mà họ huy động được phần lớn chỉ cho các nhà sản xuất vàng trang sức vay, và các ngân hàng được NHTW ủy quyền thực hiện huy động vàng được phép cấp các khoản vay trên cơ sở tài sản đảm bảo là các chứng chỉ tiền gửi bằng vàng, bán vàng trong nước hay tham gia các hợp đồng kỳ hạn về giao dịch vàng trên thị trường quốc tế (với giá trị không được vượt quá khối lượng vàng họ đã huy động được). Tuy nhiên, hướng đi quản lý và phát triển thị trường vàng của Ấn Độ không hoàn toàn giống với Việt Nam, văn hóa sở hữu vàng của người dân Ấn thiên về trang sức, cũng không hoàn toàn giống người dân Việt, do vậy chắc chắn, cơ chế huy động và sử dụng vàng huy động ở Việt Nam sẽ không giống của Ấn Độ. Hơn nữa, trên thực tế, Ấn Độ cũng vẫn không thu hút được nhiều lượng vàng trong dân cư và vẫn chưa giải quyết được triệt để vấn đề phát triển một thị trường vàng an toàn, bền vững. Có lẽ, điều quan trọng nhất trong việc quản lý – huy động vàng mà các quốc gia nên hướng tới vẫn là thay đổi thói quen tích trữ vàng của người dân, giảm tình trạng ưa thích nắm giữ vàng vật chất. Từ đó, thay vì tìm cách huy động vàng trong dân, có thể phát triển một thị trường vàng đầu tư hiện đại như các quốc gia phát triển.

    Tài liệu tham khảo:

  • India’s Gold Rush: Its Impact and Sustainability.
  • An Introdution to the Indian Gold Market.
  • Gold in the Indian Economic system.
  • World Gold Council, Gold Demand Trends, 2012
  •  

    Ths. Trần Thị Thanh Hòa

    Viện Chiến lược Ngân hàng

     

    1 Số liêu năm 2010


    • aA
    • Categories:
    • Hợp tác nghiên cứu
    OTHER NEWS
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    05/01/2025
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    12/10/2016
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    12/10/2016
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    12/04/2016
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    12/04/2016
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    11/06/2017
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    11/06/2017
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    11/04/2016
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    11/04/2016
    Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
    09/04/2016
    Showing 1 to 10 of 94
    • 1
    • 2
    • 3
    • 10
    About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
    CPI
    Reserve requirement
    Interest Rate
    Money Market Operations
    • Notification of New Offering off the State Bank Bills
    • Invitation for Gold Auctions
    • Nghiệp vụ thị trường mở
    • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    System of Credit Institutions
    • Banks
      • Commercial Banks
        • State-owned Commercial Banks
        • Joibt-stock Commercial Banks
        • Wholly Foreign Owned Banks
        • Joint-venture Banks
      • Policy Banks
      • Cooperative Banks
    • Non-Banks Credit Institution
      • Finance Companies
      • Leasing Companies
      • Other non-bank credit Institutions
    • Micro finance Institutions
    • People's Credit Fund
    • Foreign Bank Branches
    • Representative Offices
    Search Bar
    TIN VIDEO
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    TIN ẢNH
    Album
    Album
    TIN ẢNH
    Album
    Album
    Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
    Ngân hàng
    ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
    Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
    © state bank of vietnam portal
    Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
    Webmaster: (84 - 243) 266.9435
    Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
    NCSC Certification
    State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
    Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
    IPv6 Ready