Trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường, các ngân hàng Trung Quốc đã cung cấp nguồn vốn đầu tư chính cho các công ty của Trung Quốc (đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước) và góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng cho quốc gia này. Tuy nhiên, một số lượng lớn các khoản nợ xấu cũng đã tích lũy trên bảng cân đối tài sản của các ngân hàng Trung Quốc vào thập niên 1980 và đã đạt đến mức đỉnh điểm, tính trên tổng số vốn vay, vào cuối những năm 1990. [Lardy (1998b) ước tính rằng các khoản nợ xấu bằng 25% tổng danh mục cho vay của “bốn ngân hàng lớn” 1[1]. Liao và Liu (2005) ước tính con số này đạt 35% trong năm 1999, tương đương 2,5 nghìn tỷ NDT, hoặc khoảng 31% GDP của Trung Quốc]. Nguyên nhân tạo nên nợ xấu của nước này chính là do mở rộng cho vay theo chính sách trong suốt 40 năm của chế độ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cộng thêm sự yếu kém về tài chính của các doanh nghiệp nhà nước và sự thiếu chặt chẽ trong kiểm soát nội bộ về rủi ro tín dụng của các ngân hàng quốc doanh.
Ngành ngân hàng Trung Quốc có vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn vốn nên khi các khoản nợ xấu bắt đầu tích lũy trong những năm 90 đã làm tăng thêm sự lo lắng bởi hệ quả có thể gây ra sự đổ vỡ nghiêm trọng trong khu vực tài chính. Năm 1999, Chính phủ Trung Quốc đã thành lập 4 Công ty quản lý tài sản (AMC). Mục đích của các AMC là mua các khoản nợ xấu của bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn và theo điều lệ, các công ty quản lý tài sản này sẽ ngừng hoạt động sau năm 2009. Đây là một bước tiến quan trọng của chính phủ Trung Quốc trong việc tái cơ cấu lại các ngân hàng.
Qui mô chuyển giao các khoản nợ xấu từ các ngân hàng cho các AMC
Công ty quản lý tài sản đầu tiên, Cinda, được thành lập vào tháng 4 năm 1999. Ba công ty quản lý tài sản khác (Huarong, China Orient và Great Wall) đã được thành lập vào tháng 10 cùng năm, mỗi công ty tương ứng với một trong bốn ngân hàng lớn. Bộ Tài chính cấp cho mỗi AMC một khoản vốn ban đầu là 10 tỷ Nhân dân tệ (NDT) (tương đương 1,2 tỷ USD) để hoạt động. Trên lý thuyết, Bộ Tài chính là người quản lý duy nhất của 4 AMC. Còn các ngân hàng lớn không có bất kỳ quyền nắm giữ vốn trực tiếp nào đối với các AMC. 4 ngân hàng lớn này phải chuyển giao các khoản nợ xấu của họ cho các AMC. AMC được quyền uỷ thác để tối đa hoá việc thu hồi tài sản trong 10 năm. Kế hoạch là loại bỏ các tài sản xấu từ bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại, gom chúng lại, sau đó hoặc là cơ cấu lại hoặc là bán cho những nhà đầu tư thứ ba, chuyển các khoản nợ thành vốn cổ phần cho một số công ty, hoặc đơn giản là xoá một phần các tài sản xấu. Các ngân hàng thương mại sau đó sẽ có thể cải thiện tỷ lệ đủ vốn và nâng cao quản trị doanh nghiệp của họ. Từ đó, các ngân hàng thương mại từ chỗ là cánh tay chính sách của chính phủ có thể được tái cơ cấu và trở thành các tổ chức tài chính hiện đại khi được niêm yết ra công chúng.
Bảng 1: Qui mô chuyển giao nợ xấu cho các AMC giai đoạn 1999-2000
AMC |
Ngân hàng trực thuộc |
Tổng tài sản chuyển nhượng (tỷ NDT) |
Tỷ lệ % đối với tổng dư nợ ngân hàng cuối năm 1998 |
Orient |
BoC |
267.4 |
20.4% |
Great Walll |
ABC |
345.8 |
24.6% |
Cinda |
CCB |
373.0 |
21.7% |
Huarong |
ICBC |
407.7 |
17.9% |
Tổng cộng |
|
1,393.9 |
20.7% |
Nguồn: Zhu và al (2001a).
