Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Hợp tác nghiên cứu

Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

15/02/2012 20:44:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Trong những thập niên gần đây, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang là mục tiêu trọng tâm của các chính sách phát triển kinh tế ở những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chính phủ các nước và các tổ chức tài trợ quốc tế đặc biệt chú trọng đến đối tượng này vì những đóng góp to lớn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cho sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm và phát triển khu vực tư nhân. Mặc dù nhận được sự quan tâm ngày càng nhiều của các cơ quan hữu quan, nhưng những cuộc tranh luận xoay quanh các chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa đi đến hồi kết thúc. Tại một số quốc gia, chính phủ hỗ trợ các doanh nghiệp này dưới dạng phúc lợi và bảo trợ xã hội mà không chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đã dẫn đến tình trạng bảo hộ quá mức các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vô hình chung làm cản trở sự phát triển của khu vực tư nhân. Trong khi đó, nhiều quốc gia khác đã tạo lập được môi trường phát triển thuận lợi, bền vững cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp các doanh nghiệp đạt hiệu quả hoạt động cao nhất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

 

Sau đây là kinh nghiệm của hai trong số các quốc gia điển hình trong việc thực hiện tốt chính sách tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là Nhật Bản và Mexico.

1.     Nhật Bản – quốc gia số một trong việc giải quyết khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nhật Bản là một quốc gia được biết đến với cái tên “Vương quốc của các doanh nghiệp”. Các DNNVV ở Nhật Bản lại là “Vua của vương quốc”, chiếm tới 99% tổng số DN hiện đang hoạt động tại nước này và giữ một vị trí không thể thay thế trong phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Vì những lý do đó, chính phủ Nhật Bản luôn duy trì chính sách hỗ trợ tối đa cho nhóm đối tượng này.

  Hệ thống tài chính tài trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Có thể nói, trong việc hỗ trợ tài chính cho các DNNVV, Nhật Bản là một trong những quốc gia thành công nhất. Để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp, chính phủ đã xây dựng đa dạng các loại hình tổ chức tài chính quốc doanh phục vụ cho các chính sách của Nhà nước (State- owned and policy-based financial institutions) cung cấp vốn cho sự phát triển của các DNNVV. Các tổ chức tài chính này được thành lập lần lượt sau chiến tranh và đã đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp trong việc đầu tư đổi mới công nghệ. Chính sự tiên phong của các tổ chức tài chính quốc doanh là yếu tố thúc đẩy các tổ chức tài chính phi chính phủ khác đầu tư vào lĩnh vực này. Bằng cách đó, chính sách này có tác dụng rất lớn trong việc chuyển dịch một lượng vốn không nhỏ trong nền kinh tế vào đầu tư đổi mới công nghệ.

Hệ thống tài chính tài trợ vốn của Nhật Bản bao gồm các tổ chức tài chính quốc doanh phục vụ chính sách và các tổ chức tài chính bảo lãnh tín dụng.

- Các tổ chức tài chính quốc doanh phục vụ chính sách

Ba tổ chức tài chính quốc doanh được Nhà nước tài trợ và kiểm soát trực tiếp, chuyên phục vụ các DNNVV là Tập đoàn Tài chính Nhật Bản Phục vụ các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa, Tập đoàn Tài chính Quốc gia và Ngân hàng Hợp tác Trung ương Công Thương Nhật Bản. Các khoản cho vay của 3 tổ chức tài chính này cho các DNNVV chiếm khoảng 10% tổng nguồn vốn đầu tư của Nhật Bản.

Các tổ chức tài chính khác nhau sẽ có thứ tự ưu tiên tài trợ khác nhau. Theo đó, Tập đoàn Tài chính Nhật Bản Phục vụ cho các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa chủ yếu hỗ trợ cho các DNNVV có quy mô lớn nhất. Các khoản cho vay của tập đoàn này đối với các doanh nghiệp hội đủ điều kiện được phân thành 2 dạng: các khoản vay phổ biến phục vụ cho nhu cầu mua sắm trang thiết bị (bao gồm đất đai, nhà xưởng và máy móc) và các khoản cho vay đặc biệt phục vụ cho việc đầu tư phát triển công nghệ mới vì lợi ích xuất khẩu.

