Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Tạp chí Ngân hàng

Chính sách tín dụng đối với hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam (số 24)

14/02/2017 18:11:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Chính sách tín dụng đối với hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam

TS. Nguyễn Thùy Dương – Học viện Ngân hàng

 

Ngay từ những năm cuối của thập niên 90, bên cạnh những chính sách tín dụng chung cho nền kinh tế, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 về chính sách tín dụng riêng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và tiếp đó, đã được thay thế bằng Nghị định 41/2010/NĐ-CP, đến nay là Nghị định 55/2015/NĐ-CP. Đặc biệt từ năm 2011, thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ về phát triển 5 ngành kinh tế ưu tiên, NHNN đã đưa ra nhiều chính sách nhằm thúc đẩy tín dụng, chuyển đổi dần cơ cấu tín dụng theo hướng các ngành nghề ưu tiên và giảm thiểu các ngành nghề phi sản xuất, từ đó thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hệ thống ngân hàng. Trong đó, đối tượng hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới là một đối tượng rất được quan tâm, thể hiện qua các chính sách tín dụng được ban hành và áp dụng trong thời gian qua. Bài viết này nhằm khái quát những chính sách tín dụng đối với hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới và đánh giá những thành công, hạn chế của những chính sách tín dụng đó.

 

1. Thực trạng chính sách tín dụng đối với hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

1.1. Chính sách đối với các tổ chức tín dụng cấp tín dụng cho hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới Việt Nam

(i) Khuyến khích các tổ chức tín dụng cấp tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Chính sách hỗ trợ các ngành nghề ưu tiên đồng bộ với đề án “xây dựng nông thôn mới” của Chính phủ do các lĩnh vực ưu tiên tập trung vào quá trình cơ cấu nông nghiệp, trong đó đẩy mạnh cấp tín dụng các dự án sản xuất ứng dụng công nghệ cao, đẩy mạnh xuất khẩu. Đặc biệt ưu tiên các vấn đề cho vay theo chuỗi liên kết, tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm công nghiệp, từ đó tạo hiệu quả thực hiện đề án “xây dựng nông thôn mới”. Trong quá trình thực hiện chủ trương của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành, chính quyền địa phương, các hiệp hội ngành nghề nhằm tháo gỡ khó khăn trong công tác cấp tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, hội đồng nhân dân các cấp nhằm xác định đối tượng đủ tiêu chuẩn cấp tín dụng; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhằm có định hướng và mức hỗ trợ cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực; phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện chính sách tái cấp vốn, chính sách bù lãi suất cho các tổ chức tín dụng tham gia. (Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Chính sách hỗ trợ các tổ chức tín dụng cho vay lĩnh vực ưu tiên

Chính sách

Văn bản

Hỗ trợ vốn cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để đảm bảo nguồn vốn cho dự án tái canh cây cà phê

Văn bản 3228/NHNN/TD

Cấp bù lãi suất cho các tổ chức tham gia hỗ trợ tín dụng ngành đánh bắt thủy hải sản

Thông tư 114/2014/TT-BTC

Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu xây dựng để triển khai Chương trình thí điểm các mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp

Nghị quyết số 14/NQ-CP

Hỗ trợ các TCTD có tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn lớn (từ 40% trở lên) thông qua tái cấp vốn và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Thông tư số 10/2015/TT-NHNN

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

 

(ii) Hỗ trợ nguồn vốn cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay nông nghiệp, nông thôn

Nghị định số 41/2010/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 12/4/2010 và Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ban hành ngày 9/6/2015 thay thế cho Nghị định 41 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đã khẳng định rất rõ: Chính phủ có chính sách khuyến khích, hỗ trợ về nguồn vốn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, chính sách xử lý rủi ro phát sinh trên diện rộng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và các chính sách cụ thể khác trong từng thời kỳ. Cụ thể là:

Thứ nhất, giảm dự trữ bắt buộc. Ngày 22/7/2015, NHNN ban hành Thông tư 10/2015/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, trong đó nhấn mạnh NHNN thực hiện hỗ trợ nguồn vốn cho các NHTM thực hiện cung ứng vốn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn bằng cách giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, qua đó giúp các tổ chức tín dụng có thể tăng nguồn vốn khả dụng cho hoạt động kinh doanh. Đây được coi là một biện pháp trực tiếp và có tác dụng hỗ trợ nguồn vốn cho vay khu vực nông nghiệp, nông thôn một cách hiệu quả và nhanh chóng.

