Ngay từ những ngày đầu của năm 2013, để giải quyết những tồn tại của kinh tế năm 2012 tạo tiền đề bứt phá cho những năm kế tiếp, ngày 7 tháng 01 năm 2013 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, đồng thời chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương thực hiện đồng bộ nhằm thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế-xã hội cả năm. Trên cơ sở đó, các Bộ ngành, cơ quan quản lý trong cả nước đã ban hành Nghị quyết, chương trình hành động xác định rõ mục tiêu, định hướng hoạt động của bộ, của ngành mình hướng tới thực hiện mục tiêu điều hành kinh tế đã được Quốc hội thông qua là tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012; đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Trước quyết tâm chính sách của Chính phủ cũng như các Bộ, ngành trong cả nước, kinh tế Việt nam sau một quý vận hành đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Tăng trưởng kinh tế khả quan
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2013 ước tính đạt 4,89% so cùng kỳ năm 2012, cao hơn mức tăng 4,75% của quý I/2012. Mặc dù mức tăng trưởng này vẫn còn thấp hơn khá nhiều so với cùng kỳ những năm trước đó nhưng mức tăng trưởng GDP trong Quý I thật sự có ý nghĩa trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn.
Một điểm tích cực khi phân tích tăng trưởng GDP theo nhóm ngành là có thể thấy tăng trưởng GDP quý I năm nay đã đạt được ở cả 3 nhóm ngành. Trong đó, GDP do nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thuỷ sản tạo ra tuy tăng không cao, thậm chí tốc độ tăng quý I năm nay còn thấp hơn tốc độ tăng của cùng kỳ trong 2 năm trước, nhưng tiếp tục đạt đỉnh cao mới về giá trị sản xuất và về sản lượng một số sản phẩm chủ yếu.
GDP do nhóm ngành công nghiệp - xây dựng tạo ra tuy tăng thấp hơn tốc độ tăng của cùng kỳ 2 năm trước, nhưng đã tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng chung của toàn bộ nền kinh tế. Nhóm ngành dịch vụ tiếp tục tăng với mức đóng góp lớn nhất và là nhóm ngành duy nhất trong 3 nhóm ngành có tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I các năm 2011, 2012 và 2013
|
Tốc độ tăng so với quý I năm trước (%) |
Đóng góp các khu vực vào GDP quý I |
||
|
Quý I 2011 |
Quý I 2012 |
Quý I 2013 |
|
Tổng số |
5,90 |
4,75 |
4,89 |
4,89 |
Nông, lâm thuỷ sản |
3,35 |
2,81 |
2,24 |
0,31 |
Công nghiệp xây dựng |
6,66 |
5,15 |
4,93 |
1,98 |
Dịch vụ |
6,04 |
4,99 |
5,65 |
2,6 |
Nguồn: Tổng cục thống kê
Lạm phát diễn biến thuận lợi
Trong quý I năm 2013, chỉ số giá tiêu dùng CPI đã có những diễn biến khá tích cực, báo hiệu cho thấy mục tiêu kiềm chế lạm phát năm nay ở mức 6-6,5% sẽ khả thi. Cụ thể, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, CPI tháng 3/2013 ở mức -0,19% so với tháng trước, tăng 6,64% so với cùng kỳ và tăng 2,39% so với đầu năm. Có thể thấy mức tăng của lạm phát quý I/2013 khá tương đồng với năm 2012 và là mức tăng thấp thứ 2 trong vòng 10 năm trở lại đây. Việc lạm phát quý I/2013 tăng thấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) của Chính phủ. Đây cũng sẽ là tiền đề để NHNN thực hiện được các mục tiêu đặt ra trong năm 2013 là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, góp phần tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.
Hoạt động thương mại khởi sắc
Đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng GDP trong quý phần lớn là nhờ hoạt động thương mại có nhiều khởi sắc, đặc biệt là từ hoạt động xuất khẩu. Tính chung 3 tháng đầu năm 2013, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 29,7 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước (trong đó có 2 tháng 1 và 3 vượt qua mốc 11 tỷ USD). Đây có thể coi là năm thứ 4 liên tiếp xuất khẩu liên tục thực hiện vượt tương đối xa so với kế hoạch đề ra.
