Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Hợp tác nghiên cứu

Lạm phát ổn định ở mức hợp lý là điều kiện tốt cho sự phát triển

27/01/2015 22:08:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở nhiều quốc gia là cách tư duy về ổn định giá và là cơ sở để xác định nền kinh tế đã ổn định hay không, bởi nếu lạm phát cứ tăng, giảm thiểu ổn định thì ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế. Đây cũng là lý do khiến các nước châu Mỹ La Tinh ở thời kỳ lạm phát cao đã phải đấu tranh, đưa ra mức lạm phát mục tiêu và các nhà hoạch định kinh tế phải thực hiện được mục tiêu này. Tại Việt Nam, nếu như cách đây 3 năm, chống lạm phát cao và tái lập các cân đối vĩ mô là ưu tiên số một của Chính phủ thì tỷ lệ lạm phát thấp hiện nay tạo cơ hội cho sự phát triển, song cũng là thách thức mới cho công tác điều hành kinh tế nếu lạm phát tiếp tục giảm sâu.

Để có thể lý giải một cách rõ ràng hơn xu hướng lạm phát giảm trong 3 năm gần đây, chung ta cần nhìn lại cả một giai đoạn dài của lạm phát Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay:

Giai đoạn lạm phát từ năm 1990-1998: Sau giai đoạn lạm phát phi mã, Việt Nam bước vào một thời kỳ mới với đặc trưng chủ yếu đó là nền kinh tế đang chuyển đổi toàn diện từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lạm phát trong giai đoạn trước đã dần được đẩy lui từ mức ba con số cuối những năm 1980 xuống còn mức hai con số trong những năm đầu thập kỷ 1990. Nhờ những nỗ lực của Chính phủ trong việc thực hiện các giải pháp thắt chặt chi tiêu, chấm dứt việc phát hành bù đắp bội chi ngân sách và cải cách hệ thống thuế, nới lỏng cơ chế kiểm soát giá cả, phi tập trung hóa tiến trình ra các quyết định về kinh tế, chuyển đổi điều hành tỷ giá theo quan hệ cung cầu ngoại tệ, khuyến khích xuất khẩu đồng thời thi hành một chính sách lãi suất thực dương, kết hợp thắt chặt kiểm soát cung tiền mà lạm phát phi mã đã được đẩy lùi từ trên 60% năm 1990 xuống còn 17,2% năm 1992 và tiếp tục giảm xuống còn một con số từ năm 1996-1998. Đồng thời, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Việt Nam có xu hướng liên tục tăng lên, từ mức xấp xỉ 5% đầu những năm 1980 lên dao động quanh mức 8-9% trong giai đoạn 1992-1997. Theo đó, tốc độ tăng lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đoạn này có xu hướng hỗ trợ tích cực cho nhau. Có thể nói, đây là giai đoạn tốc độ lạm phát giảm nhanh, gắn liền với quá trình đẩy nhanh cải cách kinh tế, chuyển đổi toàn diện sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa.

Từ năm 1999-2003, lạm phát Việt Nam ở mức rất thấp (xem đồ thị 2) do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997. Về phía tổng cầu, cuộc khủng hoảng đã khiến nhu cầu tiêu thụ hàng hóa trên thị trường thế giới sụt giảm mạnh, từ đó tác động tiêu cực đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam và hệ quả đi kèm là hàng hóa tồn đọng trong nước gia tăng. Bên cạnh đó, khủng hoảng cũng khiến cho nguồn FDI, cầu du lịch và các loại hình dịch vụ giảm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ giảm mạnh từ mức 43% năm 1991 xuống mức từ 7,3% -10,2% năm 1999-2001( xem đồ thị 1). Trong khi đó, cầu hàng hóa và dịch vụ ở thị trường nội địa cũng có xu hướng chuyển từ lượng sang chất, đồng thời sức mua của nhân dân ở các vùng nông thôn, miền núi cũng giảm mạnh. Tất cả các yếu tố trên đã tạo sức ép khiến tổng cầu sụt giảm mạnh, vừa tác động làm suy giảm tăng trưởng, đồng thời tạo áp lực cầu kéo khiến chỉ số giá hàng hóa trong nước có sự sụt giảm mạnh.