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước bảo đảm việc cho vay tái cấp vốn và bù chênh lệch lãi suất. Các ngân hàng, tổ chức tài chính thực hiện cho vay các đối tượng chính sách, các chương trình kinh tế của Chính phủ ở nông thôn, được Chính phủ bảo đảm nguồn vốn cho vay từ ngân sách chuyển sang hoặc cấp bù chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng. Hỗ trợ các NHTM có tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn lớn (từ 40% trở lên) thông qua hình thức tái cấp vốn nhằm mở rộng nguồn vốn cho vay và có điều kiện hạ lãi suất huy động đầu vào, từ đó hạ lãi suất cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Các bộ, ban, ngành có liên quan đã ban hành nhiều chính sách về hỗ trợ nguồn vốn cho các tổ chức cung ứng tín dụng cho các ngành cụ thể, ví dụ Thông tư 114/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành quy định chi tiết về cấp bù lãi suất cho các tổ chức tham gia hỗ trợ tín dụng ngành đánh bắt thủy hải sản, tạo điều kiện thuận lợi về nguồn vốn và trực tiếp hỗ trợ nguồn vốn cho các NHTM thực hiện cho vay đánh bắt thủy hải sản và các lĩnh vực ưu tiên theo định hướng của chính phủ khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Thứ ba, quy định riêng về tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro và tỷ lệ khấu trừ tài sản bảo đảm đối với cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Thông tư 10/2015/TT-NHNN quy định cụ thể đối với khoản cho vay không có tài sản bảo đảm quy định tại Điều 14 và Điều 15 của Nghị định 55/2015/NĐ-CP, tổ chức tín dụng được áp dụng mức trích lập dự phòng rủi ro tối thiểu bằng 50% mức trích lập dự phòng rủi ro theo quy định hiện hành đối với các khoản cho vay tương tự thuộc các lĩnh vực khác. Đối với khoản cho vay có tài sản bảo đảm, NHNN quy định tỷ lệ khấu trừ đối với tài sản bảo đảm của các khoản cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tối đa bằng 100% so với tỉ lệ khấu trừ tối đa đối với từng loại tài sản bảo đảm tương ứng của khoản cho vay lĩnh vực khác.

1.2. Chính sách đối với các hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

Để thúc đẩy tín dụng nông nghiệp, nông thôn, bên cạnh các chính sách đối với tổ chức cấp tín dụng, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các ban, ngành có liên quan cũng đặc biệt quan tâm đến việc ban hành các chính sách đối với hộ gia đình nói chung và các hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới nói riêng. Quyết định 69/1999/QĐ-TTg về chính sách tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn được thay thế và nâng tầm lên Nghị định, cụ thể là NĐ41 và NĐ55 đã thể hiện sự đổi mới trong nhận thức quản lý của Chính phủ nhằm đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành về phát triển nông nghiệp, nông thôn. Những nghị định mới này đã đưa ra những quy định cụ thể ưu đãi hơn đối với hộ gia đình về nguồn vốn cho vay, cơ chế đảm bảo tiền vay, thời hạn cho vay, cơ cấu lại thời hạn nợ và cho vay mới, lãi suất cho vay, trích lập dự phòng rủi ro, xử lý rủi ro và bảo hiểm nông nghiệp.

(i) Mở rộng đối tượng được vay vốn

So với Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999, NĐ 41 quy định cụ thể và chi tiết các đối tượng được vay vốn, lĩnh vực vay vốn phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó, điều kiện đáng lưu ý là các đối tượng này phải cư trú và có cơ sở hoặc dự án sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn. Sau đó, NĐ 55 tiếp tục mở rộng và bổ sung đối tượng được vay vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình sinh sống trên địa bàn thành phố, thị xã nhưng tham gia sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và đối tượng khách hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng nằm ngoài khu vực nông thôn, ngoại trừ doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, doanh nghiệp khai khoáng, các cơ sở sản xuất thủy điện, nhiệt điện và một số loại hình doanh nghiệp khác.

(ii) Nâng mức cho vay

Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 và Quyết định số 148/1999/QĐ-TTg ngày 07/7/1999 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 quy định mức cho vay không có TSBĐ rất nhỏ chỉ 10 triệu đồng. Tuy nhiên, quy định về mức cho vay này trong các chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn mới ban hành được tăng lên đáng kể.NĐ 41 quy định 3 mức cho vay là 50 triệu, 100 triệu, 500 triệu. Trong NĐ 55, mức cho vay không có tài sản bảo đảm tăng gấp 1,5-2 lần so với quy định tại NĐ 41, NĐ 55 quy định 8 mức cho vay. Đồng thời, NĐ 55 cũng quy định mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với một số lĩnh vực đặc thù có nhu cầu vốn lớn trong sản xuất nông nghiệp như đầu tư cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, nuôi trồng, khai thác thủy sản xa bờ, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá... cao hơn các lĩnh vực khác.

