VẤN ĐỀ LÃI SUẤT, THÁO GỠ KHÓ KHĂN TRONG TIẾP CẬN VỐN
1. Đề nghị ngành Ngân hàng xem xét giảm mức lãi suất cho vay trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. (Cử tri Sóc Trăng, TP.Hồ Chí Minh)
Trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ, đặc biệt là xu hướng của lạm phát, thời gian qua, NHNN đã thực hiện đồng bộ các giải pháp điều hành lãi suất để giảm mạnh mặt bằng lãi suất thị trường, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế, trong đó NHNN đã đề nghị các TCTD giảm lãi suất cho vay (kể cả các khoản cho vay cũ) về mức dưới 13%/năm và yêu cầu các NHTM Nhà nước giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên về mức tối đa 10%/năm để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Nhờ đó, mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường tính đến cuối năm 2014 đã giảm mạnh, chỉ bằng 40% mức lãi suất vào nửa cuối năm 2011 và thấp hơn mức lãi suất giai đoạn 2005-2006. Lãi suất cho vay ngắn hạn của các NHTM phổ biến ở mức 7-9%/năm, lãi suất trung và dài hạn phổ biến ở mức khoảng 9,5-11%/năm, giảm khoảng 2%/năm so với cuối năm 2013, trong đó các NHTM Nhà nước áp dụng lãi suất cho vay trung và dài hạn với 5 lĩnh vực ưu tiên phổ biến khoảng 9-10%/năm theo lời hiệu triệu của Thống đốc.
Như vậy, mặt bằng lãi suất cho vay của ngành ngân hàng (trong đó bao gồm cả lãi suất cho vay trung, dài hạn) đã giảm mạnh góp phần tạo điều kiện giảm bớt khó khăn, thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong thời gian tới, bám sát chủ trương, chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ, NHNN sẽ điều hành lãi suất phù hợp với các cân đối vĩ mô, tiền tệ, xu hướng của lạm phát và lạm phát kỳ vọng nhằm góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
2. Hiện nay, lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của ngân hàng vẫn còn cao. Đề nghị giảm lãi suất xuống 0,5%/năm, để tạo điều kiện cho nông dân vay vốn sản xuất và đảm bảo khi thu hoạch nông dân có lãi. (Cử tri An Giang)
Xác định vai trò nòng cốt của nông nghiệp trong nền kinh tế, ngành Ngân hàng đã ban hành và triển khai đồng bộ nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm hỗ trợ, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tập trung nguồn vốn cho vay, thực hiện các giải pháp nhằm giúp người dân dễ dàng tiếp cận vốn vay phục vụ sản xuất kinh doanh với lãi suất phù hợp, cụ thể:
- Để đảm bảo nguồn vốn cho vay và tạo điều kiện cho các TCTD hạ lãi suất huy động đầu vào, từ đó hạ lãi suất cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, NHNN đã hỗ trợ các TCTD có tỷ trọng cho vay nông nghiệp nông thôn lớn (từ 40% trở lên) thông qua hình thức tái cấp vốn và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD này. Đồng thời, ngày 17/3/2014, NHNN đã ban hành Quyết định số 499/QĐ-NHNN quy định mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn giảm từ 9%/năm xuống 8%/năm, thấp hơn lãi suất cho vay các lĩnh vực khác khoảng từ 2-3%/năm. Bên cạnh đó, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã quy định mức lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp thực hiện thu mua tạm trữ vụ Đông Xuân 2014 tối đa là 7%/năm.
- NHNN đã chủ động nghiên cứu, phối hợp triển khai các chương trình, chính sách góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp với quy mô sản xuất hàng hóa lớn, tăng năng suất, ổn định chất lượng, tạo thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Ngày 28/5/2014, NHNN đã ban hành Quyết định số 1050/QĐ-NHNN về chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp theo Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ, tập trung vào các mô hình sản xuất liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; trong đó quy định mức lãi suất tối đa đối với các dự án vay thuộc chương trình thí điểm: cho vay ngắn hạn là 7%/năm, trung hạn 10% năm và dài hạn 10,5%/năm. Ngoài ra, NHNN cũng tích cực chỉ đạo các TCTD triển khai các chính sách hỗ trợ đặc thù về vốn và lãi suất cho một số sản phẩm chủ lực trong nông nghiệp, nông thôn như cho vay tạm trữ lúa gạo, cho vay giảm tổn thất sau thu hoạch, chính sách cho vay tái canh cây cà phê, cho vay đối với lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản,...