Đồ thị 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế

giai đoạn 1990-T11/2014 (tỷ đồng)

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Về phía cung, nguồn cung hàng hóa trên thị trường nội địa tăng mạnh, cả từ phía các doanh nghiệp trong nước do kết quả của quá trình đổi mới và mở rộng sản xuất kinh doanh, cũng như từ phía các doanh nghiệp FDI do xuất khẩu khó khăn nên chuyển hướng tiêu thụ sang thị trường nội địa. Cùng với yếu tố trên, việc giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới sụt giảm cũng đã góp phần gây sức ép khiến kinh tế suy giảm, lạm phát giảm mạnh trong những năm sau khủng hoảng.Với những tác động từ hai phía tổng cầu và tổng cung như vậy, lạm phát có lúc rơi xuống dưới 0%, tăng trưởng kinh tế đã có sự sụt giảm mạnh từ mức trung bình xấp xỉ 9% trong giai đoạn 1992-1997 xuống còn 5,8% và 4,8% trong hai năm tiếp theo.

Trước tình hình trên, Chính phủ đã thực hiện các giải pháp kích cầu đầu tư thông qua nới lỏng CSTT và CSTK, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng tín dụng và cung tiền bình quan trong giai đoạn này là 20,6%/năm và 35%/năm. Bên cạnh đó, việc triển khai nhiều cải cách lớn trong giai đoạn từ đầu những năm 2000 đến trước khi Việt Nam gia nhập WTO đã giúp nền kinh tế hồi phục với tốc độ nhanh hơn. Cụ thể, Luật Doanh nghiệp (2000) được ban hành đã dỡ bỏ các rào cản thành lập doanh nghiệp, đơn giản thủ tục và giảm chi phí gia nhập thị trường, thiết lập môi trường kinh doanh thuận lợi; tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh; hiệp định song phương với Mỹ (2001) được ký kết đã khuyến khích sáng tạo và đem lại cơ hội cho hàng ngàn doanh nghiệp; sở giao dịch chứng khoán (2000) được hình thành nền tảng ban đầu cho việc huy động vốn và đầu tư của doanh nghiệp; và hàng loạt của bộ luật thương mại, đầu tư, đất đai... được sửa đổi và bổ sung trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO. Tất cả các chính sách này đã góp phần giải phóng và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng trong một thời gian dài sau đó.

Từ năm 2004-2011, lạm phát có xu hướng gia tăng và tăng mạnh lên mức 2 con số. Theo dõi diễn biến lạm phát giai đoạn này có thể nhận thấy lạm phát bắt đầu tăng vào năm 2004 khi đạt mức 9,4% (cao hơn nhiều mức mục tiêu đề ra là 6%) và tiếp tục leo lên đạt đỉnh 19,9% và 18,13% lần lượt vào 2 năm 2008 và 2011. Bên cạnh đó, tốc độ lạm phát đã dao động với biên độ rất lớn, từ 6,5%/năm đến xấp xỉ 20%/năm. Quan sát diễn biến lạm phát giai đoạn 2004-2011 đến nay cũng có thể nhận thấy lạm phát liên tục biến động với chu kỳ hai năm cao, một năm thấp. Bên cạnh đó, lạm phát thực tế hàng năm thường xuyên cao hơn lạm phát mục tiêu, đồng thời mức tăng lạm phát cũng liên tục cao hơn mức tăng trưởng GDP. Quan sát xu hướng đường tăng trưởng dài hạn ở trên nhận thấy, trái với giai đoạn trước năm 2004, đường tăng trưởng dài hạn thể hiện xu hướng đi xuống rõ rệt, đặc biệt từ năm 2007. Đây có thể xem là hậu quả của việc triển khai một loạt các giải pháp kích cầu đầu tư và cải cách từ phía cung từ năm 1999 và những bất cấp trong cơ cấu kinh tế. Việc theo đuổi mô hình phát triển kinh tế chú trọng vào tăng trưởng, thiên về lượng nhiều hơn là về chất, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào sự gia tăng vốn đầu tư, sử dụng lao động rẻ, khai thác tài nguyên thô và gia công hàng xuất khẩu,… trong khi hiệu quả sử dụng vốn thấp1 cũng là một nguyên nhân căn bản gây áp lực lạm phát gia tăng.