Trong khi đó, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 3 tháng ước đạt 29,2 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2012. Tăng trưởng nhập khẩu khá cao so với cùng kỳ các năm trước là do sự đóng góp của một số mặt hàng thuộc nhóm hàng phục vụ gia công lắp ráp hàng xuất khẩu. Như vậy, tiếp theo đà phục hồi của năm 2012, xuất khẩu tăng cao đã giúp nền kinh tế đạt xuất siêu ước 481 triệu USD trong 3 tháng đầu năm.
Tình hình xuất nhập khẩu trong giai đoạn 2012 - quý I 2013
Nguồn: Tổng cục thống kê
Vốn đầu tư toàn xã hội có xu hướng chuyển dịch theo hướng tích cực
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 202,6 nghìn tỷ đồng, tăng 5,5% so cùng kỳ năm trước và bằng 29,6% GDP. Tỷ trọng vốn đầu tư đã có những thay đổi theo hướng tích cực. Vốn đầu tư trong nền kinh tế thuộc khu vực Nhà nước có xu hướng giảm dần trong khi đầu tư khu vực tư nhân lại có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Cụ thể, tỷ trọng của vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước giảm từ 44,5% quý I 2011 xuống còn 37,5% quý I 2012 và 36,9% quý I 2013, trong khi vốn đầu tư từ khu vực ngoài Nhà nước tăng từ mức 26,6% quý I 2011 lên 36,2% quý I 2012 và lên 36,9% quý I 2013. Vốn đầu tư từ khu vực có vốn FDI vẫn duy trì ở mức 26,2%, không thay đổi nhiều so với cùng kỳ những năm trước.
Với những thay đổi trong tỷ trọng phân bổ vốn đầu tư như vậy cộng với những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý vốn đầu tư đã góp phần nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư, thể hiện ở chỉ số ICOR đã có xu hướng giảm so với năm 2012. Hiện tại, tính đến thời điểm hết quý I năm 2013 chỉ số ICOR hiện ở mức 6,05, thấp hơn so với mức xấp xỉ 6,66 năm 2012.
Vốn đầu tư nước ngoài thu hút và thực hiện trong quý 1 đạt kết quả khả quan
Thu hút FDI trong quý I-2013 đạt được kết quả tích cực cả về vốn đăng ký, bổ sung, cũng như vốn giải ngân. Theo Tổng cục Thống kê, trong quý I-2013, tổng vốn FDI cấp mới và tăng thêm là 6,03 tỷ USD, tăng 63,6% so với cùng kỳ năm 2012, đồng thời vốn giải ngân lên tới 2,7 tỷ USD, tăng hơn 7% so với cùng kỳ năm trước. Ðiều này cho phép Việt Nam tự tin điều chỉnh chỉ tiêu thu hút tới 16,3 tỷ USD so với mức dự kiến 13 - 14 tỷ USD của kế hoạch đã thông qua cho năm nay. Cơ cấu vốn đầu tư đã tập trung đúng hướng, với 91,8% vốn trong ngành công nghiệp chế biến và chủ yếu đến từ Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc... Lượng vốn đăng ký vào công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao nhất (91,8%) vừa phù hợp, vừa đón cơ hội Việt Nam chuyển sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu tổng quát đến 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Hoạt động sản xuất có dấu hiệu khởi sắc
Theo công bố của HSBC và Markit Economics, chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) của ngành Sản xuất Việt Nam được điều chỉnh theo mùa lại vượt mức trung bình 50 điểm vào tháng 3, đạt mức cao nhất trong vòng 23 tháng qua là 50,8 điểm. Trong tháng 3, cả sản lượng sản xuất và số lượng đơn đặt hàng mới đã bắt đầu hồi phục sau khi có sự sụt giảm trong tháng trước. Cùng với đó, lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới của tháng 3 lần đầu tiên tăng trong 11 tháng qua. Các nhà sản xuất cho rằng doanh thu hàng xuất khẩu mới tăng trưởng gần đây là nhờ vào nhu cầu từ phía các khách hàng ở Trung Quốc, Nhật Bản, và Thái Lan được cải thiện. Việc tăng số lượng đơn đặt hàng mới và sản lượng đã tác động đến thị trường lao động, khi lượng nhân công của tháng 3 đã tăng lần thứ năm trong vòng 6 tháng qua.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên thì tình hình kinh tế vĩ mô vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ
Tổng cầu của nền kinh tế vẫn còn yếu thể hiện ở sức mua tiêu dùng thấp.