Ngân hàng Hợp tác Trung ương Công Thương Nhật Bản chủ yếu cung cấp vốn cho các doanh nghiệp thành viên. Trong đó, tùy thuộc vào lượng vốn cho vay mà các điều kiện phê duyệt, lãi suất và chính sách ưu đãi là khác nhau. Nhìn chung, các doanh nghiệp mới thành lập có thể được Ngân hàng Hợp tác Trung ương Công Thương Nhật Bản chấp thuận cho vay không cần tài sản đảm bảo tối đa khoảng 10 triệu Yên. Trong trường hợp cần thiết, các doanh nghiệp mới thành lập cũng có thể nộp đơn xin vay vốn tới Tập đoàn Tài chính Nhật Bản Phục vụ các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa với lãi suất cho vay thường là thấp, dài hạn và phi lợi nhuận. Thậm chí, khi gặp thua lỗ, các doanh nghiệp mới thành lập có thể nộp đơn xin chính phủ trợ giúp tài chính. Bằng cách thiết lập các tổ chức tài chính đặc biệt phục vụ chính sách, chính phủ đã phân chia khu vực kinh doanh của các ngân hàng phục vụ chính sách với các ngân hàng thương mại một cách hiệu quả. Việc làm này không chỉ giúp đảm bảo cho hoạt động độc lập của các ngân hàng thương mại trong nước mà còn hỗ trợ đắc lực cho chính sách phát triển DNNVV, giúp giải quyết các vấn đề về vốn cho các doanh nghiệp này.

- Các tổ chức bảo lãnh tín dụng.

Ban đầu, các địa phương thành lập các hiệp hội bảo lãnh tín dụng bảo lãnh cho các khoản nợ của DNNVV với các tổ chức tài chính phi chính phủ. Các hiệp hội bảo lãnh tín dụng ủy thác cho các tổ chức tài chính hoặc các cơ quan xã hội xác minh thông tin về các doanh nghiệp xin cấp bảo lãnh, và trích từ 0.5%-1% giá trị các khoản cho vay để làm phí bảo lãnh. Tiếp sau đó, chính phủ thành lập quỹ bảo hiểm tín dụng vào năm 1958. Một mặt, quỹ này đảm bảo cho các khoản cho vay được cấp bởi các hiệp hội bảo hiểm tín dụng (trong trường hợp các DNNVV không có khả năng hoàn trả khoản vay, các hiệp hội này vẫn có thể được hoàn trả từ 70-80% tiền bảo hiểm), mặt khác, quỹ bảo hiểm cấp những khoản vốn vay ngắn và dài hạn cho các hiệp hội bảo lãnh tín dụng. Trong vai trò là người cho vay cuối cùng, quỹ bảo hiểm đảm bảo sự vận hành ổn định của các hiệp hội bảo lãnh tín dụng.

  Các chính sách trợ cấp kinh tế

Để giúp các DNNVV thỏa mãn nhu cầu về vốn và phát huy những đóng góp quan trọng của các DN này cho nền kinh tế quốc gia và một số lĩnh vực xã hội, Nhật Bản đã cải thiện các chính sách trợ cấp kinh tế, chủ yếu bao gồm chính sách trợ cấp tài chính và chính sách cho vay ưu đãi.

- Với chính sách trợ cấp tài chính, chính phủ sẽ tài trợ trực tiếp cho đầu tư đổi mới công nghệ để khuyến khích các DNNVV áp dụng những công nghệ mới. Theo Luật Khuyến khích Các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa, Nhật Bản cấp vốn cho các DNNVV sáng tạo để phục vụ cho việc nghiên cứu và phát triển kỹ thuật.