Việc chuyển giao các khoản nợ xấu từ 4 ngân hàng thương mại cho 4 AMC được thực hiện suốt năm 1999 và 2000. Tổng khối lượng nợ xấu lên tới 1,4 nghìn tỷ NDT (169 tỷ USD), chiếm 20% tổng dư nợ cho vay của 4 ngân hàng và 18% GDP của Trung Quốc năm 1998 (bảng 1). Tuy nhiên, Ma (2002) ước tính rằng ngoài 1.4 nghìn tỷ NDT nợ xấu đã được chuyển giao cho bốn AMC, bốn ngân hàng lớn vẫn nắm giữ 2 nghìn tỷ NDT nợ xấu trong danh mục của họ. Điều đó có nghĩa là theo ước tính, tổng số nợ xấu trong bốn ngân hàng lớn, kể cả đã chuyển, xử lý hoặc còn lại, có thể lên đến 3,4 nghìn tỷ NDT (410 tỷ USD) hay chiếm khoảng 42% tổng dư nợ của bốn ngân hàng lớn vào cuối năm 2001 (so với mức đỉnh 40% đến 60% tại Hàn Quốc và Indonesia (Claessens et al (2001).
Các tài sản được chuyển giao trong 2 năm 1999-2000 thường "dựa trên chính sách" với bốn lý do: Một là, việc thực hiện mua nợ xấu của các AMC được dựa trên giá trị sổ sách. Hai là, chính phủ đầu tư vốn cho các AMC để thực hiện việc chuyển giao nợ xấu. Ba là, các khoản nợ xấu được chuyển giao chỉ giới hạn vào những khoản vay phát sinh trước khi kết thúc năm 1995 và được xác định là cho vay "không đạt tiêu chuẩn" hoặc "nghi ngờ" trước khi kết thúc năm 1998 dưới hệ thống phân loại cho vay cũ của Trung Quốc. Và thứ tư là, một số tài sản chuyển giao là để phục vụ các mục tiêu của chính phủ, cụ thể như hoán đổi nợ sang cổ phần (Tang (2001a, 2001b)). Tuy nhiên còn có nhiều vấn đề về những khoản nợ xấu "dựa trên thị trường" hoặc "phi chính sách" vẫn được giữ lại ở bốn ngân hàng lớn.
Quản trị và giám sát các AMC
Khi các AMC được thành lập, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBC), Bộ Tài chính, và Ủy ban Chứng khoán Trung Quốc (CSRC) đều được chỉ định là cơ quan điều tiết. Năm 2003, Uỷ ban giám sát ngân hàng Trung Quốc (CBRC) được thành lập và đã tiếp nhận một phần trong những trách nhiệm điều tiết. CBRC phụ trách các hoạt động hàng ngày của các AMC, trong khi Bộ Tài chính xác định có chấp thuận một khoản nợ xấu hay không. Ngoài ra, một Ban giám sát được chỉ định bởi Hội đồng Nhà nước sẽ giám sát chất lượng tài sản của các AMC và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các lãnh đạo cấp cao. CSRC, Uỷ ban quản lý và giám sát các tài sản nhà nước, Cục Kiểm toán nhà nước, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, và Bộ Thương mại giám sát một số hoạt động của các AMC trong quyền hạn tương ứng của họ. Như vậy, một số chức năng điều tiết là chồng chéo nhau.
Bảng 2: Các cơ quan điều tiết và những chức năng chồng chéo
Vốn để mua nợ xấu của các AMC
Các nguồn vốn tài trợ cho các AMCs bao gồm: nguồn vốn chủ sở hữu từ Bộ Tài chính, vay từ PBC, các nguồn tiền vay từ các tổ chức tài chính khác và trái phiếu của AMC. Bộ Tài chính cam kết cấp 10 tỷ NDT vốn chủ sở hữu cho mỗi AMC, tổng cộng sẽ là 40 tỷ NDT cho bốn AMC. Như vậy nguồn vốn của Bộ Tài chính chiếm ít hơn 3% tổng nguốn vốn để mua các khoản nợ xấu của các AMC. PBC đầu tư 192 tỷ NDT cho bốn AMC. Từ đó, tổng tiền mặt chiếm đến 17% khi mua các khoản nợ xấu theo chính sách của các AMC; trong đó, 3% từ nguồn vốn của Bộ Tài chính và 14% từ nguồn tín dụng của PBC. Còn lại 83% vốn của các khoản nợ xấu chuyển giao theo chính sách được đầu tư bằng trái phiếu AMC không chuyển nhượng phát hành cho bốn ngân hàng lớn.
