Một chương trình tài chính và kinh tế, hay gọi tắt là chương trình tài chính là một tập hợp các biện pháp chính sách tác động lên hiệu quả nền kinh tế. Theo đó là sự cần thiết phải sửa chữa những bất cân bằng của nền kinh tế, những cải cách cấu trúc nền kinh tế trong mối quan hệ với mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững. Đây là một chương trình có ích cả về mục đích và thực tiễn cho chính phủ. Mô hình này cũng được sử dụng rộng rãi như là một mô hình ứng dụng kinh tế vĩ mô do IMF phát triển; tập trung nhấn mạnh đến tiền tệ, cán cân thanh toán và các cân bằng tài khóa trong các chương trình kinh tế vĩ mô cho các nước đang phát triển với mục tiêu kiểm soát lạm phát và tăng dự trữ ngoại hối tiếp theo đó là tính toán khoản miễn trừ nợ và nhu cầu nhập khẩu cho tăng trưởng. Vì vậy, xây dựng một chương trình tài chính cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng là hết sức cần thiết. Khóa học “Chương trình tài chính và chính sách” được tổ chức tại Học viện Joint Vienna Institute với thời gian ngắn 02 tuần, là một chương trình cô đọng, giới thiệu tổng quan về cách thức xây dựng một chương trình tài chính cho mỗi quốc gia. \n\nXin gửi tới Bạn đọc "Báo cáo khóa học: CHƯƠNG TRÌNH TÀI CHÍNH VÀ CHÍNH SÁCH (JV11.08) được tổ chức Ngày 4/4 /2011 - 15/4/2011 tại Học viện Joint Vienna Institute, Quỹ tiền tệ quốc tế- Thành phố Viên, Áo" của tác giả Bùi Trang Dung-Chuyên viên Phòng Nghiên cứu tiền tệ - ngân hàng Trong nước để tham khảo.
I. Một số định nghĩa cơ bản
Một chương trình tài chính là một tập hợp toàn diện các biện pháp chính sách để đạt được một tập hợp các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã đề ra. Những mục tiêu này có thể đơn giản là để duy trì một mức độ thành công của nền kinh tế. Tuy nhiên, thông thường, các chính sách được đặt ra để giảm thiểu sự mất cân bằng giữa tổng cầu và tổng cung: các vấn đề về cán cân thanh toán, lạm phát cao, giảm sản lượng hoặc sản lượng thấp.
Khi những bất cân bằng kinh tế vĩ mô tồn tại, một vài dạng chỉnh sửa (điều chỉnh) là cần thiết để sắp xếp lại các nguồn lực sẵn có. Nếu những hành động chính sách thận trọng không được tiến hành từ sớm thì sự điều chỉnh có thể sẽ lộn xộn và không hiệu quả. Ví dụ, nếu dự trữ ngoại hối đã xuống mức rất thấp, các chủ nợ nước ngoài có thể sẽ không muốn cho vay thêm. Khi đó, sẽ xảy ra sự cắt giảm quyết liệt lượng hàng nhập khẩu. Sự khác biệt của chương trình tài chính với các chương trình khác là làm sao để đạt được sự điều chỉnh có thứ tự thông qua việc áp dụng các biện pháp chính sách hiệu chỉnh và các khoản tài trợ nước ngoài phù hợp.
Chương trình tài chính tập trung vào tầm quan trọng của các chính sách tiền tệ, tài khóa, tỷ giá để kiểm soát lượng cầu nội địa và hiệu chỉnh sự bất cân bằng trong cán cân thanh toán. Tuy nhiên, chương trình tài chính cũng kết hợp với hiệu ứng của các chính sách khác, nhất là các chính sách làm tăng tổng cung. Những biện pháp này giúp giảm thiểu những tổn thất trong sản lượng và việc làm trong suốt giai đoạn điều chỉnh, trong khi cuối cùng sẽ dẫn đến cán cân thanh toán bền vững.
Sự bền vững của cán cân thanh toán có được khi tài khoản vãng lai được cải thiện trong trung hạn. Mỗi quốc gia có thể có một hoàn cảnh khác nhau, nhưng nói chung, quan niệm về tài khoản nước ngoài bền vững có thể được xem là tài khoản mà: (1) lượng vốn vào đủ để có thể tài trợ trong thời gian dài; (2) đồng nhất với tăng trưởng hợp lý, ổn định giá cả và khả năng thực hiện nghĩa vụ trả lãi các khoản nợ trong cùng thời gian đó.