- Với chính sách tín dụng ưu đãi, chính phủ cấp những khoản vay với lãi suất thấp (lãi suất thấp hơn so với lãi suất của các ngân hàng thương mại) cho các DNNVV thông qua các ngân hàng phục vụ chính sách. Bằng cách này, các doanh nghiệp có thể có đủ vốn để phát triển công nghệ mới, thuê mướn trang thiết bị, nâng cấp công suất vận hành của máy móc từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong trường hợp các DNNVV bị yếu thế trong cạnh tranh, chính phủ sẽ bảo hộ bằng cách cho vay trực tiếp với lãi suất thấp và dài hạn.

  Các kênh tài trợ trực tiếp

- Sau chiến tranh, chính phủ đã huy động một lượng vốn cần thiết để thành lập các công ty xúc tiến đầu tư phục vụ các DNNVV. Năm 1963, Nhật Bản xây dựng Luật Các Công ty Xúc tiến Đầu tư Phục vụ Các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa với mục tiêu tăng cường nguồn vốn cho các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh. Theo Luật này, các công ty xúc tiến đầu tư phục vụ các DNNVV được thành lập ở Tokyo, Osaka và Nagoya để hỗ trợ cho việc nâng cấp cấu trúc ngành công nghiệp1[1], giúp đỡ các DNNVV trong việc niêm yết chứng khoán và gia tăng nguồn vốn sở hữu, qua đó nâng cao lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, các công ty xúc tiến đầu tư có trách nhiệm hướng dẫn kinh doanh và công nghệ cho các doanh nghiệp này. Kể từ sau khi thành lập, các công ty này phát triển thuận lợi và đã giúp tăng vốn cho một số lượng lớn các DNNVV. Ngoài ra, sau khi các DNNVV được niêm yết trên thị trường chứng khoán, mặc dù các công ty xúc tiến đầu tư vẫn giữ vai trò là cổ đông đầu tư dài hạn, nhưng họ không quan tâm đến lợi nhuận thu về từ việc đầu tư.

- Chính phủ cho phép và khuyến khích các DNNVV phát hành cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác ra công chúng. Năm 1996, chính phủ đã thành lập một quỹ đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh mạo hiểm phát hành trái phiếu và thậm chí trực tiếp tài trợ cho trái phiếu của các doanh nghiệp này dưới danh nghĩa chính phủ.

- Chính phủ thành lập sàn giao dịch thứ cấp độc lập với sàn giao dịch sơ cấp. Tại Nhật Bản, sàn giao dịch thứ cấp quản lý các giao dịch phi chính thức (OTC) nhằm đáp ứng nhu cầu về các dịch vụ tài chính và chuyển nhượng của các DNNVV. Các điều kiện niêm yết trên thị trường thứ cấp rất lỏng lẻo với mục đích tạo cơ hội cho các doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời nhưng có tiềm năng phát triển được niêm yết trên sàn giao dịch này.

- Những phương thức tài trợ khác, ví dụ như hoạt động cho thuê trang thiết bị dựa trên Luật Xúc tiến Hiện đại hóa Các doanh nghiệp Nhỏ và Vừa có thể giúp các doanh nghiệp này kịp thời ứng dụng các trang thiết bị hiện đại vào kinh doanh và cải tiến công nghệ.

 

2. Mexico và chương trình bao thanh toán trực tuyến NAFIN

Bao thanh toán là một dạng tài trợ nhà cung cấp, trong đó các công ty bán các khoản phải thu của họ là những khoản tín dụng chất lượng cao với giá thấp hơn giá trị thực để nhận lấy tiền mặt tức thì. Dịch vụ bao thanh toán được sử dụng rộng khắp trên toàn thế giới ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển. Lợi thế của bao thanh toán so với tín dụng truyền thống là bao thanh toán chỉ dựa trên mức độ rủi ro của các khoản phải thu mà không dựa vào rủi ro của người đi vay. Đây chính là lý do khiến bao thanh toán trở thành công cụ tài trợ hữu hiệu cho người đi vay có rủi ro cao hay chưa được biết đến rộng rãi trên thị trường. Bao thanh toán đặc biệt quan trọng trong hệ thống tài chính mà luật thương mại không chặt chẽ và hệ thống tài chính hoạt động chưa thực sự hiệu quả như thường gặp ở các nước đang phát triển.