Tiêu dùng trong 3 tháng đầu năm 2013 vẫn tiếp tục xu hướng giảm, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng doanh thu bán lẻ có xu hướng giảm mạnh so với tốc độ tăng cùng kỳ các năm trước. Tính đến cuối tháng 3/2012, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 636,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá thì chỉ tăng 4,5%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng này là do tình hình kinh tế sụt giảm, thu nhập của người lao động bấp bênh, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm tăng đã ảnh hưởng đến sức mua của dân cư; đồng thời tâm lý của người tiêu dùng vẫn có xu hướng thắt chặt chi tiêu trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay.
Tốc độ tăng tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Nguồn: Tổng cục thống kê
Mặc dù nền kinh tế đạt xuất siêu nhưng vẫn còn nhiều vấn đề đáng lo ngại
Xuất siêu đạt được trong những tháng vừa qua chủ yếu là do nhập khẩu có sự suy giảm mạnh mẽ so với những năm trước đây. Do đó, tình trạng xuất siêu nói trên chưa thực sự đáng mừng và cần cảnh giác bởi nó cho thấy sự trì trệ, trầm lắng trong sản xuất dẫn đến giảm sút về nhu cầu sử dụng nguyên liệu, vật tư trên phạm vi rộng, thuộc nhiều lĩnh vực. Trên thực tế, thực trạng nhập khẩu ngày càng thấp đang xuất hiện song hành với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, cùng hàng loạt khó khăn gồm: sức tiêu thụ hàng hóa suy giảm và sự đình đốn, hoạt động cầm chừng của nhiều doanh nghiệp.
Mặt khác, khi xem xét cơ cấu xuất khẩu phân theo khối doanh nghiệp cũng có thể nhận thấy một diễn biến khác cũng đáng lo ngại là, xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng cao hơn xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước, cho thấy khả năng làm chủ tình huống và khai thác thị trường của họ tốt hơn. Tính chung, khối này đã xuất siêu 3,1 tỷ USD trong khi các doanh nghiệp trong nước lại nhập siêu 1,29 tỷ USD. Như vậy, một lần nữa khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng và quyết định đối với việc cải thiện cũng như kết quả cán cân thương mại cả nước.
Thu ngân sách gặp nhiều vấn đề khó khăn
Theo Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước quý I ước đạt 167.710 tỷ đồng (bằng 20,6% dự toán) giảm 2,6% so với cùng kỳ năm 2012. Theo đó, thu nội địa đạt 114.040 tỷ đồng, đạt thấp cả về tiến độ thực hiện dự toán và mức tăng trưởng so với cùng kỳ một số năm gần đây, nhiều khoản thu quan trọng đạt thấp so với yêu cầu đề ra.
Về chi ngân sách quý I/2013, ước đạt 218.385 tỷ đồng. Bộ Tài chính đánh giá các nhiệm vụ chi ngân sách được đảm bảo theo đúng dự toán và tiến độ triển khai của các chủ đầu tư, đơn vị sử dụng ngân sách.
Nguồn: Tổng cục thống kê
CPI trong quý I/2013 tăng chậm nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro khiến lạm phát quay trở lại trong những tháng tới.
Việc CPI giảm ở mức âm trong tháng 3 không phải là một hiện tượng quá bất thường với nền kinh tế Việt Nam. Trên thực tế, trong vòng 10 năm trở lại đây, hiện tượng này đã lặp lại 3 lần trong các năm 2006, 2007 và 2009. Điểm chung của những năm này là CPI tháng 3 giảm đều có đóng góp lớn của việc giảm giá nhóm hàng lương thực thực phẩm. Tuy nhiên, khác biệt nằm ở chỗ, nguyên nhân CPI tháng 3/2013 giảm ngoài yếu tố thời vụ (tháng sau Tết) còn do yếu tố tổng cầu thấp, sức mua của người dân yếu hơn bình thường, khiến một số mặt hàng buộc phải giảm giá. Hơn nữa, theo số liệu lịch sử thì các năm 2007 và 2009 đều là năm khởi đầu cho những khó khăn và bất ổn của nền kinh tế. Do vậy, việc CPI giảm dù sẽ có những thuận lợi nhất định song đây cũng là một dấu hiệu cảnh báo cho một năm tăng trưởng kinh tế còn khó khăn của Việt Nam.