Từ năm 2012 trở lại đây, lạm phát có xu hướng ổn định dưới mức 7% (6,81% năm 2012 và 6,04% năm 2013). Cùng với việc ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP khẳng định kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, cộng với áp lực lạm phát từ phía cầu cũng như phía cung đã giảm bớt, lạm phát dần được kiểm soát ổn định. Mức lạm phát 11 tháng năm 2014 so với cùng kỳ năm 2013 chỉ ở mức 4,3%. CPI trung bình 11 tháng năm 2014 tăng 4,3%, bằng một nửa tỉ lệ tăng trung bình trong 10 năm gần đây2. Như vậy, nhìn tổng thể trong giai đoạn 2011-2014 thể hiện nỗ lực rất lớn của Việt Nam trong việc kiểm soát giá cả. Với mức lạm phát giao động khoảng 6%, Việt Nam đã nhường lại vị trí là nước có mức lạm phát cao nhất trong khu vực cho Indonesia (8,32%) và trở thành một trong những nước thực hiện kiểm soát lạm phát có hiệu quả nhất.

Đồ thị 2: Diễn biến lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1990-T11/2014

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Như vậy có thể thấy trong vòng hơn 25 năm trở lại đây, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam lên xuống hết sức thất thường, không ổn định khi ở mức 2 con số, khi ở mức một con số và thậm chí có thể xuống dưới cả 0%. Nguyên nhân lạm phát thiếu ổn định như vây là do các biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế mang tính ngắn hạn, thiếu tầm nhìn dài hạn, những năm lạm phát thấp trước đây chủ yếu do giá lương thực thực phẩm và giá cả các mặt hàng thiết yếu trên cả thề giới giảm thấp.

Phân tích nguyên nhân lạm phát xu hướng giảm từ năm 2012-2014, có thể thấy có một số những nguyên nhân tương đồng với những nguyên nhân giai đoạn lạm phát thấp trước đây, cụ thể như:

- Sức cầu của nền kinh tế yếu: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiếp tục có xu hương giảm từ năm 2011 (giảm từ 19,34% xuống 12,22% năm 2012 và tiếp tục giảm xuống 11,23% năm 2013. Tính chung 11 tháng năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước đạt 2670,6 nghìn tỷ đồng, chỉ tăng khoảng 11,1% so với cùng kỳ năm 2013, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,5%, so với cả năm 2013, chỉ tăng 0,05% (xem đồ thị 1). Nhu cầu tiêu dùng tăng không cao như năm trước, người dân chi tiêu ngày càng tính toán, tiết kiệm, hiệu quả và thông minh hơn. Đặc biệt, trong năm 2014, liên tiếp diễn ra các đợt giảm giá xăng, dầu và giá ga, khiến giá nhóm giao thông giảm 2,75%, đóng góp 0,24% trong tổng mức giảm 0,27% chung của CPI. Bên cạnh đó, khối lượng tiền trong nền kinh tế giảm cũng là nguyên nhân khiến lạm phát giảm.

- Giá cả hàng hóa thế giới giảm: Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO) giá lương thực thế giới đã giảm xuống mức thấp nhất trong khoảng 15 năm qua, đánh dấu giai đoạn giảm giá dài nhất kể từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước chủ yếu nhờ những vụ mùa bội thu và lượng dự trữ thực phẩm lớn. Các mặt hàng giảm giá mạnh nhất gồm có đường và các sản phẩm sữa, tiếp đến là các loại ngũ cốc và dầu thực vật.Giá dầu tương lai giảm càng làm gia tăng nguồn cung trong ngắn hạn, đẩy giá dầu tụt dốc nhanh. Đặc biệt giá dầu thô đang tụt trên 90 USD xuống còn mức 70 USD/thùng, kéo giá cả chung cả thế giới đi xuống, không riêng Việt Nam.Trong 6 tháng vừa qua, giá dầu thô liên tục giảm đến 30%; CPI thấp còn nhờ thời tiết và điều kiện canh tác thuận lợi, năng suất và sản lượng nông nghiệp cả nước tăng;

