Khủng hoảng tài chính Châu Á bắt đầu từ tháng 7/1997 ở Thái Lan đã gây nhiều tác động nặng nề không chỉ lên nước này mà còn ảnh hưởng dây chuyền sang hầu hết các quốc gia châu Á khác. Trong một thời gian dài, nguồn vốn nước ngoài ào ạt đổ vào thị trường nội địa do chính sách hội nhập kinh tế toàn cầu của Chính phủ làm tín dụng tăng nhanh và kéo dài, kể cả các khoản tín dụng dưới chuẩn, với tỷ lệ đáng kể đầu tư vào bất động sản. Số lượng các tổ chức tín dụng phát triển nhanh chóng; chứng khoán, tài chính và thị trường tiền tệ bất ổn định, thị trường bất động sản bị đẩy giá cao đến mức vô lý gây ra những nguy cơ đình trệ vốn và vỡ nợ tín dụng. Tình trạng này đã góp phần gia tăng lạm phát và tiếp tục hút thêm vốn vào những lĩnh vực đầu cơ nhạy cảm trong đó tỷ trọng cho vay từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng với năng lực thẩm định và giám sát hạn chế càng ngày càng gia tăng. Sự yếu kém của hệ thống tài chính và khu vực doanh nghiệp kết hợp với những bất ổn vĩ mô tạo áp lực lên Chính phủ Thái Lan và buộc nước này phải thực hiện tái cơ cấu toàn diện hệ thống tài chính – ngân hàng.
Trong bối cảnh nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, Ngân hàng trung ương Thái Lan (BoT) đã chuyển sang điều hành chính sách tiền tệ theo cơ chế tiền tệ mục tiêu với trọng tâm vào nguồn cung tiền trong nước đảm bảo ổn định vĩ mô, tăng trưởng vững bền và ổn định giá cả. Dựa theo khả năng thanh khoản hàng ngày của hệ thống ngân hàng, BoT sẽ quy định các mục tiêu tiền tệ định kỳ theo ngày và quý. Việc quản lý thanh khoản này giúp cho toàn bộ hệ thống tài chính tránh những biến động khó kiểm soát của các yếu tố tiền tệ như lãi suất.
Ngay khi khủng hoảng xảy ra, dựa trên cơ sở hai gói cứu trợ và chương trình giải quyết khủng hoảng theo định hướng tiền tệ của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) với trị giá 16 tỷ USD và 3,9 tỷ USD vào tháng 7 và tháng 8 năm 1997, ngày 14/10/1997, Thái Lan công bố một chiến lược khẩn cấp về tái cơ cấu khu vực tài chính – ngân hàng toàn diện. Chiến lược bao gồm 3 vấn đề chính:
- Tăng cường thanh tra giám sát: Thành lập Cơ quan Tái cơ cấu khu vực tài chính (FRA) và Công ty Quản lý Tài sản (AMC) trong đó FRA có trách nhiệm đánh giá đề xuất khôi phục các ngân hàng, công ty tài chính bị đóng cửa và tiếp tục giám sát tài sản những công ty khác trong diện nghi ngờ; còn AMC phải quản lý các khoản nợ xấu của các doanh nghiệp tài chính khi tỷ lệ nợ xấu của khối ngân hàng lên đến 15%.