Đáng chú ý nhất là việc điều chỉnh giá xăng dầu vào những ngày cuối tháng 3 của Chính phủ khi giá xăng đã tăng thêm 1.430đ/l lên mức kỷ lục 24.580đ/l. Bên cạnh đó, trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục điều hành giá xăng dầu theo hướng xóa bỏ bao cấp, dần tiến tới cơ chế thị trường, có sự định hướng của Nhà nước. Theo kinh nghiệm quá khứ thì việc giá xăng dầu tăng trong tháng 3 sẽ tác động trực tiếp làm tăng giá nhóm hàng “giao thông” và gián tiếp làm tăng giá các nhóm hàng khác trong rổ hàng hóa. Và điều này có thể tác động ngay lên CPI của những tháng kế tiếp. Do vậy, để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, công tác điều hành giá của Chính phủ trong thời gian tới phải hết sức cẩn trọng, đặc biệt với các mặt hàng thiết yếu khác như điện, nước, dịch vụ y tế … cần có một lộ trình điều chỉnh giá thích hợp.
Một số áp lực và các nút thắt khác cần tiếp tục tháo gỡ
Chỉ số tồn kho tại thời điểm 1/3/2013 toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,5% so với cùng kỳ, thấp hơn mức 19,9% tại thời điểm 1/2/2013. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm qua các tháng trong năm qua chủ yếu do các doanh nghiệp tự kháo gỡ khó khăn bằng cách tiêu thụ sản phẩm với giá rẻ, lãi ít hoặc bán lỗ để giải phóng hàng tồn, thu hồi vốn để tái cơ cấu ngành hàng sản xuất có lợi hơn hoặc đầu tư sang lĩnh vực khác.
Mặc dù tỷ lệ hàng tồn kho của toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã giảm nhưng hiện tại tỷ lệ này vẫn đang ở mức cao làm ảnh hưởng đến mối quan hệ an toàn giữa các khâu sản xuất – tiêu thụ và tồn kho của sản xuất công nghiệp. Tỷ lệ giữa giá trị tồn kho so với giá trị sản xuất trong một tháng hiện luôn ở mức cao, từ 70-90%. trong khi tỷ lệ an toàn thông thường khoảng 65%.
Một dấu hiệu cảnh báo khác là việc nhóm hàng “nhà ở và vật liệu xây dựng” trong quý I/2013 đã có mức tăng rất chậm so với năm trước. Điều này đã phần nào phản ánh tình trạng “đóng băng” của thị trường bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu chuyển biến, điều đó có nghĩa là tồn kho đối với các hàng hóa liên quan đến lĩnh vực này còn lớn, sức tiêu thụ thực còn yếu.
Ngoài ra, trong quý I-2013 so cùng kỳ năm trước, theo số liệu của Phòng Thương mại Công nghiệp (VCCI) số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm 6,8% và lần đầu tiên ghi nhận hiện tượng các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thấp hơn số doanh nghiệp dừng hoạt động và phá sản. Tỷ lệ thất nghiệp xã hội tiếp tục tăng, ở khu vực thành thị là 3,4% và thiếu việc làm ở nông thôn là 4%, cao hơn cùng kỳ và tập trung trong ngành công nghiệp - xây dựng.
Với những tín hiệu khả quan đã đạt được trong quý I, tăng trưởng kinh tế 2013 có thể được kỳ vọng và một năm kinh tế bản lề cho những năm kế tiếp song để tín hiệu trên thành hiện thực, thì cần thiết phải giải quyết và kiểm soát được những điểm chưa ổn định, những tồn tại của kinh tế trong Quý I.
Ths Nguyễn Minh Ngọc
Viện Chiến lược Ngân hàng