Một chương trình tài chính cần được thiết lập trong khung thời gian hướng đến tương lai. Kịch bản trong trung hạn có thể được hiểu là trong 5 năm tới. Cụ thể hơn, một chương trình tài chính được xây dựng một cách chi tiết đáng kể vì sự cần thiết phải tạo lập một gói chính sách toàn diện và sự sẵn có của các thông tin đáng tin cậy. Tuy nhiên, dự báo trong tương lai sẽ ít chi tiết hơn, mà thông thường sẽ tập trung đến các hàm ý rộng của việc điều chỉnh bên ngoài.
II. Khung chương trình tài chính
Chương trình tài chính được phân tích dựa trên một hệ thống tổng hợp các tài khoản kinh tế vĩ mô bao gồm: các tài khoản quốc gia, cán cân thanh toán, tài khoản tài khóa và tài khoản tiền tệ. Các tài khoản này cung cấp thông tin cần thết để đánh giá mức độ hiệu quả của nền kinh tế. Các tài khoản này cũng cung cấp một khuôn khổ cho phân tích chính sách và để kiểm tra sự thống nhất giữa các tài khoản, yếu tố kinh tế vĩ mô. Những mối quan hệ kế toán này làm nổi bật lên thực thế rằng bất kỳ khoản chi tiêu vượt quá thu nhập của một khu vực nào cũng sẽ được tài trợ bởi tiết kiệm của khu vực khác. Do đó, sự chi tiêu vượt quá thu nhập của một quốc gia chỉ thành hiện thực khi được tài trợ bởi các nguồn lực bên ngoài.
Một vấn đề đáng chú ý cho các nhà hoạch định chính sách là khuôn khổ kế toán phải được bổ sung bởi sự cụ thể hóa của một tập hợp các mối quan hệ hành vi. Những mối quan hệ hành vi chỉ ra phản ứng đặc trưng của một vài biến trong khuôn khổ kế toán để thay đổi các biến khác. Các mối quan hệ hành vi cùng với các đồng nhất thức được mô tả dưới dạng biểu đồ định lượng rút gọn, hoặc là “mô hình” của các quá trình kinh tế có liên quan đến nhau. Khuôn khổ này có thể được sử dụng để đáng giá sự thay đổi trong các biến chính sách – các biến dưới sự kiểm soát của các nhà cầm quyền – cần thiết để đạt được các mục tiêu chính sách. Xem xét tất cả các khu vực của nền kinh tế là cần thiết để cho phép bất kỳ một tác động trở lại nào của những thay đổi chính sách đều được ghi lại một cách thống nhất.
Việc xây dựng chương trình khó tránh khỏi những khó khăn và phụ thuộc vào những điều kiện không chắc chắn. Mặc dù các chương trình tài chính được xây dựng dựa trên giả định có một mối quan hệ tương đối ổn định giữa các biến tài chính và các biến mục tiêu cuối cùng như tăng trưởng, lạm phát và cán cân thanh toán, tuy nhiên các mối quan hệ hành vi cơ bản thường rất khó để định dạng chính xác. Chúng thường khác nhau ở các nước và qua thời gian phụ thuộc vào thể chế, chính trị và các nhân tố khác. Hơn nữa, khi có một thay đổi chính sách lớn và các cải cách cấu trúc được tiến hành, hành vi trong giai đoạn sau đó thường khác xa so với hành vi đó trong quá khứ. Do đó, các phân tích trở nên phức tạp hơn do các vấn đề về thời gian của các hiệu lực chính sách, tác động của kỳ vọng về các phản ứng hành vi và sự tương tác qua lại giữa các biện pháp trong một gói chính sách phức tạp. Cuối cùng, những thay đổi mang tính giả định trong các biến ngoại sinh có thể là không còn đúng.