Với cơ cấu tài chính này, chúng ta có thể hình dung việc chuyển giao nợ xấu giữa bốn ngân hàng lớn và bốn AMC được thực hiện theo hai bước. Bước đầu tiên là thành lập bốn AMC với sự cấp vốn của Bộ Tài chính và PBC là 232 tỷ NDT. Bước thứ hai là hoán đổi 1.4 nghìn tỷ NDT nợ xấu thành 1,168 tỷ NDT trái phiếu AMC và 232 tỷ NDT bằng tiền mặt.
Sự phân chia thua lỗ của AMC giữa Bộ Tài chính và PBC
Theo các kịch bản thu hồi nợ hợp lý, các AMC tại Trung Quốc được dự kiến sẽ chịu những khoản lỗ đáng kể mà rốt cục sẽ là phần thâm hụt ngân sách của Trung Quốc. Rất có thể PBC có khả năng mất tất cả khoản cho vay 192 tỷ NDT của mình cho các AMC; hoặc dưới cách thức phân bổ tài chính ban đầu cho các AMC, dự kiến tổng mức thua lỗ của AMC sẽ được phân chia giữa PBC và Bộ Tài chính.
Thay vì đầu tư tài chính thực tế cho các AMC, Chính phủ Trung Quốc có thể sử dụng cách cung cấp tài chính cho AMC đơn giản hơn thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ hoặc bảo lãnh đầy đủ cho các tài sản nợ của các AMC. Bộ Tài chính sẽ trực tiếp chịu mọi tổn thất từ việc xử lý các khoản nợ xấu. Bất kỳ khoản thu hồi tài sản nào của AMC sau đó sẽ phải trả nợ cho Chính phủ. Từ đó, vấn đề đầu tư tài chính cho các AMC đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để phân chia các khoản thua lỗ của AMC giữa Bộ Tài chính và PBC?
Trước khi thảo luận về khả năng phân chia thua lỗ dự kiến của AMC, cần phải xem xét mối quan hệ giữa Bộ Tài chính và PBC. PBC không phải là một ngân hàng trung ương độc lập theo tiêu chuẩn quốc tế, bởi vì những vị trí quan trọng của “PBC” và những công cụ chính trong điều hành chính sách tiền tệ (như quyết định lãi suất) được quyết định ở cấp độ của Hội đồng Nhà nước (Chính phủ Trung Quốc). Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là PBC không chịu trách nhiệm báo cáo trước Bộ Tài chính. Trên thực tế, cả PBC và Bộ Tài chính đều theo sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng Nhà nước. Bộ Tài chính theo lịch sử có quyền lực chính trị lớn hơn PBC trong khuôn khổ chính trị nói chung của Trung Quốc. Tuy nhiên, Hội đồng Nhà nước là cơ quan quyết định làm thế nào để phân phối các rủi ro giữa Bộ Tài chính và PBC.
Chất lượng tài sản của bảng cân đối tài sản của PBC sẽ không được cải thiện khi tham gia đầu tư vốn cho AMC. Bảng cân đối tài sản của PBC bị kém đi nếu mở rộng tín dụng cho các AMC. Sự tham gia đầu tư tài chính của PBC cho các AMC có thể được xem như là việc hoán đổi tài sản nợ của PBC tại bốn ngân hàng lớn sang thành nợ của PBC tại các AMC. Chất lượng của các danh mục cho vay tại bốn AMC rõ ràng là kém hơn danh mục đầu tư cho vay tại bốn ngân hàng lớn. Do đó, chất lượng bảng cân đối tài sản của PBC sẽ trở nên xấu hơn trừ khi giả định có sự trợ giúp hoàn toàn của Bộ Tài chính cho các trái phiếu AMC.