Có 2 dạng bao thanh toán trong tài trợ thanh khoản cho các DNNVV: Bao thanh toán truyền thống và bao thanh toán ngược. Trong bao thanh toán truyền thống, các DNNVV đóng vai trò là nhà cung cấp bán các khoản phải thu của mình cho các tổ chức tài chính có dịch vụ bao thanh toán. Trong bao thanh toán ngược, chính các tổ chức tài chính chủ động mua các khoản phải thu từ các khách hàng lớn có mức rủi ro tín dụng thấp của các DNNVV. Khi đó, các tổ chức tài chính chỉ việc thu thập thông tin, cân nhắc và đánh giá rủi ro của các khách hàng có chất lượng tín dụng cao - thường là các công ty lớn, minh bạch và được quốc tế công nhận.

Điển hình của loại hình bao thanh toán ngược là mô hình NAFIN (Nacional Financiera) ở Mexico, cung cấp dịch vụ bao thanh toán trực tuyến cho các nhà cung cấp là các DNNVV thông qua chương trình dây chuyền hiệu quả - một chương trình tạo cầu nối hữu hiệu giữa người mua là các khách hàng lớn và người bán là những nhà cung cấp nhỏ. Cụ thể, các khách hàng lớn là các công ty lớn có tình hình tài chính lành mạnh với rủi ro tín dụng thấp và nhà cung cấp thường là những công ty nhỏ, các công ty mạo hiểm không thể tiếp cận được nguồn tài trợ từ khu vực ngân hàng chính thức. Chương trình NAFIN cho phép các nhà cung cấp nhỏ sử dụng các khoản phải thu của họ từ những khách hàng lớn để có thể có được nguồn vốn tài trợ cho hoạt động. Dù nền kinh tế Mexico vẫn đang phát triển và các ngân hàng tích cực tham gia cho vay các DNNVV, bao thanh toán vẫn giữ vai trò là một hình thức tài trợ tiết kiệm nhất cho các doanh nghiệp này.

- Lịch sử ra đời của mô hình bao thanh toán NAFIN

NAFIN là ngân hàng phát triển của Nhà nước được chính phủ thành lập vào năm 1934 với mục đích tài trợ thương mại. Từ năm 2000, NAFIN được giao nhiệm vụ sử dụng công nghệ hiện đại để cấp tín dụng cho các DNNVV. Chương trình bao thanh toán là một sáng kiến của NAFIN nhằm cung cấp các dịch vụ của chính phủ nhanh và tiết kiệm hơn bằng cách sử dụng Internet.

- Hoạt động của NAFIN

NAFIN ứng dụng nền tảng điện tử để cung cấp dịch vụ bao thanh toán trực tuyến. Trên Website của NAFIN, mỗi khách hàng lớn được dành riêng một trang web và các nhà cung cấp nhỏ được nhóm lại thành các nhóm khác nhau với tiêu chí phân loại là các khách hàng lớn mà họ có mối quan hệ kinh doanh. Các nhà cung cấp và NAFIN phải ký với nhau một bản hợp đồng về việc cho phép bán hàng điện tử và giao dịch các khoản phải thu. Một khi nhà cung cấp giao hàng và hóa đơn cho người mua, người mua phải có trách nhiệm đăng một văn bản chấp nhận chuyển nhượng lên trang web của mình, văn bản này nêu rõ số tiền sẽ được bao thanh toán. Nhìn chung, số tiền được nêu trong văn bản bằng với giá trị của khoản phải thu. Sau đó, nhà cung cấp sẽ truy cập vào trang Web của người mua trên Website của NAFIN để xem các khoản phải thu nào sẽ được chấp nhận bao thanh toán và lãi suất đi kèm với nó là bao nhiêu. Có thể có nhiều tổ chức tài chính cùng chấp nhận một khoản phải thu và các mức lãi suất đưa ra là khác nhau, khi đó nhà cung cấp sẽ chọn lựa xem điều kiện nào là có lợi nhất với mình rồi nhấp chuột vào tên của khoản bao thanh toán đó và số tiền được ghi trong văn bản chấp nhận chuyển nhượng của người mua trước đó ngay lập tức sẽ được chuyển vào tài khoản của nhà cung cấp. Khi hóa đơn đến hạn, người mua sẽ thanh toán trực tiếp cho khoản bao thanh toán này.