- Tái cấu trúc hệ thống tài chính: Thực hiện giải thể 58 chi nhánh ngân hàng và công ty tài chính, 7 ngân hàng trong nước đã phải chuyển đổi theo hình thức mua lại hoặc sáp nhập. Cụ thể, ở giai đoạn từ đầu năm 1997 đến tháng 8/1998, BoT tiến hành giải quyết từng bước các vấn đề thanh khoản của các ngân hàng thương mại vừa và nhỏ. Vào 3 tháng cuối năm 1997, BoT đã quyết định yêu cầu những định chế tài chính có vốn dưới chuẩn phải cơ cấu lại nguồn vốn nhằm khôi phục sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Bốn ngân hàng thương mại trong nước là Bangkok Metropolitan Bank (BMB), BBC, Siam City Bank (SCIB) và First Bangkok City Bank (FBCB) bị đánh giá là vốn dưới chuẩn do không đáp ứng được các quy định trong trích lập dự phỏng rủi ro. Vì vậy, vào tháng 5, BoT đã can thiệp vào 4 ngân hàng này bằng cách giảm vốn sở hữu đến mức tối thiểu nhằm xóa bỏ nợ xấu. BoT thực hiện chuyển các khoản vay từ Quỹ Phát triển các Định chế tài chính (FIDF) – trực thuộc BoT, thành nguồn vốn và bơm thêm vốn bổ sung. Nhưng nguồn vốn hiện có là rất hạn chế, chính vì vậy, Thái Lan đã phải tìm đến nguồn vốn quốc tế với việc tự do hóa hoàn toàn trong 10 năm đối với các khoản đầu tư vốn nước ngoài cho khu vực tài chính ngân hàng. Chính phủ mở rộng cơ hội đầu tư nước ngoài bằng những liên doanh liên kết hoặc mua bán các định chế trong nước với việc nới lỏng quy chế, tăng mức sở hữu tối thiểu cổ phần ngân hàng trong nước của doanh nghiệp nước ngoài từ 25 lên 50%, điển hình là 4 ngân hàng Bangkok Bank (BBL), TFB, SCIB và Nakornthon Bank (NTB), trong đó BBL và TFB tăng cả vốn cấp 1 và cấp 2 trên thị trường quốc tế.
- Kiểm soát nợ xấu: Tháng 3/1998, BoT ban hành các quy định phân loại nợ và dự phòng rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế cho hệ thống ngân hàng tài chính, trong đó BoT yêu cầu các ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro cho tất cả các khoản vay quá hạn trên 6 tháng và nghiêm cấm phân bổ lãi suất của các khoản vay này. Ngoài ra, để bảo vệ quyền lợi khách hàng, BoT không thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, ủy quyền cho FIDF cung cấp bảo hiểm toàn phần cho khách hàng gửi và vay tiền ở những ngân hàng hay tổ chức tài chính bị đóng cửa. Đối với các nhà đầu tư mua lại các ngân hàng sở hữu nhà nước, FDIF bảo đảm bồi thường lỗ từ những món nợ xấu thông qua chính sách duy trì lợi nhuận và chia sẻ lãi lỗ. Các ngân hàng phải tập trung phân tán rủi ro bằng việc quy định hạn mức cho vay đối với một khách hàng không quá 25% vốn tự có, các khoản nợ ngoài bảng tổng kết tài sản hạn chế dưới 50% tổng số vốn. Hơn nữa, các ngân hàng không được đầu tư quá 20% tổng số vốn vào cổ phiếu, giấy chứng nhận nợ của một công ty, tỷ lệ dự trữ thanh khoản theo quy định là 7% trong đó 2% tiền gửi tại Ngân hàng trung ương, tối đa không quá 2,5% tiền mặt, còn lại dưới dạng chứng khoán. Bên cạnh đó ngân hàng phải thực hiện trích lập 100% dự phòng đối với những tài sản có rủi ro, còn các ngân hàng bị đóng cửa phải tăng vốn điều lệ lên 15% tổng vốn chủ sở hữu thì mới có thể tiếp tục hoạt động.
Tuy nhiên, trong một năm thực hiện nhiều biện pháp tác động vào khu vực tài chính để cứu nền kinh tế khỏi suy thoái tài chính dựa trên hai gói cứu trợ của IMF, Thái Lan vẫn chìm sâu trong khủng hoảng. Vì vậy, tháng 8/1998, BoT đã đưa ra giải pháp tái cấu trúc ngân hàng có hệ thống dựa theo cơ chế thị trường. Chương trình trọng tâm vào 3 vấn đề: (i) giải quyết khủng hoảng, (ii) ổn định cơ sở tiền gửi của các ngân hàng, (iii) khôi phục dòng tín dụng cho các khu vực sản xuất của nền kinh tế. Kế hoạch này gồm 4 phần:
- Tiêu chuẩn hóa tỷ lệ an toàn vốn (CAR): CAR phải duy trì ở mức 8,5% đối với các ngân hàng (cao hơn so với tiêu chuẩn quốc tế Basel) và 8% cho các công ty tài chính. Nhưng yêu cầu vốn cấp 1 cho các ngân hàng phải giảm từ 6 đến 4,25%, vốn cấp 2 tăng từ 2,5 đến 4,25% theo tiêu chuẩn của Basel và trích lập dự phòng rủi ro là 1%.