Từ đó, rủi ro của PBC về mặt thể chế và về sự phát triển như ngân hàng trung ương hiện đại là không nhỏ khi tham gia vào các AMC. PBC có khả năng bị mất khoản cấp tín dụng 192 tỷ NDT cho các AMC của mình. Vì vậy, việc tham gia vào các AMC có thể gây rủi ro cho vốn cơ sở của PBC và có thể làm suy yếu khả năng quản lý tiền tệ của PBC cũng như năng lực tài chính để đóng vai trò là người cho vay cuối cùng trong dài hạn. Tổng quát hơn, sự tham gia trực tiếp vào quá trình tái cơ cấu ngân hàng có thể tạo nên gánh nặng cho ngân hàng trung ương về mặt bảng cân đối tài sản, các chức năng về chính sách tiền tệ chính yếu và tiềm năng xung đột lợi ích (Dziobek và Pazarbasioglu (1997)).
Lưu chuyển tiền tệ và bố trí tài sản
Cần phải lưu ý các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc thu hồi tài sản của các AMC Trung Quốc và khả năng đáp ứng các khoản thanh toán lãi cho các AMC. Tính bền vững về tài chính của các AMC phụ thuộc vào cả hai động thái vào và ra của dòng tiền. Trong khi dòng tiền mặt đi ra của các AMC chủ yếu được xác định bởi cơ cấu tài chính thì tốc độ xử lý tài sản và tỷ lệ thu hồi tài sản lại là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến luồng tiền mặt đi vào.
Lãi suất mà các AMC phải chịu là kết quả của tỷ lệ đòn bẩy cao và có lãi suất danh nghĩa trên các khoản nợ thấp. Chính phủ thiết lập một mức lãi suất hàng năm là 2,25% đối với cả trái phiếu AMC và các khoản tín dụng PBC cấp cho AMC, bằng đúng lãi suất tiền gửi ngân hàng kỳ hạn 1 năm vào năm 2001 (Hội đồng Nhà nước (2000)). Với số vốn 40 tỷ NDT của Bộ Tài chính và mua theo chính sách 1,4 nghìn tỷ NDT, bốn AMC phải đi vay 1,36 nghìn tỷ NDT, và vì vậy, lãi suất hàng năm mà các AMC phải trả đã vượt quá 30 tỷ NDT. Do đó, bốn AMC phải có số tiền mặt tương đương để trả lãi. Nếu không, các AMC sẽ gặp phải vấn đề thanh khoản khi không có tiền mặt bổ sung từ Bộ Tài chính hoặc PBC.
Tiền mặt thu hồi (dòng tiền vào) của các AMC chủ yếu phụ thuộc vào tốc độ xử lý nợ xấu và tỷ lệ thu hồi tiền mặt. Trên thực tế, thanh lý tài sản không theo kịp với cộng dồn lãi suất. Gần như tất cả xử lý nợ xấu và tài sản thu hồi từ năm 1999 đã diễn ra trong năm 2001 khi bốn AMC xử lý 125 tỷ các khoản nợ xấu và thu hồi 26 tỷ tiền mặt (Bảng 3). Mặc dù đã có 21% tỷ lệ tiền mặt thu hồi được, tuy nhiên tỷ lệ thu hồi của bốn AMC trong hai năm đầu tiên là ít hơn một nửa các chi phí trả lãi của chúng. Rõ ràng, áp lực về tiền mặt lên các AMC là rất cao.
Bảng 3: Xử lý nợ xấu và thu hồi tài sản - tháng 12/2001 (tỷ NDT)
AMC |
Giá trị nợ xấu được chuyển nhượng |
Giá trị tài sản được xử lý |
Tiền mặt thu hồi |
Lãi suất thanh toán hàng năm |
Tỷ lệ thu hồi tiền mặt (%) |
Orient |
267.4 |
18.3 |
4.4 |
5.8 |
24.2 |
Great Wall |
345.8 |
53.1 |
3.7 |
7.6 |
6.9 |
Cinda |
373.0 |
29.9 |
10.5 |
8.2 |
35.1 |
H uarong |
407.7 |
23.2 |
7.6 |
8.9 |
32.5 |
Tổng cộng |
1,393.9 |
124.5 |
26.2 |
30.5 |
21.0 |
Nguồn : Table 1; Zhu et al (2001a); Owen Brown of Dow Jones (9 January 2002).