- Những ưu điểm vượt trội của chương trình bao thanh toán NAFIN

Thứ nhất, việc sử dụng nền tảng điện tử và Internet làm giảm chi phí và tăng hiệu quả giao dịch cho cả 3 bên tham gia: nhà cung cấp, khách hàng và tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ bao thanh toán. Trong đó, người mua là người được lợi nhiều nhất do được cung cấp thanh khoản trong khoảng thời gian ngắn nhất. Mặt khác, nhờ ứng dụng Internet mà NAFIN có thể dễ dàng mở rộng đối tượng tham gia chương trình mà không bị giới hạn bởi không gian.

Thứ hai, sử dụng dịch vụ bao thanh toán ngược sẽ giúp chuyển giao rủi ro tín dụng của nhà cung cấp nhỏ sang người mua có độ an toàn tín dụng cao và cho phép NAFIN cung cấp dịch vụ bao thanh toán miễn truy đòi hay không phải thế chấp cho các DNNVV. Thêm vào đó, mặc dù dịch vụ bao thanh toán có thu phí, nhưng phí suất này sẽ thấp hơn rất nhiều so với lãi suất mà các DNNVV phải đi vay ở các ngân hàng thương mại.

Thứ ba, tính chất “tức thời” của giao dịch trực tuyến và cơ cấu chương trình cho phép nhiều tổ chức tín dụng tham gia đã nuôi dưỡng tính cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng và cho phép các nhà cung cấp nhỏ lựa chọn các gói bao thanh toán có những điều khoản thuận lợi nhất cho mình. Hầu hết các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ bao thanh toán đều tái tài trợ các khoản thanh toán cho NAFIN để thu lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất mà họ phải trả cho các nhà cung cấp với lãi suất mà NAFIN thanh toán.

- Vai trò của chính phủ Mexico

Trong tháng 5 năm 2000, cải cách luật pháp liên quan đến thương mại điện tử đã cho phép các văn bản điện tử có hiệu lực pháp luật giống như các văn bản viết, mở đường cho bao thanh toán trực tuyến phát triển. Tiếp đó, Quốc hội Mexico thông qua Luật Bảo tồn các văn bản điện tử, trong đó thiết lập các quy định về bảo tồn các dữ liệu liên quan đến hợp đồng, thỏa thuận và hiệp định. Tháng 4 năm 2003, Luật Chữ ký Điện tử được ban hành cho phép chữ ký điện tử được thay thế cho chữ ký văn bản và cho phép bên nhận các tài liệu kỹ thuật số được xác minh danh tính của người gửi. Tháng 1 năm 2004, những sửa đổi trong Bộ Luật Tài chính Liên bang đã hoàn thiện các luật về giao dịch điện tử, trong đó có bao thanh toán. Ngoài ra, các điều kiện thuế thuận lợi đã làm giảm chi phí bao thanh toán cho các DNNVV và cung cấp nhiều ưu đãi cho đối tượng này khi tham gia chương trình. Tất cả phí suất mà các nhà cung cấp nhỏ phải trả cho các tổ chức tài chính có dịch vụ bao thanh toán đều được khấu trừ thuế.