1. Khu vực kinh tế thực (Real sector accounts)
a. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
- Cách tiếp cận sản xuất: GDP = tổng giá trị gia tăng
- Cách tiếp cận chi tiêu: GDP = Y = C + I + X – M = A + (X – M)
- Cách tiếp cận thu nhập: Y = wages + interest + rent + profits = lương + tiền lãi + tiền cho thuê + lợi nhuận
b. Tổng thu nhập khả dụng quốc dân (GNDI)
GNDI = GDP + YF + TRF = Tổng sản phẩm quốc nội + Các khoản thu nhập từ nước ngoài (thu nhập ròng + chuyển tiền ròng) = A + CAB
GNDI = C + S = Tiêu dùng + Tiết kiệm
S = GNDI – C = (C + I + X – M) + YF + TRF – C
= I + (X – M + YF + TRF) = I + CAB
S – I = CAB
Nếu S > I: thặng dư cán cân vãng lai
Nếu S < I: thâm hụt cán cân vãng lai
Có thể chia nền kinh tế trong nước thành hai khu vực: chính phủ (G) và phi chính phủ (P)
(GNDIG – CG – IG) + (GNDIP – CP – IP) = CAB
Hoặc: (GNDIG – AG) + (GNDIP – AP) = CAB
Như vậy:
nếu biết CAB và cán cân khu vực chính phủ có thể biết được cán cân khu vực phi chính phủ
để giảm thiểu thâm hụt CAB thì cần cắt giảm chi tiêu chính phủ, chi tiêu khu vực tư nhân hoặc/và tăng sản xuất khu vực tư nhân
tiết kiệm khu vực chính phủ thất hoặc tăng đầu tư chính phủ có thể gây ra CAB thấp hoặc thâm hụt CAB
c. GDP danh nghĩa, GDP thực và chỉ số điều chỉnh GDP
GDP danh nghĩa đo lường giá trị của tổng sản lượng nền kinh tế tại mức giá hiện thời.
GDP thực đo lường giá trị của tổng sản lượng nền kinh tế tại mức giá của một năm cố định.
Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator) = (GDP danh nghĩa/GDP thực) *100 đo lường tốc độ tăng giá của tất cả hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế
d. Đo lường lạm phát
Lạm phát là sự tăng lên liên tiếp của mặt bằng giá cả. Một số chỉ số giá đại diện cho lạm phát:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá bán buôn (WPI) hoặc chỉ số giá sản xuất (PPI)
Chỉ số điều chỉnh GDP (PGDP)
Lạm phát cơ bản phản ánh sự thay đổi cơ bản của mức giá chung, không bao gồm sự tăng giá một lần (ví dụ như những thay đổi trong thuế, hoặc tỷ giá…)
e. Thu nhập
Lương: tiền thu lao trực tiếp bằng tiền
Thu thập: Thu nhập bằng tiền + Chuyển tiền + Thu nhập khác
Tiền lương thực tế và tiền lương được tính toán dựa theo một chỉ số giá hợp lý (thông thường là CPI)
Trong dài hạn, tốc độ tăng của tiền lương thực tế phụ thuộc phần lớn vào tốc độ tăng của năng suất lao động. Nếu tốc độ tăng của tiền lương lớn hơn tốc độ tăng của năng suất lao động thì sẽ gây ra lạm phát.
f. Việc làm
Tỷ lệ thất nghiệp = số người ko có việc làm/tổng lượng lao động
Tỷ lệ làm việc = số người đi làm/tổng lượng lao động
Lưu ý: tình trạng việc làm đầy đủ khác với tỷ lệ thất nghiệp bằng 0
Đối với nền kinh tế chuyển đổi có thể dẫn đến thống kê không chính xác giữa những người công nhân không mong muốn đi làm và những người đi làm nhưng không được thống kê.
2. Cán cân thanh toán (BOP)
Cán cân thanh toán là một báo cáo thống kê mà tổng hợp một cách hệ thống các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú trong một khoảng thời gian.
a. Nguyên tắc xây dựng BOP:
Dựa trên nguyên tắc bút toán kép
Xác định người cư trú và người không cư trú
Khoảng thời gian mà BOP phản ánh và thời điểm lập BOP
Định giá
Đơn vị tính trong BOP
b. Hai dạng bảng BOP
Dạng chuẩn |
Dạng để phân tích |
Tài khoản vãng lai Tài khoản vốn Tài khoản tài chính - Đầu tư trực tiếp - Danh mục đầu tư + Nợ + Vốn chủ - Các dòng vốn đầu tư khác - Thay đổi dự trữ ngoại hối (NFA) Lỗi và sai sót |
Tài khoản vãng lai Đầu tư trực tiếp Dòng tiền tạo ra nợ - Danh mục đầu tư: Nợ - Các dòng vốn đầu tư khác Các khoản các ròng - Lỗi và sai sót Cán cân thanh toán tổng thể Tài trợ (- NFA)
|
Mục đích phân tích BOP: sử dụng những thông tin rất khác nhau trong các tài khoản của BOP để thông báo cho các nhà hoạch định chính sách về các vấn đề kinh tế liên quan. Các câu hỏi có thể được đặt ra như: liệu mức thâm hụt cán cân vãng lai hiện tại có ổn định và bền vững? lượng dự trữ ngoại hối hiện tại có đủ?...