Để đối phó lại với áp lực tiền mặt ngày càng tăng, chính phủ đã ép đẩy nhanh xử lý nợ xấu. Bộ Tài chính đã lập nên các chỉ số hoạt động của AMC như tỷ lệ thu hồi tiền mặt và đặt ra cơ chế để khuyến khích việc thu hồi tiền mặt nhiều hơn và nhanh hơn. Các AMC đã tích cực bán, đấu giá và cơ cấu lại các khoản nợ xấu, nhà bị tịch thu, kiện tụng và thanh lý (Lou (2001), Huarong (2001)). Cuối năm 2001, các cuộc đấu giá quốc tế nợ xấu đầu tiên tại Trung Quốc đã diễn ra, với việc bán các khoản nợ xấu trị giá 13 tỷ NDT của Huarong cho 2 tổ chức quốc tế. Đó là một mốc quan trọng bởi vì lần đầu tiên thông tin về giá cả thị trường của các khoản nợ xấu được tiết lộ một cách đáng tin cậy (Lague (2001), Huarong (2001)). Được biết, Huarong sẽ nhận được tối đa 21% giá trị sổ sách, tuy nhiên tỷ lệ thu hồi đó có thể không được duy trì liên tục. Bởi vì thứ nhất, tài sản bảo đảm thế chấp của các khoản nợ xấu được bán bởi Huarong (2001) đã vượt quá tổng danh mục nợ xấu theo chính sách. Thứ hai, có xu hướng thanh lý trước những tài sản có thể bán. Thứ ba, tỷ lệ thu hồi tiền mặt từ cuộc bán đấu giá quốc tế của Huarong thực tế có thể thấp hơn tỷ lệ báo cáo 21%, bởi một trong hai tổ chức trên chỉ trả một nửa giá niêm yết.
Do vậy, chất lượng của các tài sản do các AMC nắm giữ sẽ là nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng thu hồi. Nếu như việc thanh lý các tài sản thế chấp trong danh mục đầu tư tại các AMC là thấp và hầu hết các khoản nợ xấu được xác nhận là các khoản cho vay có vấn đề từ hơn bốn năm thì sẽ không thể mong đợi một tỷ lệ thu hồi cao. Hơn nữa, bất động sản - tài sản dễ thu hồi chỉ chiếm có 7% các khoản nợ xấu dựa trên chính sách, trong khi hàng chế tạo, thường khó để thu hồi lại chiếm những 46%. Ngược lại, tại Hoa Kỳ, 47% tổng tài sản quản lý của Công ty Resolution Trust lại là bất động sản (Lou (2001), Klingebiel (2000)). Theo kinh nghiệm quốc tế, khả năng thu hồi tài sản của các AMC tại Trung Quốc có thể kém các công ty tương tự khác ở Châu Á do có những điều kiện bất lợi như đã nêu ra ở trên (S & P (2002)).
Bên cạnh đó, một trong những lý do mà việc xử lý tài sản trong thời gian 1999-2000 có vẻ chậm là bốn AMC đã quá bận tâm với việc hoán đổi nợ thành cổ phần với quy mô lớn trong thời kỳ này.
Hoán đổi nợ thành cổ phần
Mặc dù mục tiêu đề ra là tối đa hoá việc thu hồi tài sản, tuy nhiên các AMC vẫn có gánh nặng với ba nhiệm vụ - tối đa hoá việc thu hồi tài sản, giảm bớt những rủi ro tài chính mà bốn ngân hàng lớn phải đối mặt và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc (Hội đồng Nhà nước (2000)).