Một số nguyên nhân khác mang tính căn bản hơn đó là, mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô được Chính phủ ưu tiên hàng đầu trong điều hành kinh tế vĩ mô suốt 3 năm qua, ngay cả khi lạm phát được kiểm soát. Các giải pháp được chú trọng thực hiện đó là, thực thi CSTT chủ động, linh hoạt, quyết đoán trong kiểm soát cung tiền lãi suất, tỷ giá và giá vàng, tạo lòng tin, củng cố sức mua đồng tiền, qua đó góp phần thúc đẩy FDI. Ước tính đến 11 tháng FDI thực hiện đạt 11,2 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước. ĐIều đó cũng có tác động ngược lại đối với việc giảm áp lực giảm giá VND, duy trì CPI ở mức thấp;tiết giảm đầu tư công (đầu tư ngân sách nhà nước chỉ tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2013, thấp hơn rất nhiều so mức tăng trên 5% GDP cùng kỳ so sánh). Lạm phát thấp còn do hiệu quả kiểm soát vĩ mô giá một số mặt hàng thiết yếu, đầu vào, có tính độc quyền và nhạy cảm cao; hạn chế đầu cơ ngoại hối; phát triển mạnh mẽ hệ thống phân phối bán lẻ và thực hiện khuyến mãi lớn, diện rộng...

Như vậy có thể thấy, lạm phát được kiểm soát trong 3 năm gần đây và mức lạm phát thấp trong năm 2014, ngoài những tác động từ những nguyên nhân mang tính khách quan, cũng chưa đựng những nguyên nhân mang tính chủ quan từ các giải pháp điều hành của các cơ quan quản lý. Tuy nhiên, những căn nguyên của lạm phát chưa thực sự được giải quyết triệt để, vì vậy duy trì tính ổn định của lạm phát trong những năm tiếp theo vấn là một bài toán khó đối với các nhà hoạch định chính sách. Vấn đề đặt ra là chung ta cần kiểm soát lạm phát ổn định ở mức hợp lý phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế trong giai đoạn tiếp theo, bởi:

- Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy việc duy trì một mức lạm phát ổn định ở thấp hợp lý góp phần không nhỏ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, kéo theo xu hướng cải thiện rõ ràng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, lãi suất hạ thấp, thanh khoản tốt lên, tỷ giá ổn định và dự trữ ngoại hối tăng, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đối với Việt Nam, giai đoạn duy trì lạm phát ổn định là thời cơ thuận lợi cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô yên tâm hơn với việc ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát - mục tiêu hàng đầu - có dư địa để tập trung cho mục tiêu tăng trưởng cao hơn năm trước, bằng việc chuyển đổi chính sách và các giải pháp quản lý điều hành. Đồng thời, đây cũng là thời cơ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường bằng các chính sách miễn, giảm, hoãn một số khoản thu ngân sách, hỗ trợ lãi suất đầu tư hoặc cho vay tạm trữ sản phẩm khi giá cả xuất khẩu bị sụt giảm; huy động trái phiếu Chính phủ với lãi suất thấp hơn để phục vụ cho đầu tư công…CPI ở thấp ổn định còn góp phần cải thiện mức sống thực tế của người dân (trong tháng 11-2014, so với cùng kỳ năm 2013, số hộ thiếu đói giảm 77,5%; số nhân khẩu thiếu đói giảm 77,1%). Đối với người tiêu dùng, cán bộ công chức, người nghỉ hưu, các đối tượng chính sách và đại đa số người dân thì CPI tăng chậm là điều đáng mừng bởi nỗi lo tăng giá không còn ám ảnh, đời sống được ổn định.

- Song, nếu duy trì ở mức quá thấp cũng tiềm ẩn nhiều thách thức bởi lạm phát thấp phần nào đó cũng phản ảnh tình trạng sức khỏe yếu kém của nền kinh tế, với hai bằng chứng rõ ràng là sức cầu thị trường tiếp tục suy yếu làm ảnh hưởng đến sự phục hồi sản xuất của các doanh nghiệp. Vấn đề lớn nhất nếu tỷ lệ lạm phát duy trì ở mức quá thấp chính là nguy cơ rơi vào tình trạng giảm phát, khi mặt bằng giá liên tục giảm. Lạm phát thấp ở Nhật đã kéo dài hơn 2 thập niên và khiến nền kinh tế nước này yếu đi, làm gia tăng nợ nần. Ngoài ra, lạm phát quá thấp cũng làm suy giảm khả năng của NHTW trong việc chống đỡ suy giảm kinh tế. Thông thường, trong thời kỳ tăng trưởng cao, NHTW thường tăng lãi suất điều hành. Tuy nhiên khi lãi suất điều hành ở mức gần như bằng 0, các NHTW phải dựa vào các biện pháp phi truyền thống để nới lỏng chính sách tiền tệ, như là in thêm tiền để mua trái phiếu hoặc là cam kết sẽ giữ lãi suất ở mức thấp trong một thời gian dài để củng cố kỳ vọng về việc lạm phát sẽ ở mức thấp trong tương lại. Khi đó, nếu nền kinh tế lại rơi vào khủng hoảng, NHTW sẽ khó có khả năng xoay chuyển tình thế.

Mặc dù chưa có nghiên cứu nào chứng minh mức lạm phát nào là tốt nhất cho phát triển kinh tế Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo, song thực tế những năm phát triển trước của Việt Nam và kinh nghiệm của các nước trong giai đoạn đang phát triển cho thấy, nếu duy trì được lạm phát ổn định ở mức 4-6% sẽ là tốt cho phát triển kinh tế. Trong năm 2015 Ngân hàng thế giới dự báo tăng trưởng GDP năm nay của Việt Nam sẽ ở mức 5,4% và 5,5% năm 2015, lạm phát năm 2014 được dự báo sẽ giảm xuống mức 4,5% trước khi có thể tăng lên 5% vào năm 2015.Trong ngắn hạn, lạm phát có thể sẽ không tăng cao bởi các yếu tố đầu vào thế giới như giá dầu sẽ mức cân bằng dài hạn (khoảng 90 USD/thùng, cung mở rộng trong khi cầu hạn chế), giá lương thực tiếp tục xu hướng giảm trong điều kiện thời tiết thuận lợi, giá năng lượng giảm 0,8-1%, giá hàng hóa phi năng lượng giảm 0,3%-0,9% (dự báo của WB) và những nỗ lực của Chính phủ là vẫn duy trì ổn định vĩ mô để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững thì có thể khẳng định khả năng Việt Nam sẽ kiểm soát lạm phát ổn định trong mức 4-6% ở những năm tiếp theo là hiện hữu./.

------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

  • The perils of falling inflation - http://www.economist.com/
  • Lạm phát thấp: Thách thức mới cho công tác điều hành kinh tế - Ngô Thị Chính Đức - Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR)/NCĐT
  • Kinh tế Việt Nam 2014 và triển vọng 2015 – Thời báo kinh tế Sài Gòn
  • Tăng trưởng - lạm phát - tiêu dùng của Việt Nam năm 2014 – Ban phân tích dự báo – Trung tâm thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia
  • The Trouble with Low Inflation - Jared Bernstein – The Economy 5/2013
  • TS. Nguyễn Thị Kim Thanh

    Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng

     

     

    1 Số liệu của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, chỉ có giai đoạn 1995-1997 và năm 2005, chỉ số hiệu suất đầu tư ICOR của Việt Nam nhỏ hơn 5, còn lại trong suốt thời kỳ từ 1998 đến nay (trừ 2005) chỉ số ICOR đều lớn hơn 5, cao hơn hẳn các nước trong khu vực.

    2Nguồn: Tổng cục Thống kê

    1

     


    • aA
    • Categories:
    • Hợp tác nghiên cứu
    OTHER NEWS
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    05/01/2025
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    12/10/2016
    Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
    12/10/2016
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    12/04/2016
    Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
    12/04/2016
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    11/06/2017
    Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
    11/06/2017
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    11/04/2016
    Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
    11/04/2016
    Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
    09/04/2016
    Showing 1 to 10 of 94
    • 1
    • 2
    • 3
    • 10
    About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
    CPI
    Reserve requirement
    Interest Rate
    Money Market Operations
    • Notification of New Offering off the State Bank Bills
    • Invitation for Gold Auctions
    • Nghiệp vụ thị trường mở
    • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    System of Credit Institutions
    • Banks
      • Commercial Banks
        • State-owned Commercial Banks
        • Joibt-stock Commercial Banks
        • Wholly Foreign Owned Banks
        • Joint-venture Banks
      • Policy Banks
      • Cooperative Banks
    • Non-Banks Credit Institution
      • Finance Companies
      • Leasing Companies
      • Other non-bank credit Institutions
    • Micro finance Institutions
    • People's Credit Fund
    • Foreign Bank Branches
    • Representative Offices
    Search Bar
    TIN VIDEO
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
    TIN ẢNH
    Album
    Album
    TIN ẢNH
    Album
    Album
    Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
    Ngân hàng
    ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
    Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
    © state bank of vietnam portal
    Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
    Webmaster: (84 - 243) 266.9435
    Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
    NCSC Certification
    State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
    Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
    IPv6 Ready