c. Mối quan hệ giữa BOP và các khu vực/tài khoản khác trong chương trình tài chính
Khu vực kinh tế thực:
- Xuất khẩu, nhập khẩu
- CAB = S – I
- Tài khoản tài chính – tài trợ cho đầu tư và tiêu dùng
Tài khoản tài khóa:
- CAB = Cân đối ngân sách + (SP – IP)
- Tài khoản tài chính – tài trợ nước ngoài cho thâm hụt ngân sách
Tài khoản tiền tệ:
- Thay đổi trong dự trữ ngoại hối bằng thay đổi trong tổng tài sản có nước ngoài ròng của chính phủ
d. Phân tích cán cân vãng lai
Phân tích cán cân vãng lai để trả lời các câu hỏi: liệu cán cân vãng lai có thâm hụt quá lớn? quốc gia có thanh khoản hay không? Thâm hụt cán cân vãng lai có bền vững?
Tính thanh khoản tạm thời
- Nếu giá trị hiện tại đã được chiết khấu của cán cân vãng lai cơ bản (= cán cân vãng lai trừ khoản tiền trả lãi) trong tương lai đủ để trả cho các khoản nợ tích lũy hoặc duy trì tỷ lệ nợ/GDP không đổi.
- Nếu một quốc gia là nợ ròng thì cần phải có thặng dư cán cân vãng lai cơ bản
- Đòi hỏi dự báo cán cân vãng lai trong tương lai và các giả định về chính sách trong tương lai
Tính bền vững
- Thâm hụt cán cân vãng lai bền vững nếu điều kiện thanh khoản tạm thời của nó không bị vi phạm.
- Thâm hụt cán cân vãng lai cũng được xem là bền vững nếu vẫn có thể tiếp tục thực thi các chính sách hiện thời mà không cần một sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách để tránh một cuộc khủng hoảng.
Một số nhân tố tác động lên tính bền vững của cán cân vãng lai:
- Các nhân tố cấu trúc: tăng trưởng kinh tế, khoảng cách tiết kiệm và đầu tư, độ mở nền kinh tế và mô hình thương mại, độ lớn và độ phức tạp của các khoản nợ nước ngoài, cấu trúc tài chính, các nhân tố khác.
- Các nhân tố kinh tế vĩ mô: chính sách tiền tệ và tỷ giá, chính sách tài khóa, dòng vốn, hội chứng vay nợ quá nhiều.
3. Tài khoản tài khóa
a. Các thành phần chính của tài khoản tài khóa
Các khoản thu và các khoản nhận viện trợ
- Thu từ thuế: bắt buộc và không phải bồi hoàn do chính phủ thu vì các mục đích công.
- Thu ngoài thuế: bao gồm các thặng dư hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước, lợi nhuận của NHTW, thu nhập từ tài sản, chi phí quản trị, tiền phải trả, tiền phạt…
- Các khoản nhận viện trợ: các khoản thu không phải bồi hoàn từ các tổ chức/chính phủ khác
Chi tiêu chính phủ - phân theo ý nghĩa kinh tế:
- Chi thường xuyên: lương thưởng, hàng hóa dịch vụ, chi trả lãi, trợ cấp và chuyển tiền vãng lai
- Chi vốn: thu từ tài sản cố định (đầu tư của chính phủ); chuyển vốn
- Vay ròng (dư nợ - trả nợ gốc): chính phủ vay cho các mục tiêu chính sách công, theo quy định mới về hệ thống kế toán toàn cầu, thì khoản vay ròng này được xem như một phần của tài trợ
Tài trợ: khoản tiền tài trợ cho thâm hụt ngân sách, có một số cách để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, song điểm bất lợi của từng loại này là:
- Tài trợ nước ngoài: làm tăng thêm nợ nước ngoài, ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối
- Tài trợ trong nước:
+ Nếu từ NHTW: việc in thêm tiền có thể gây ra lạm phát
+ Nếu từ khu vực ngân hàng: phụ thuộc xem liệu các NHTM có sử dụng trái phiếu chính phủ để vay tiền của NHTW hay không?