Kế hoạch hoán đổi bao gồm việc chọn lọc chuyển đổi các khoản nợ phải trả thành cổ phần trong AMC tại một số doanh nghiệp cho vay lựa chọn từ trước chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước lớn và không có tiền mặt. Chính phủ và các AMC đã cùng nhau chọn 580 doanh nghiệp nhà nước cho kế hoạch trên và chuyển đổi 405 tỷ NDT các khoản nợ ngân hàng thành cổ phần. Kế hoạch này nhằm tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước trong một thời gian ngắn bằng cách hạ thấp tỷ lệ đòn bẩy tài chính của các SOE có nợ lớn. Theo điều kiện đó, các giao dịch hoán đổi đã đem lại hiệu quả: tỷ lệ trung bình các khoản nợ / tài sản trong doanh nghiệp nhà nước tái cấu trúc giảm xuống từ 73% xuống dưới 50% (Dai (2001)). Các AMC có nghĩa vụ phải nhận cổ tức đối với vốn cổ phần của họ trong các doanh nghiệp nhà nước này, mà có thể trở thành một nguồn tiền mặt vào các AMC.
Bảng 4: Hoán đổi nợ thành cổ phần trong các AMC
AMC |
Tài sản chuyển nhượng (tỷ NDT) |
Hoán đổi nợ - cổ phần (tỷ NDT) |
Tỷ lệ hoán đổi của các khoản vay (%) |
Số lượng Doanh nghiệp nhà nước |
Orient |
267.4 |
63.9 |
23.9 |
65 |
Great Wall |
345.8 |
12.5 |
3.6 |
21 |
Cinda |
373.0 |
154.5 |
41.4 |
168 |
H uarong |
407.7 |
110.0 |
27.0 |
333 |
Tổng cộng |
1,393.9 |
340.9 |
24.5 |
587 |
Tổng chính |
1,393.9 |
405.0 |
29.1 |
580 |
Nguồn: Table 4; Tang (2001a); Zhu et al (2001b).
Hầu hết các thoả thuận hoán đổi nợ thành cổ phần giữa các AMC và các doanh nghiệp nhà nước nêu ra ba điều khoản. Thứ nhất, các doanh nghiệp nhà nước tái cấu trúc lại được yêu cầu phải mua lại cổ phần vốn chủ sở hữu của họ từ các AMC với giá thỏa thuận trong vòng 10 năm. Thứ hai, các doanh nghiệp nhà nước tái cấu trúc lại cam kết sẽ trả lợi tức cho vốn cổ phần mà AMC nắm giữ thông qua chi trả cổ tức hoặc trả phần chênh lệch so với giá mua lại (repurchase price premium). Thứ ba, các cơ quan chính phủ địa phương được yêu cầu đảm bảo rằng các AMC không được ưu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng như được mua lại toàn bộ khi bị phá sản. Với những điều khoản trên, việc nắm giữ vốn cổ phần của AMC tương tự như cổ phiếu ưu đãi. Một trong những động lực cho việc hoán đổi nợ thành cổ phần là các AMC có thể chuẩn bị cho việc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp nhà nước tái cấu trúc lại thông qua IPO hay các cổ phiếu thứ cấp.
Thách thức chính đối với các AMC Trung Quốc là duy trì tốc độ thu hồi tài sản. Theo kinh nghiệm quốc tế, việc thu hồi tài sản nhanh chóng và hiệu quả là chìa khóa để quản lý chi phí của việc tái cơ cấu ngân hàng. Công cuộc cải cách các doanh nghiệp nhà nước cũng được đẩy nhanh dựa vào thị trường chuyển nhượng với các nhà đầu tư khu vực kinh tế tư nhân trong và ngoài nước. Điều này sẽ giúp hạn chế dòng nợ xấu mới trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc. Ngoài ra, Chính phủ có thể yêu cầu các AMC bổ sung trách nhiệm xử lý nợ xấu trong tương lai bởi vì ngành ngân hàng Trung Quốc ngoài bốn ngân hàng lớn cũng có thể chứa đựng gánh nặng về nợ xấu.
Kết quả xử lý nợ xấu tại Trung Quốc
Khi số lượng lớn các khoản nợ xấu được tách ra khỏi bảng cân đối tài sản, các ngân hàng ngay lập tức cải thiện chất lượng tài sản của họ. Ba trong số bốn ngân hàng lớn đã được niêm yết ra công chúng sau khi được tái cơ cấu vốn. Tuy nhiên, cần luôn nhớ rằng những khoản nợ xấu này không hề biến mất khỏi hệ thống tài chính Trung Quốc. Toàn bộ nền kinh tế rốt cuộc sẽ phải chịu chi phí của việc tái cơ cấu ngân hàng.