Trên cơ sở diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, từ cuối tháng 10/2014 đến nay, NHNN đã tiếp tục điều chỉnh giảm một số mức lãi suất, trong đó có lãi suất trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể:
- Điều chỉnh giảm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên từ 8%/năm xuống 7%/năm kể từ ngày 29/10/2014;
- Điều chỉnh giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay theo chương trình thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp kể từ ngày 16/12/2014. Theo đó, các dự án thuộc chương trình được vay vốn với lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa 6,5%/năm, trung hạn 9,5%/năm, dài hạn 10%/năm.
Như vậy, từ cuối tháng 10/2014 đến nay, lãi suất cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã được điều chỉnh giảm thêm 0,5%-1%/năm, phù hợp với ý kiến kiến nghị của cử tri.
3. Hiện nay, hệ thống ngân hàng tự ý nâng lãi suất khi có biến động về lãi suất, không theo thỏa thuận hợp đồng, không có thông báo cho người vay biết, vấn đề này vô hình chung đã tạo cho hệ thống ngân hàng được quyền bội tín. Đề nghị sớm chấn chỉnh vấn đề này. (Cử tri An Giang)
Trong năm qua, NHNN tiếp tục điều hành chính sách lãi suất theo hướng giảm dần, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ và đặc biệt là lạm phát, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Cụ thể: (i) Điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành; (ii) Điều chỉnh giảm lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND có kỳ hạn dưới 6 tháng xuống mức 5,5%/năm; (iii) Điều chỉnh giảm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao xuống mức 7%/năm; (iv) Điều chỉnh giảm lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD của cá nhân tại TCTD xuống mức 0,75%/năm. Đồng thời kêu gọi các NHTM Nhà nước điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên về mức tối đa 10%/năm, các TCTD tiếp tục giảm lãi suất các khoản cho vay cũ về mức dưới 13%/năm. NHNN cũng đã ban hành Quyết định số 2662/QĐ-NHNN ngày 16/12/2014 giảm mức lãi suất cho vay đối với các dự án thuộc chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp theo Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 của Chính phủ kể từ ngày 01/01/2015.
Nhờ đó, mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh theo mục tiêu đề ra của NHNN, đồng thời vẫn đảm bảo khả năng kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối1.
Để đảm bảo các TCTD chấp hành nghiêm túc các quy định về lãi suất, tại các văn bản chỉ đạo của NHNN đã quy định: (i) TCTD niêm yết công khai mức lãi suất cho vay, các tiêu chí xác định khách hàng vay vốn theo quy định tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận vốn vay để sản xuất- kinh doanh, nhất là khu vực nông nghiệp và nông thôn, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa...; (ii) Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam không vượt quá mức lãi suất tối đa do Thống đốc NHNN VN quyết định trong từng thời kỳ và đối với từng loại hình TCTD; điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp với mức biến động của lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam và mục tiêu, giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN; (iii) Nghiêm cấm vượt trần lãi suất; không được thu thêm bất cứ một loại phí dịch vụ nào trái quy định làm tăng lãi suất cho vay vượt mức trần cho phép. Yêu cầu các TCTD căn cứ mức lãi suất của NHNN công bố theo từng thời kỳ để áp dụng mức lãi suất phù hợp đối với TCTD và đảm bảo đúng quy định của NHNN; Tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động tiền tệ, ngân hàng để giám sát, phát hiện, cảnh báo, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng.
Việc TCTD tự ý nâng lãi suất trái với thỏa thuận trong hợp đồng đã được ký kết giữa TCTD và khách hàng trái với quy định của pháp luật cần được phát hiện và xử lý nghiêm để bảo vệ quyền lợi của các bên có liên quan và giữ vững kỷ cương, pháp luật. Trong trường hợp bị xâm phạm quyền lợi do hành vi vi phạm pháp luật của TCTD, khách hàng có thể chủ động khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của TCTD tới cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện ra tòa. NHNN ghi nhận ý kiến của cử tri và sẽ tăng cường công tác thanh tra để phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi sai phạm của TCTD (nếu có), đồng thời mong cử tri cung cấp thông tin chi tiết cho NHNN chi nhánh tỉnh An Giang hoặc phản ánh qua đường dây nóng của NHNN để xem xét xử lý.