+ Nếu từ khu vực phi ngân hàng: có thể dẫn tới tăng mặt bằng lãi suất, tăng gánh nặng nợ trong nước, các ràng buộc trong tương lai
- Hoãn trả: làm xói mòn niềm tin vào chính phủ
b. Phân tích doanh thu
Phân tích chung:
- Tỷ lệ tổng doanh thu/GDP, tỷ lệ thu thuế/GDP?
- Liệu doanh thu có theo kịp nền kinh tế?
Đánh giá việc thu thuế:
- Phương pháp chuẩn đoán Tanzi: Xem xét các khía cạnh:
+ Tính tập trung: ít thuế và thuế suất?
+ Tính phân tán: ít thuế không hiệu quả?
+ Tính xói mòn: các khoản chịu thuế đã tiến đến gần mức tiềm năng?
+ Tính chậm trễ trong thu thuế: có kéo dài hay không?
+ Tính cụ thể: có rất nhiều thuế suất cụ thể?
+ Tính khách quan: các khoản thuế áp dụng cho các khoản chịu thuế được đo lường một cách khách quan
+ Tính thực thi: liệu hệ thống thuế có được thực thi đầy đủ và hiệu quả?
+ Chi phí thu thuế: thấp hay cao?
- Độ co giãn và khả năng phục hồi: phụ thuộc vào cấu trúc thuế, quản trị và sự phục tùng thuế
+ Độ co giãn: = %AT/%TB
+ Khả năng phục hồi: = %T/%GDP
AT: thuế thu đã được điều chỉnh
TB: cơ sở tính thuế (các khoản chịu thuế)
T: thuế
c. Phân tích chi tiêu
Cấu trúc và cấu tạo của chi tiêu
Tỷ lệ chi ngân sách/GDP: tổng, thường xuyên, vốn, chi lãi
Ảnh hưởng của tỷ giá và lãi suất lên tổng chi
Các khoản chi “hiệu quả” và “không hiệu quả”
d. Phân tích tài trợ
Phân tích tính bền vững của các khoản tài trợ cho ngân sách: khi tăng nợ tăng nghĩa vụ trả lãi lại làm tăng thêm thâm hụt ngân sách tiếp tục vay nợ.
Điều kiện bền vững: lãi suất thực nhỏ hơn tốc độ tăng trưởng thực của nợ
4. Tài khoản tiền tệ
a. NHTW và Bảng cân đối tiền tệ NHTW
Chức năng của NHTW
- Phát hành tiền
- Nắm giữ dự trữ quốc gia
- Đóng vai trò là NH của chính phủ
- Giám sát hệ thống tiền tệ
- Đóng vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế
Bảng cân đối tiền tệ của NHTW
Tài sản có |
Tài sản nợ |
Tài sản có nước ngoài ròng (NFA) Tài sản có trong nước ròng (NDA) Cho vay trong nước (NDC) Cho vay chính phủ ròng (NCG) Cho vay TCTD ròng (CDMB) Cho vay các khu vực kinh tế khác (CPS) Các khoản khác ròng (OIN) |
Tiền dự trữ (RM) Tiền trong lưu thông Tiền trong hệ thống NH Tiền ngoài hệ thống NH Tiền gửi của các TCTD |
b. Các TCTD và Bảng cân đối tiền tệ TCTD
Chức năng của NHTM
- Cung cấp các dịch vụ trung gian tài chính cho người gửi tiền và nhà đầu tư
- Hành vi của các TCTD ảnh hưởng đến tổng cung tiền và thanh khoản thông qua các chính sách cho vay và nhận tiền gửi
- Hoạt động trong sự cho phép của NHTW, các TCTD giúp truyền tải CSTT từ NHTW ra nền kinh tế.