Một điều thú vị là, một số khoản nợ xấu được nắm giữ bởi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. Zhang (2008) chỉ ra rằng trong số các khoản tín dụng được cấp bởi PBC cho chính quyền thành phố và các tổ chức tài chính, một khoản lớn đã được sử dụng để hoán đổi cho tài sản xấu trên các bảng cân đối tài sản của họ. Nói cách khác, PBC cấp tín dụng để các chủ thể này có khả năng trả nợ của họ hoặc xoá bỏ tài sản xấu, do không hy vọng những khoản vay này sẽ được thanh toán đầy đủ. Những khoản vay này trở thành nợ xấu trên bảng cân đối tài sản của ngân hàng trung ương.
Theo số liệu thống kê của Tong li (2009), tổng nợ xấu được nắm giữ bởi các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng nông thôn, PBC, và các AMC lên đến 3,94 nghìn tỷ NDT (hoặc 540 tỷ USD) vào cuối năm 2007. Cũng nên chú ý rằng một phần lớn nợ xấu là các khoản vay được hình thành trước thời kỳ cải cách. Đến nay, các ngân hàng thương mại Trung Quốc đã được cải cách, đặc biệt là những ngân hàng đã niêm yết đã làm rất tốt trong việc duy trì các khoản nợ xấu ở mức hợp lý trên bảng cân đối tài sản của họ. Tuy nhiên, đó sẽ là một dấu hiệu báo động nếu những tài sản xấu này không được xử lý một cách kịp thời và hiệu quả thì sẽ vẫn là mối đe dọa đến sự vững mạnh của ngành tài chính Trung Quốc.
Thời hạn hoạt động của các AMC đã kết thúc, tuy hiện nay các số liệu cụ thể về hoạt động của các AMC nêu trên chưa công bố, nhưng khi các khoản nợ xấu được chuyển giao từ một tổ chức này sang một tổ chức khác, những nguy cơ tiềm ẩn gây ra cho hệ thống không có nghĩa là được giảm bớt. Một số tổ chức tài chính chẳng hạn như bốn ngân hàng lớn có vẻ rất khỏe mạnh sau khi tách ra các khoản nợ xấu. Tuy nhiên, những khoản nợ xấu này (theo đó là những rủi ro) vẫn còn trong hệ thống, và sẽ được hấp thụ trong một khoảng thời gian dài. Bốn AMC phải mất hơn 8 năm để xử lý khoảng 1 nghìn tỷ NDT nợ xấu. Vì vậy, có thể kết luận rằng để giải quyết vấn đề 540 tỷ USD nợ xấu này thì Trung Quốc còn phải sử dụng thêm một quãng thời gian nữa.
Tài liệu tham khảo
[1] Tong Li, China’s nonperforming loans: A $540 billion problem unsolved, Milken Institute, 5/2009;
[2] Zhang, Yuzhe, and Xiu Wen, The Cross Road for AMC Transformation, Caijing, 3/2008.
[3] Liao, Guomin, and Wei Liu, Banking Institution, Bankruptcy Cost and Government Guarantee: An Analytical Framework for the Formation of NPLs at State Owned Banks, Management World, no.3, 2005;
[4] Guonan Ma and Ben S C Fung, China’s asset management corporations, BSI Working Papers No 115, 8/2002;
[5] Claessens, Stijn, Daniel Klingebiel and Luc Laeven, Financial restructuring in banking and corporate sector crises: what policy to pursue, World Bank Working Paper, World Bank, Washington DC, 4/2001;
[6] Zhu, Dengshan, Yang Kaisheng, Wang Xingyi and Bai Shizhen, conference speeches at the Beijing 2001 NPL Forum, Beijing, 10/2001;
[7] Tang, Shuangning, From debt-equity swap to equity-cash conversion, China Finance (Zhongguo Jinrong), no 2, pp 16-20, 2001a;
[8] Lardy, Nicholas, China’s unfinished economic revolution, Brookings Institution Press, Washington DC, 1998;
[9] Bank of China, Bank of China Annual Report 2000, Beijing, 2000.
ThS. Nguyễn Thị Minh Hằng
Viện Chiến lược Ngân hàng