4. Đề nghị cho phép các doanh nghiệp được đảo nợ thay cho mua bán nợ, trước mắt cho giảm lãi suất của nợ cũ và nợ mới, khống chế lãi suất cho vay; Có chính sách giúp doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn như: không khống chế lãi suất đầu vào để các ngân hàng và TCTD huy động được tiền, vàng nhàn rỗi trong dân đưa vào phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh. Đồng thời, phải khống chế trần lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại kể cả nợ cũ và nợ mới đều áp dụng lãi suất như nhau. (Cử tri TP.Hồ Chí Minh)
- Về kiến nghị cho phép các doanh nghiệp được đảo nợ:
Luật các TCTD năm 1997 quy định việc đảo nợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Tuy nhiên, Luật các TCTD năm 2010 đã bỏ quy định về đảo nợ. Vì vậy, quy định về đảo nợ đã hết hiệu lực thi hành.
- Về kiến nghị thực hiện các chính sách giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn:
Trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ, đặc biệt là xu hướng của lạm phát, thời gian qua, NHNN đã thực hiện đồng bộ các giải pháp điều hành lãi suất để giảm mạnh mặt bằng lãi suất thị trường, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Cụ thể: (i) Điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN, quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND, đồng thời điều chỉnh giảm mạnh trần lãi suất này làm cơ sở để các TCTD giảm lãi suất cho vay; (ii) Quy định và giảm dần trần lãi suất cho vay bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; (iii) Kêu gọi các TCTD giảm lãi suất cho vay (kể cả các khoản cho vay cũ) về mức dưới 13%/năm, yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên về mức tối đa 10%/năm để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp về lãi suất nêu trên, mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường tính đến cuối năm 2014 đã giảm mạnh, chỉ bằng 40% mức lãi suất vào nửa cuối năm 2011 và thấp hơn mức lãi suất giai đoạn 2005-2006. Lãi suất cho vay ngắn hạn của các NHTM phổ biến ở mức 7-9%/năm, lãi suất trung và dài hạn phổ biến ở mức khoảng 9,5-11%/năm, giảm khoảng 2%/năm so với cuối năm 2013. Lãi suất của các khoản vay cũ cũng được các TCTD tích cực giảm. Dư nợ cho vay bằng VND có lãi suất trên 15%/năm chiếm tỷ trọng 3,6% tổng dư nợ cho vay VND, giảm so với tỷ trọng 6,3% cuối năm 2013; dư nợ có lãi suất trên 13%/năm chiếm 10,02%/năm, giảm so với tỷ trọng 19,72% cuối năm 2013. Trong đó, các khoản cho vay cũ có lãi suất trên 13%/năm chủ yếu là các khoản cho vay đối với lĩnh vực có rủi ro cao, các khoản vay trung và dài hạn có chi phí huy động vốn cao hơn và rủi ro lớn hơn các khoản vay ngắn hạn.
Có thể thấy, chính sách lãi suất của NHNN đã đạt được những kết quả tích cực, mặt bằng lãi suất đã giảm mạnh theo mục tiêu đề ra của NHNN nhưng vẫn đảm bảo khả năng kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, góp phần hỗ trợ giảm chi phí vốn vay của doanh nghiệp, hộ dân và không còn là yếu tố gây cản trở đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, để chia sẻ, hỗ trợ và đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế đất nước đang gặp nhiều khó khăn và thách thức, NHNN cũng đã kịp thời ban hành nhiều văn bản, quyết liệt chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, tạo cơ chế thông thoáng, thuận lợi cho khách hàng trong việc tiếp cận vốn trên nguyên tắc bảo đảm an toàn vốn vay và phù hợp với quy định của pháp luật: (i) Cơ cấu lại nợ và giảm lãi suất các khoản vay cũ; (ii) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt; (iii) Triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xử lý nợ xấu; (iv) Tổ chức đối thoại và triển khai chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp nhằm tạo cầu nối giúp các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng; (v) Linh hoạt chấp thuận cho một số TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cho vay bằng ngoại tệ đối với một số DNNVV để thực hiện các phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa thuộc lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; (vi) Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất, kinh doanh;...
- Về kiến nghị điều chỉnh quy định về trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay:
Trong nền kinh tế thị trường, các TCTD được chủ động trong hoạt động kinh doanh, lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các TCTD thực hiện theo nguyên tắc thỏa thuận. Tuy nhiên, theo Khoản 2, Điều 12 Luật NHNN và Khoản 3, Điều 91 Luật Các TCTD, trong điều kiện kinh tế vĩ mô chưa ổn định, thị trường tiền tệ có nhiều biến động thì Nhà nước cần có biện pháp can thiệp phù hợp, kể cả biện pháp hành chính nếu cần thiết, nhằm kiểm soát, định hướng mặt bằng lãi suất theo mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thực tế cho thấy vào cuối năm 2010, trước tình hình các TCTD đua nhau tăng lãi suất huy động vốn để giải quyết khó khăn về thanh khoản, gây xáo trộn thị trường tiền tệ và đẩy mặt bằng lãi suất cho vay tăng cao, được sự chấp thuận của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã áp dụng trần lãi suất huy động, trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên. NHNN không quy định trần lãi suất cho vay chung vì điều này sẽ dẫn đến tình trạng đồng nhất lãi suất cho vay đối với tất cả các đối tượng khách hàng, không phân biệt được các đối tượng cần khuyến khích và đối tượng không khuyến khích; làm hạn chế khả năng tăng trưởng tín dụng của các TCTD. Thực tế, việc thực hiện giải pháp điều hành lãi suất thời gian qua đã phát huy tác dụng trong việc ổn định mặt bằng lãi suất thị trường trong những thời điểm thanh khoản của các TCTD gặp khó khăn, từng bước giảm mặt bằng lãi suất thị trường theo mục tiêu đề ra, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát. Dưới sự chỉ đạo, giám sát chặt chẽ của NHNN, các TCTD đã chấp hành tốt các quy định về trần lãi suất huy động, trong đó, những ngân hàng thương mại có uy tín cao, thanh khoản tốt, nguồn vốn dồi dào, đã ấn định mức lãi suất thấp so với mức trần quy định.
Bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là diễn biến lạm phát và thị trường tiền tệ dần ổn định, NHNN đã từng bước dỡ bỏ quy định trần lãi suất, theo đó từ tháng 6/2012, bỏ quy định trần lãi suất huy động đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên và từ tháng 6/2013 chỉ áp dụng trần đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống. Việc tiếp tục giữ các mức trần lãi suất này là nhằm định hướng kỳ vọng lạm phát và bảo đảm tính linh hoạt trong việc áp dụng.
Hiện nay, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh, trong đó mặt bằng lãi suất cho vay giảm nhanh và mạnh hơn so với mặt bằng lãi suất huy động, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động đã thu hẹp đáng kể. Tính kỷ luật thị trường được củng cố, mặc dù NHNN từng bước nới lỏng trần lãi suất huy động bằng VND nhưng mặt bằng lãi suất thị trường vẫn ổn định, đường cong lãi suất đã được hình thành rõ nét, tạo điều kiện cho các TCTD huy động vốn với cơ cấu kỳ hạn hợp lý, ổn định kinh doanh và giúp cho việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong nền kinh tế.
Trong năm 2015, bám sát chủ trương của Quốc hội, Chính phủ, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất chủ động, linh hoạt, phù hợp với các cân đối vĩ mô, tiền tệ, xu hướng của lạm phát nhằm góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh.
5. Đề nghị NHNN tiếp tục có những giải pháp cụ thể, đột phá hơn nữa để tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục vay vốn ngân hàng và điều kiện vay, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn phát triển sản xuất, kinh doanh. (Cử tri Đồng Nai, Hải Phòng, Long An, Quảng Bình, Tiền Giang, TP.Hồ Chí Minh, Sóc Trăng)
Để chia sẻ, hỗ trợ và đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế đất nước đang gặp nhiều khó khăn và thách thức, thời gian qua, NHNN đã kịp thời ban hành nhiều văn bản, quyết liệt chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến điều kiện và thủ tục vay vốn theo hướng đơn giản, thông thoáng, giảm bớt phiền hà cho khách hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn vốn vay và phù hợp với quy định của pháp luật, như: (i) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; xem xét cơ cấu lại các khoản vay trên cơ sở đánh giá các biện pháp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất-kinh doanh nhằm đảm bảo thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất-kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng vay; (ii) Các TCTD xem xét và quyết định xử lý đối với các khoản nợ đến hạn mà khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ như miễn, giảm lãi vay, không thu lãi quá hạn, ưu tiên thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau...; (iii) Cho phép các TCTD không xem xét các điều kiện về các khoản nợ cũ khi khách hàng vay vốn mới có dự án, phương án kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo thu hồi được nợ; (iv) Yêu cầu các TCTD phối hợp chặt chẽ với nhau và làm việc với khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong trường hợp nhiều TCTD cùng cho vay đối với 1 khách hàng… Đến nay, các TCTD đã có nhiều đổi mới trong việc xây dựng quy trình cho vay cũng như nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Đối với địa bàn nông thôn, các TCTD đã rà soát và hoàn thiện hồ sơ tín dụng theo hướng tiết giảm tối đa thủ tục, giấy tờ như: áp dụng các sản phẩm tín dụng với hình thức đơn giản, phù hợp cho người sản xuất, như cho vay liên vụ, cho vay qua sổ tín dụng, xuống tận địa bàn để cho vay, thu nợ (gốc, lãi) thay vì người vay phải đến trụ sở ngân hàng, áp dụng cho vay qua sổ đối với những khoản vay dưới 50 triệu đồng,... Những giải pháp này đã giúp người nông dân dễ dàng tiếp cận hơn với vốn vay ngân hàng.
Bên cạnh đó, NHNN phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan triển khai nhiều chương trình tín dụng mới, đặc thù, phù hợp với đặc điểm, tình hình của các loại hình doanh nghiệp và của từng địa phương, cụ thể: (1) Triển khai chương trình Kết nối doanh nghiệp - ngân hàng trên địa bàn các tỉnh, thành phố nhằm kịp thời nắm bắt và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn với lãi suất hợp lý để duy trì, phục hồi, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh; (2) Kịp thời ban hành các quy định tín dụng đối với một số đối tượng đặc thù với thủ tục cho vay đơn giản hơn nhằm nâng cao hiệu quả và giảm chi phí hoạt động cho vay, hỗ trợ khách hàng vay vốn đầu tư, sản xuất - kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm như: Chính sách tín dụng hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; Tín dụng kinh doanh xuất khẩu gạo; Chính sách cho vay đối với chăn nuôi, thủy sản, cà phê; Cho vay theo mô hình liên kết, áp dụng công nghệ cao, chuỗi giá trị chăn nuôi – chế biến – xuất khẩu; triển khai thí điểm sản phẩm liên kết 4 nhà trong lĩnh vực bất động sản...
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp, người dân trong việc tiếp cận vốn. Trên thực tế, các doanh nghiệp, khách hàng có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và có năng lực tài chính tốt, dự án, phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả thi đã tiếp cận vốn dễ dàng hơn với lãi suất hợp lý. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, chủ yếu là do năng lực tài chính yếu kém, không chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh đề nghị vay vốn; nợ phải trả tồn đọng lớn chưa có biện pháp xử lý... Bên cạnh đó, do hàng tồn kho chậm tiêu thụ, khó khăn về thị trường đầu ra khi sức cầu trong và ngoài nước còn thấp nên vẫn có những doanh nghiệp dù đáp ứng đủ điều kiện vay vốn nhưng chưa có nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Vì vậy, để tăng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, ngoài những giải pháp từ phía NHNN và các TCTD, bản thân doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động của mình, nâng cao khả năng tài chính, tạo niềm tin để các TCTD yên tâm cấp tín dụng. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ, như: rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, đất đai, đầu tư xây dựng...; thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh...
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục bám sát Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội để tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện các giải pháp về hoạt động ngân hàng để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hiệu quả được vay vốn ngân hàng thuận lợi, góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
6. Đề nghị NHNN cải cách thủ tục thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng, chỉ quy định khi thế chấp lần đầu để vay vốn ngân hàng thì phải qua công chứng, còn thế chấp vay lại lần hai thì không nhất thiết phải qua công chứng, nhằm giảm bớt phiền hà cho người dân. (Cử tri An Giang)
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, đồng thời để tăng hiệu quả kinh doanh, thu hút khách hàng, thời gian qua, các tổ chức tín dụng đã có nhiều đổi mới trong việc xây dựng quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục cho vay, thông thoáng hơn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay và phù hợp với quy định của pháp luật; đồng thời nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
Đối với thủ tục thế chấp tài sản bảo đảm, pháp luật cho phép bên bảo đảm được ký một hợp đồng thế chấp, dùng một tài sản bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự bao gồm cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện (Khoản 1 Điều 324 Bộ luật Dân sự; Khoản 5 Điều 3 và Điều 5 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm). Để giảm thiểu các chi phí và thủ tục công chứng trong những lần vay tiếp theo thì khách hàng có thể thỏa thuận với tổ chức tín dụng ký một hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ vay vốn tại chính tổ chức tín dụng đó (bao gồm cả hợp đồng tín dụng đã ký và hợp đồng tín dụng sẽ ký trong tương lai).
7. Thị trường tín dụng ngày càng đa dạng phong phú tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận vốn dễ dàng hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó lại tồn tại những khoản phí bất hợp lý như phí phạt trả nợ trước hạn, đề nghị cần phải được chấn chỉnh. (Cử tri An Giang)
Theo Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 và Thông tư số 05/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về mức phí phải trả trong trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn. Quy định này là phù hợp với thực tế vì khi cho khách hàng vay, tổ chức tín dụng đã cân đối nguồn vốn huy động của mình (bao gồm tiền gửi của tổ chức, cá nhân, nguồn vốn đi vay và các nguồn vốn khác) cả về lãi suất và kỳ hạn để đáp ứng yêu cầu của khoản vay; đồng thời trong thời hạn cho vay theo hợp đồng tín dụng đã ký với khách hàng, tổ chức tín dụng cũng phải trả lãi, chi phí cho các nguồn vốn mà tổ chức tín dụng đã huy động để cho khách hàng vay.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay, toàn hệ thống ngân hàng đã và đang thực hiện các giải pháp nhằm chia sẻ khó khăn đối với khách hàng vay. Tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 15/01/2014, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng xem xét áp dụng mức thu phí hợp lý đối với các khoản phí được thu theo quy định của pháp luật; không được thu các loại phí liên quan đến khoản vay, trừ các khoản phí quy định tại Thông tư số 05/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011.
Vì vậy, trường hợp TCTD áp dụng mức phí trả nợ trước hạn cao, không phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ và NHNN về các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất- kinh doanh, đề nghị cử tri phản ánh ngay và cung cấp thông tin đầy đủ cho NHNN chi nhánh trên địa bàn để có ý kiến đề nghị TCTD trên địa bàn xem xét áp dụng mức phí hợp lý.
8. Hiện nay các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay ngân hàng, có trường hợp giá trị thực của tài sản thế chấp lớn hơn nhiều lần số vốn vay, nhưng doanh nghiệp vẫn phải thuê một đơn vị độc lập thẩm định giá trị tài sản của doanh nghiệp dẫn đến phát sinh chi phí và thời gian. Đề nghị nghiên cứu có giải pháp khắc phục tình trạng này. (Cử tri TP.Hà Nội)
Theo quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 23/01/2013 của NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi chung là TCTD), tài sản bảo đảm để khấu trừ khi tính số tiền trích lập dự phòng cụ thể phải được định giá, xác định giá trị bởi tổ chức có chức năng thẩm định giá theo quy định của pháp luật đối với các trường hợp2:
(i) Tài sản bảo đảm có giá trị từ 50 tỷ đồng trở lên đối với khoản nợ của khách hàng là người có liên quan của TCTD và các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định tại Điều 127 Luật các TCTD;
(ii) Tài sản bảo đảm có giá trị từ 200 tỷ đồng trở lên, trừ những trường hợp quy định tại điểm (i).
Quy định nêu trên làm phát sinh thêm chi phí cho các TCTD và khách hàng vay nhưng đây là quy định cần thiết nhằm đảm bảo các TCTD xác định chính xác giá trị thị trường của tài sản bảo đảm khi tính dự phòng phải trích và hạn chế việc TCTD định giá tài sản bảo đảm cao hơn giá trị thực tế, làm giảm số tiền phải trích lập dự phòng và phản ánh không xác thực kết quả kinh doanh.
Nhằm tiết giảm chi phí và thời gian cho các TCTD cũng như khách hàng vay trong việc định giá tài sản bảo đảm, NHNN đã ban hành Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN cho phép TCTD được sử dụng kết quả định giá của tổ chức thẩm định giá trong thời hạn tối đa 12 tháng.
Ngoài ra, theo quy định tại Luật các TCTD năm 2010, TCTD và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD theo quy định của pháp luật. Do vậy, trên tinh thần hỗ trợ cùng tháo gỡ khó khăn, khách hàng và TCTD có thể thỏa thuận thống nhất việc chia sẻ nghĩa vụ trả phí cho tổ chức thẩm định giá tài sản bảo đảm.
9. Đề nghị xem xét lại quy định việc người dân phải chi trả 55.000 đồng khi mượn lại sổ đỏ đã thế chấp ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để phô tô làm hồ sơ hưởng chính sách hỗ trợ lúa nước là quá cao, không hợp lý. (Cử tri Tây Ninh)
Hiện nay, theo quy định tại Thông tư số 05/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011 tổ chức tín dụng được thu một số khoản phí liên quan đến khoản cho vay đối với khách hàng. Tuy nhiên, các văn bản do NHNN ban hành, không có quy định về việc người dân phải trả 55.000 đồng khi mượn lại sổ đỏ đã thế chấp tại tổ chức tín dụng để phô tô.
Sau khi nhận được ý kiến của cử tri, NHNN đã yêu cầu Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra, báo cáo và giải trình về việc thu phí 55.000 đồng đối với người dân khi mượn lại sổ đỏ đã thế chấp tại Ngân hàng để phô tô, NHNN xin thông tin đến cử tri như sau:
Theo quy định hiện hành của Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Quyết định số 35/QĐ-HĐTV-HSX ngày 15/01/2014 về ban hành quy định giao dịch bảo đảm cấp tín dụng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam), trong hoạt động tín dụng, nếu khách hàng chỉ yêu cầu photo tài liệu, sổ đỏ thì không phải trả phí; tuy nhiên, nếu khách hàng yêu cầu Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cấp bản sao giấy tờ đảm bảo có xác nhận của phía ngân hàng đang lưu giữ bản gốc thì sẽ phải trả phí 55.000 đồng.
Việc quy định khách hàng chi trả 55.000 đồng là nhằm trang trải chi phí về giấy tờ in, công lao động khi nhập, xuất kho, giao nhận hồ sơ tài sản bảo đảm, giám sát việc quản lý tài sản đảm bảo của khách hàng khi thực hiện photo,… Vì để đảm bảo an toàn tài sản cho ngân hàng và khách hàng, hồ sơ bảo đảm khách hàng (trong đó có sổ đỏ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) sẽ được quản lý như quy trình quản lý giấy tờ có giá; khi nhận được yêu cầu cấp bản sao giấy tờ đảm bảo có xác nhận của phía Ngân hàng, Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam sẽ phải xuất kho, làm các thủ tục cần thiết và đóng dấu “Ngân hàng đang giữ bản chính”, khá mất thời gian và công lao động và đây là một dạng cung cấp dịch vụ của ngân hàng, do vậy cần thu khoản chi phí nhất định.
1 Mặt bằng lãi suất thị trường đã giảm 1,5-2%/năm so với cuối năm 2013. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 7%/năm, thậm chí các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, hoạt động hiệu quả, có phương án kinh doanh khả thi được NHTM cho vay với lãi suất chỉ từ 5-6%/năm.
Đến ngày 25/12/2014, tỷ trọng dư nợ cho vay có mức lãi suất dưới 10% chiếm 54,78%; tỷ trọng dư nợ có mức lãi suất từ 10%/năm đến 13%/năm là 35,21%; tỷ trọng dư nợ có mức lãi suất trên 13% là 10,02%/năm.
2 Trừ các tài sản bảo đảm có giá trị được xác định trên thị trường chính thức như vàng, trái phiếu Chính phủ được niêm yết, chứng khoán doanh nghiệp đã được niêm yết.