Bảng cân đối tiền tệ của NHTM
Tài sản có |
Tài sản nợ |
Tài sản có nước ngoài ròng (NFA) Dự trữ Dự trữ vượt quá Dự trữ bắt buộc Tín dụng ra nền kinh tế Cho vay chính phủ Cho vay các khu vực kinh tế khác Các khoản khác ròng (OIN) |
Tiền gửi Tiền gửi thanh toán (DD) Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm (TD) Tiền gửi ngoại tệ (FC) Khoản nợ với NHTW Các tài sản nợ kém thanh khoản khác |
c. Bảng cân đối tiền tệ toàn ngành
Định nghĩa: Bảng cân đối tiền tệ toàn ngành là bảng cân đối tiền tệ hợp nhất của toàn hệ thống ngân hàng bao gồm bảng cân đối tiền tệ của NHTW và các bảng cân đối tiền tệ của các TCTD.
Mục tiêu của bảng cân đối tiền tệ toàn ngành: cho biết nhanh nhất số liệu về sự phát triển của tiền tệ và tín dụng của toàn hệ thống NH, mà cho phép nhà hoạch định chính sách kiểm soát sự phát triển này và điều chỉnh CSTT nếu cần thiết.
Bảng cân đối tiền tệ toàn ngành
Tài sản có |
Tài sản nợ |
Tài sản có nước ngoài ròng (NFA) Tài sản có trong nước ròng (NDA) Cho vay trong nước (NDC) Cho vay chính phủ ròng (NCG) Cho vay ra nền kinh tế (CPS) Các khoản khác ròng (OIN) |
Tiền rộng Tiền hẹp (M1) Tiền trong lưu thông (CY) Tiền gửi thanh toán (DD) Tài sản như tiền (QM) Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm (TD) Tiền gửi ngoại tệ (FC) |
Mối quan hệ với các tài khoản khác
- Cán cân thanh toán: NFA = - IR = CAB + FI
- Tài khoản tài khóa: NCG = Tài trợ ngân sách từ khu vực ngân hàng
- Tài khoản quốc gia: CPS liên quan đến tăng trưởng GDP, tiêu dùng khu vực tư nhân, đầu tư tư nhân…
d. Cầu về tiền
Cầu về tiền là cầu thực về tiền diễn tả lượng hàng hóa mà tiền có thể mua. Lý thuyết về cầu tiền được xây dựng nên dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích của việc nắm giữ tiền và chi phí lãi suất mà nó bỏ qua.
Hàm cầu tiền thực phụ thuộc vào thu nhập thực, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền (lãi suất thực, lạm phát kỳ vọng), và các nhân tố khác (tỷ giá, nhân tố cấu trúc…)
ln(M) = c + ln(P) + 0ln(RGDP) + 0i
i = r + e
M: khối lượng tiền (M1 hoặc M2); RGDP: GDP thực
i: lãi suất danh nghĩa; r: lãi suất thực
: tỷ lệ lạm phát
e. Lý thuyết khối lượng tiền và vòng quay tiền tệ
M.V = P.Y
M: khối lượng tiền; Y: sản lượng thực
P: mức giá V: vòng quay tiền tệ, hay số lần M quay trở lại để đáp ứng một lượng giá trị là P.Y
dM/M + dV/V = dP/P + dY/Y
Nếu V không đổi (dV/V =0) thì dM/M = dP/P + dY/Y
Giữa Vòng quay tiền tệ và cầu về tiền có mối quan hệ ngược chiều nhau:
- tăng cùng với tăng lạm phát kỳ vọng
- tăng cùng với tăng lợi nhuận thực của các kênh đầu tư khác
- có thể tăng/giảm cùng với thu nhập, tùy thuộc vào co giãn của thu nhập và cầu tiền
- có thể làm tăng/giảm cùng với kỳ vọng phá giá nội tệ
- giảm cùng với giảm việc in tiền và độ sâu tài chính
- giảm cùng với tự do hóa các dòng vốn
Ước lượng sai vòng quay tiền tệ có thể phải trả giá nếu:
- ước lượng thấp sẽ dẫn đến tăng cung tiền áp lực lạm phát và/hoặc giảm dự trữ ngoại hối
- ước lượng cao sẽ dẫn đến thắt chặt tiền tệ giảm sản lượng hoặc tăng dòng vốn vào vì lãi suất ngắn hạn cao
f. Quá trình tạo tiền
Tiền dự trữ (RM) = CY + R – M1 = CY + DD
R: lượng tiền dự trữ tại NHTW
Số nhân tiền là tỷ lệ giữa khối lượng tiền và tiền dự trữ
mm = M1/RM = (CY + DD)/(CY + R)
chia cả 2 vế cho DD:
mm = (c + 1)/(c + r)
với c = CY/DD và r = R/DD
g. Các nhân tố tác động lên tổng cung tiền
III. Các bước dự báo kinh tế
Quá trình dự báo dựa trên mối quan hệ giữa các tài khoản, đây là một quá trình lặp và đảm bảo là một chương trình thống nhất. Vì vậy, bước đầu tiên là phải xây dựng một phương án cơ sở (baseline scenario), với các giả định giữ nguyên gói chính sách hiện tại. Phương án cơ sở lập ra sẽ chỉ ra liệu các vấn đề đang tồn tại có tự nó giải quyết được khổng hay vẫn tiếp tục tồn tại hoặc trở nên xấu hơn.
Các phương án cơ sở có thể rất khác nhau vì nhiều lý do. Chúng bao gồm sự khác biệt trong các giả định về các biến ngoại sinh, trong sự hiểu về việc giữ nguyên gói chính sách hiện tại, và trong việc sử dụng các phương pháp khác nhau để dự báo các mối quan hệ hành vi quan trọng. Cần đặc biệt lưu ý là trong quá trình xây dựng phương án cơ sở cần phải kiểm tra kỹ lưỡng sự thống nhất của cả chương trình.
Phương án cơ sở cung cấp một tiêu chuẩn phương án chính sách chuẩn tắc một cách chi tiết. Phương án này có thể dựa trên một gói chính sách rõ ràng để đạt được một nhóm các mục tiêu kinh tế vĩ mô mong muốn. Do vậy, so sánh giữa phương án cơ sở và phương án chính sách cho biết tác động có thể có của gói chính sách mới nếu được ban hành.
Một số lựa chọn chính sách và tài trợ:
- Chính sách quản lý cầu hướng tới kiềm chế cầu trong nước khi có thâm hụt tài khoản vãng lai nước ngoài hoặc/và khi có áp lực lạm phát. Chính sách này bao gồm các chính sách về tiền tệ, tài khóa và thu nhập, nhưng những chính sách khác như ổn định giá cả, thay đổi tỷ giá cũng có thể làm thay đổi thành tố tiêu dùng.
- Chính sách khuyến khích người tiêu dùng dùng hàng nội địa thông qua chính sách tỷ giá.
- Các chính sách cấu trúc hướng tới tăng cung để giảm khoảng cách giữa hấp thụ và sản lượng như: phân bổ nguồn lực sẵn có hiệu quả hơn; mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế.
- Khả năng nhận tài trợ từ bên ngoài phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như mức độ tín nhiệm quốc gia, khả năng thu hút vốn, xem xét khả năng trả nợ, hiệu quả sử dụng vốn … Như vậy, việc quản lý các khoản nợ nước ngoài trở thành một phần rất quan trọng của chương trình tài chính.
Các bước tiến hành lập một chương trình tài chính
IV. Kết luận
Chương trình tài chính là một chương trình tổng hợp do IMF xây dựng và phát triển thực tế đã mang lại nhiều lợi ích cho các nhà hoạch định chính sách ở nhiều quốc gia (đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi) trong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô và cải cách cấu trúc nền kinh tế theo hướng thị trường. Hơn thế, các phân tích này cũng là cơ sở để các nhà tài trợ đánh giá về tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và để các chính phủ quốc gia đó quyết định xem liệu có cần đến sự tài trợ từ bên ngoài hay không?
Tuy nhiên, cần rất nhiều yếu tố để xây dựng được một chương trình tài chính thành công cho mỗi quốc gia phụ thuộc vào các vấn đề đang tồn tại và độ phức tạp của nền kinh tế, sự sẵn có của số liệu, quyết tâm của các nhà hoạch định chính sách, đội ngũ chuyên gia phân tích… Bên cạnh đó chương trình này vẫn còn một số hạn chế và mở ra nhiều câu hỏi mở như: làm sao để giảm lạm phát và thâm hụt ngân sách nhanh nhất? làm sao để thiết kế được một chương trình mang lại tăng trưởng cao trong trung hạn? làm sao đảm bảo sự ổn định không tác động xấu đến người nghèo? có thể đơn giản hóa mô hình nữa được không?...
V.Tài liệu tham khảo
Bài giảng khóa học “Chương trình tài chính và chính sách”, Học viện Joint Vienna Institute, IMF