- Thực hiện các công cụ hỗ trợ về vốn: Mục tiêu của các chính sách hỗ trợ vốn là khuyến khích các ngân hàng thương mại và công ty tài chính Thái Lan cơ cấu lại nguồn vốn để khôi phục và duy trì thanh khoản. Đối với chính sách về vốn cấp 1, Chính phủ sẽ mua cổ phần, trái phiếu để tăng tỷ lệ vốn cấp 1 theo quy định. Về vốn cấp 2, Chính phủ thực hiện bơm vốn thông qua trao đổi trái phiếu Chính phủ không giao dịch cho các khoản vay ngân hàng ở mức tối đa 2% so với tài sản rủi ro.
- Thành lập các công ty quản lý tài sản tư hữu: Chính phủ đưa ra một cơ chế loại bỏ các tài sản xấu từ bảng cân đối của các ngân hàng tư nhân thông qua các công ty quản lý tài sản tư được sở hữu hoàn toàn bới các định chế tài chính mẹ. Các tổ chức này như một kênh giúp các ngân hàng tách tài sản tốt khỏi tài sản xấu, cải thiện cân đối tài sản, chất lượng tài sản và trọng tâm vào các ngành kinh tế có tiềm năng.
- Giải quyết các tổ chức tài chính yếu kém: BoT tiếp tục can thiệp thêm vào 2 ngân hàng (UBB và Laem Thong Bank) và 5 công ty tài chính nâng tổng số tổ chức tài chính cần can thiệp lên con số 18, trong đó có 6 ngân hàng và 12 công ty tài chính. BMB và SCIB được bán cho các nhà đầu tư chiến lược; FBCB được mua lại bởi KTB; còn BBC bị giải thể, tài sản – nợ chuyển hoàn toàn sang KTB và các khoản nợ xấu do FIDF chịu trách nhiệm. KTT đã mua lại UBB và 12 công ty tài chính bị can thiệp sau khi các tổ chức này đáp ứng trích lập rủi ro và tái cơ cấu vốn lên lần lượt là 8,5 và 8%. Ngoài ra, Chính phủ cũng tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược cho RSB và chuẩn bị cổ phần hóa KTB và BTH.
Giải pháp từng bước của Ngân hàng trung ương, các cơ quan tài chính liên quan và sự thực thi nghiêm túc, quyết liệt các chính sách của NHTM đã tạo nên hiệu quả rõ rệt trong quá trình cải tổ hệ thống ngân hàng và giúp Thái Lan thực sự phục hồi sau khủng hoảng. Mặc dù số lượng các ngân hàng giảm đáng kể sau quá trình tái cơ cấu, nhưng quy mô và hoạt động kinh doanh được cải thiện rõ ràng theo hướng chuyên nghiệp và quốc tế hóa hơn. Các ngân hàng nhỏ lẻ, hoạt động kém hiệu quả và quản lý rủi ro yếu không còn tồn tại mà thay vào đó là những ngân hàng vững vàng về tiềm lực tài chính, tổ chức và có tính cạnh tranh cao. Những tiêu chuẩn, chuẩn mực nội địa của hệ thống ngân hàng – tài chính Thái Lan đều tiến gần hơn tới những chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Sự minh bạch hóa thông tin hệ thống tài chính, ngân hàng được cải thiện, khả năng giám sát và cảnh báo sớm của các cơ quan chức năng cũng mang lại nhiều hiệu quả tích cực làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển khu vực tài chính ngân hàng trong dài hạn.
Thạc sỹ Hoàng Trà Mi
Viện Chiến lược Ngân hàng