 

3.     Một số đề xuất đối với Việt Nam

Từ kinh nghiệm của hai nước Nhật Bản và Mexico về chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV, Việt Nam có thể áp dụng một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các DNNVV trong nước:

-         Hoàn thiện hệ thống luật pháp hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi tối đa cho các DNNVV. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế dựa trên luật pháp, do vậy một môi trường luật pháp thuận lợi, tích cực sẽ hỗ trợ các DNNVV nhiều hơn là những chính sách ưu đãi của chính phủ.

-         Xây dựng một hệ thống các tổ chức tài chính phục vụ cho nhu cầu vốn của các DNNVV. Khó khăn của các DNNNVV hiện nay trong việc tiếp cận nguồn vốn vay là vấn đề thế chấp/bảo lãnh và việc chính phủ hỗ trợ quá mức cho các doanh nghiệp Nhà nước. Một biện pháp trực tiếp nhằm khắc phục khó khăn này là thành lập các tổ chức tài chính phục vụ cho các chính sách của chính phủ để cấp vốn cho các DNNVV. Khi chưa thực hiện được điều này, cần yêu cầu các ngân hàng quốc doanh tăng cường tài trợ và hỗ trợ các dịch vụ tài chính khác cho các DNNVV. Tuy nhiên, chính phủ chỉ can thiệp vào hoạt động huy động vốn của các DNNVV bằng các chính sách tài trợ khi thị trường tài chính với các cơ chế độc lập của nó không thể thực hiện được điều này để tránh sự phụ thuộc quá mức của DN vào vốn tài trợ của chính phủ đồng thời giảm bớt gánh nặng cho ngân sách.

-         Khuyến khích sự phát triển của các công ty đầu tư mạo hiểm. Nguồn vốn tài trợ của chính phủ Việt Nam cho các DNNVV là không lớn do phục thuộc rất nhiều vào ngân sách Nhà nước và mô hình phát triển kinh tế. Vì vậy, sự hỗ trợ vốn từ các công ty đầu tư mạo hiểm là vô cùng cần thiết và chính phủ nên đưa ra các chính sách ưu đãi hấp dẫn để khuyến khích sự phát triển của các công ty này.

- Phát triển dịch vụ bao thanh toán. Một biện pháp tài trợ hữu hiệu khác cho các DNNVV là chiết khấu các khoản phải thu của các DN này thông qua dịch vụ bao thanh toán. Dịch vụ này không những giúp các DNNVV có thể giải quyết được những khó khăn về thanh khoản mà còn giúp các ngân hàng có được các khoản chiết khấu chất lượng từ khách hàng của các DNNVV là những DN lớn có mức độ rủi ro tín dụng thấp. Do đó, chính phủ cần xây dựng một chính sách thuế ưu đãi làm giảm chi phí cho các đối tượng tham gia dịch vụ bao thanh toán để tạo điều kiện cho dịch vụ phát triển./.

Nguyễn Hà Phương

Viện Chiến lược ngân hàng


1 [1] Cấu trúc công nghiệp được đặc trưng bởi số lượng và quy mô các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp. Nếu tất cả các doanh nghiệp trong một ngành công nghiệp có quy mô nhỏ so với quy mô của toàn ngành, đó là ngành công nghiệp phân tán. Nếu một số lượng nhỏ các doanh nghiệp kiểm soát một phần lớn sản lượng hoặc doanh số bán hàng của ngành công nghiệp, đó là một ngành công nghiệp tập trung. Nâng cấp cấu trúc công nghiệp hướng tới quá trình tập trung hóa các ngành công nghiệp.

  • aA
  • Categories:
  • Hợp tác nghiên cứu
OTHER NEWS
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
05/01/2025
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
12/10/2016
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
12/10/2016
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
12/04/2016
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
12/04/2016
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
11/06/2017
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
11/06/2017
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
11/04/2016
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
11/04/2016
Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
09/04/2016
Showing 1 to 10 of 94
  • 1
  • 2
  • 3
  • 10
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready