Hệ số tín nhiệm quốc gia là chỉ số phản ánh nhận định của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm về khả năng và sự sẵn sàng của chính phủ trong việc thực hiện các nghĩa vụ nợ một cách đầy đủ và đúng hạn. Việc cải thiện mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia là thông điệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp các nhà đầu tư có nhìn nhận tích cực hơn về Việt Nam, đồng thời nâng cao uy tín của quốc gia và góp phần làm giảm chi phí huy động vốn trong trường hợp Chính phủ Việt Nam, các tổ chức tín dụng hay các doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn quốc tế. Do vậy, làm thế nào để nâng hạng tín nhiệm quốc gia là mục tiêu trọng tâm trong kế hoạch hành động của ngành ngân hàng trong việc thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 28/4/2016 và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp năm 2016-2017.
Hàng năm, mỗi khi các tổ chức XHTN quốc gia sang Việt Nam để đánh giá tình hình kinh tế xã hội, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan tiếp đón, làm việc và triển khai các nhiệm vụ phục vụ công tác đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Cùng với nỗ lực nâng cao chất lượng quan hệ hợp tác với các tổ chức XHTN, những thành tựu kinh tế xã hội nước ta đạt được trong một vài năm gần đây cũng ghi nhận và phản ánh thông qua hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từng bước được cải thiện. Sau nhiều năm hạ bậc hoặc duy trì hệ số tín nhiệm của Việt Nam, trong năm 2014, tổ chức XHTN Fitch và Moody’s đã nâng XHTN của Việt Nam lên 1 bậc lần lượt ở mức B1/triển vọng Ổn định và BB-/triển vọng Ổn định trên cơ sở đánh giá nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam đang trên đà ổn định, cán cân thanh toán và vị thế đối ngoại được cải thiện, môi trường hoạt động của khu vực ngân hàng dần bình ổn. Từ năm 2014 đến nay, theo đánh giá của các tổ chức XHTN danh tiếng này, hệ số tín nhiệm của Việt Nam vẫn được giữ nguyên mà không bị hạ bậc.
Để đạt được kết quả như vậy là sự nỗ lực quyết tâm của toàn ngành ngân hàng nói chung và các tổ chức tín dụng nói riêng. Nỗ lực của toàn ngành ngân hàng thể hiện ở một số kết quả như: Áp dụng tỷ giá trung tâm trong cách thức điều hành tỷ giá mới góp phần ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; NHNN đã triển khai quyết liệt các biện pháp xử lý các TCTD yếu kém theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời bảo đảm duy trì sự an toàn của hệ thống các TCTD. Các TCTD yếu kém đã được kiểm soát và xử lý triệt để, đến nay đều có tình hình hoạt động ổn định và cải thiện hơn nhiều so với thời điểm bắt đầu thực hiện tái cơ cấu lại. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng hiện nay vẫn duy trì ở mức an toàn, bền vững (dưới 3% tổng dư nợ); Thanh khoản của hệ thống ngân hàng duy trì trạng thái dư thừa trong 10 tháng qua; Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ là công cụ định hướng chính sách hữu hiệu, góp phần cải thiện ổn định kinh tế vĩ mô và môi trường lạm phát trong vòng 2 năm qua.
Bên cạnh đó, với sự quyết tâm của Chính phủ trong việc triển khai Nghị quyết 19 và Nghị quyết 35, Ngành Ngân hàng đã xây dựng Kế hoạch hành động theo Quyết định 1355/QĐ-NHNN ngày 28/6/2016, đồng thời các đơn vị trong toàn hệ thống đã xây dựng chương trình hành động trên cơ sở bám sát nhiệm vụ được giao; trong đó xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể với tiến độ, lộ trình trong ngắn, trung và dài hạn. Trong số những nhiệm vụ, giải pháp của Kế hoạch hành động ngành ngân hàng, giải pháp nhằm góp phần nâng cao XHTN quốc gia là giải pháp ưu tiên hàng đầu của ngành, điển hình như: (i) Thực hiện công khai, minh bạch thông tin, cụ thể: Chủ động công bố các báo cáo đánh giá định kỳ về lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng ra công chúng, đặc biệt quan tâm đến việc công bố các chỉ số mà các công ty XHTN quốc gia quan tâm; Tăng cường công tác quảng bá, gặp gỡ song phương với các nhà đầu tư, các tổ chức quốc tế để thu hút nguồn lực từ bên ngoài; Tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về chủ trương, đường lối, chính sách quản lý điều hành của Chính phủ và NHNN nhằm góp phần tạo sự đồng thuận trong nước và quốc tế; (ii) Tăng cường phối hợp giữa NHNN và các cơ quan liên quan trong công tác thực hiện đánh giá XHTN quốc gia (tổ chức quảng bá, cung cấp thông tin, tổ chức các buổi làm việc, gặp gỡ với chuyên gia tư vấn và các tổ chức XHTN…). Chủ động đề xuất, tiếp nhận hỗ trợ tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm duy trì tiếp xúc với các tổ chức XHTN quốc gia.
Ngay sau khi ban hành Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng, Phó Thống đốc Đào Minh Tú và đoàn công tác của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có buổi làm việc tại một số TCTD điển hình gồm NHTMCP Công thương (VietinBank), NHTMCP Quân đội (MB) để kiểm tra tình hình triển khai kế hoạch hoạt động ngành ngân hàng theo Nghị Quyết 19 và Nghị quyết 35 của Chính phủ. Tại buổi làm việc, Phó Thống đốc Đào Minh Tú đánh giá cao những nỗ lực của Vietinbank và MB trong việc tích cực triển khai chủ trương, chỉ đạo của NHNN bằng những hành động thực hiện cụ thể, thiết thực và thực hiện kế hoạch hành động đã có những kết quả đáng ghi nhận. Các TCTD đã triển khai nghiêm túc hướng tới mục tiêu tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng cũng như các sản phẩm, dịch vụ đa dạng của ngân hàng hiện đại với chi phí hợp lý nhất; Thường xuyên rà soát áp dụng các biện pháp khai thác nguồn vốn, quản lý chất lượng tăng trưởng, tiết giảm chi phí làm cơ sở điều chỉnh giảm lãi suất cho vay. Qua đó, có thể thấy rằng việc các TCTD thực hiện tốt Nghị quyết 19, 35 của Chính phủ sẽ góp phần tích cực vào việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp nhằm thực hiện quyết tâm cao của Chính phủ trong thời gian tới. Kết quả của sự nỗ lực này của các TCTD thể hiện ở thời gian vừa qua (ngày 19/10/2016), tổ chức XHTN Moody’s đã công bố xếp hạng 9 ngân hàng Việt Nam, trong đó nâng mức xếp hạng tín dụng dài hạn cho NHTM Quân Đội (MB) từ Caa1 lên B2, NHTMCP Sài Gòn-Hà Nội (SHB) từ Caa1 lên B3 và triển vọng của hai ngân hàng ở mức ổn định nhờ các chỉ số tài chính cơ bản được cải thiện ổn định như khả năng thanh toán, chất lượng tài sản. Bên cạnh đó, Moody’s cũng nâng mức xếp hạng tín dụng dài hạn của 5 ngân hàng khác thêm 1 bậc, bao gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Quốc tế Việt Nam (VIB), Ngân hàng An Bình (ABBank), Ngân hàng Á châu (ACB) và Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) từ B3 lên B2 bởi sự cải thiện tình hình tài chính của các ngân hàng này bất chấp môi trường kinh doanh và các yếu tố kinh tế vĩ mô chưa cải thiện nhiều. Moody’s cho biết động thái này phản ánh kỳ vọng rằng môi trường kinh tế và kinh doanh của các ngân hàng được cải thiện ở Việt Nam sẽ dẫn đến sự cải thiện hồ sơ tín dụng, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời của các ngân hàng, đồng thời đóng góp cho sự ổn định tương đối về nguồn vốn và thanh khoản của các ngân hàng.
Như vậy, với sự quyết tâm cao của Chính phủ và toàn ngành ngân hàng trong việc cải thiện chỉ số xếp hạng tín nhiệm quốc gia nhằm triển khai nhiệm vụ trọng tâm tại Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP và Nghị quyết số 35/NQ-CP đã bước đầu đạt được các kết quả đáng ghi nhận. Ngân hàng Nhà nước luôn luôn đề cao các buổi làm việc với các tổ chức XHTN và đón tiếp rất chu đáo, bố trí đúng cán bộ có thẩm quyền trao đổi các vấn đề mà các tổ chức XHTN quốc gia đề xuất và cung cấp kịp thời các thông tin, số liệu theo yêu cầu trên tinh thần chủ động, minh bạch. Trong thời gian tới, để cải thiện chỉ số xếp hạng tín nhiệm quốc gia, ngoài những giải pháp từ ngành ngân hàng cần bám sát phương pháp, cách tính điểm của chỉ số xếp hạng tín nhiệm quốc gia, cần có sự phối hợp triển khai đồng bộ của các Bộ, ngành trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ và thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp.
Lê Thùy, Phòng Quản lý dữ liệu và phát triển sản phẩm thống kê, Vụ Dự báo thống kê