(iii) Cơ chế bảo đảm tiền vay

Trước đây, NĐ 41 yêu cầu các đối tượng được vay không có bảo đảm bằng tài sản phải có giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất (đối với các đối tượng được cấp GCN quyền sử dụng đất) hoặc được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận chưa được cấp GCN quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp. TCTD xem xét cho vay tín chấp đối với đối tượng là khách hàng cá nhân, hộ gia đình trên cơ sở có bảo đảm của các tổ chức chính trị - xã hội ở nông thôn theo quy định hiện hành. NĐ 55 giảm thiểu một số lệ phí cho hộ gia đình nông dân trong việc đáp ứng điều kiện vay, cụ thể, các cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại tổ chức tín dụng không phải nộp các lệ phí sau: lệ phí chứng thực hợp đồng thế chấp tài sản tại cơ quan thực hiện chứng thực hợp đồng; lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm.

(iv) Xử lý rủi ro trong cho vay nông nghiệp, nông thôn

Thông tư số 10/2015/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về xử lý rủi ro đối với các khoản vay nông nghiệp, nông thôn bao gồm cơ cấu lại thời hạn nợ, cho vay mới, hồ sơ, trình tự thủ tục khoanh nợ, xóa nợ; tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với tài sản bảo đảm của khoản cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/ NĐ-CP.

Cùng với đó, Thông tư quy định tỷ lệ khấu trừ đối với tài sản bảo đảm của các khoản cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tối đa bằng 100% so với tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với từng loại tài sản bảo đảm tương ứng của khoản cho vay lĩnh vực khác. Đồng thời, quy định về các thủ tục, hồ sơ đề nghị xóa nợ đối với trường hợp khách hàng là tổ chức đầu mối thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị và doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được áp dụng các biện pháp hỗ trợ, được khoanh nợ mà vẫn gặp khó khăn, không có khả năng trả nợ, cần xử lý xóa nợ theo quy định tại Nghị định 55/2015/NĐ-CP.

(v) Bảo hiểm nông nghiệp

Điều 16 NĐ 55 quy định: Khách hàng khi tham gia mua bảo hiểm đối với đối tượng sản xuất nông nghiệp hình thành từ nguồn vốn vay, được TCTD giảm lãi suất cho vay mức tối thiểu 0,2%/năm so với lãi suất của các khoản cho vay cùng loại (NĐ 41 trước đây không ấn định mức miễn, giảm lãi đối với khách hàng). Quy định cụ thể này nhằm khuyến khích hộ gia đình vay vốn mua bảo hiểm nông nghiệp vừa để phòng chống rủi ro trong kinh doanh, vừa được hưởng lợi về lãi suất vay vốn.

(vi) Điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên (có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn)

Kể từ Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, Ngân hàng Nhà nước đã nhiều lần giảm lãi suất điều hành, tiến hành bơm hút vốn qua nghiệp vụ thị trường mở nhằm đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống, tạo điều kiện cho hệ thống tổ chức tín dụng giảm dần lãi suất huy động và cho vay, đặc biệt đối với một số ngành ưu tiên khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Đến nay, mức lãi suất cho vay tối đa chỉ còn 9%/năm nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ thị trường đặc biệt lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Từ đầu năm 2013 đến nay, lãi suất cho vay đã giảm từ 2 - 3%/năm. Chính sách này được đánh giá là hợp lý, kịp thời và hiệu quả và đặc biệt thể hiện đúng với mong muốn của các hộ gia đình vay vốn khu vực nông nghiệp, nông thôn.

(vii) Chính sách tín dụng khuyến khích phát triển mô hình chuỗi liên kết và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp

So với các chính sách trước, NĐ 55 có thêm quy định riêng về chính sách tín dụng khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết và sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (Điều 14, 15). Đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ký hợp đồng cung cấp, tiêu thụ đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp hoặc có dự án, phương án SXKD trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mức cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị dự án, phương án cho vay theo mô hình liên kết, hoặc theo hợp đồng chuyển giao công nghệ. Đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đầu mối ký hợp đồng thực hiện dự án liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được TCTD xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tối đa bằng 80% giá trị của dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo mô hình liên kết; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Những ưu đãi cụ thể về giá trị khoản vay, về lãi suất và thủ tục vay vốn trong các chính sách trên đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tín dụng trong nông nghiệp, nông thôn theo định hướng của chính phủ. (Bảng 1.2)

 

Bảng 1.2: Các chương trình sản phẩm cho vay tín dụng nông thôn

Lĩnh vực hỗ trợ

Văn bản chính sách

Kết quả thực hiện

Ngành lúa gạo

Nghị định 109/2010/NĐ-CP của chính phủ về kinh doanh lúa gạo

Quyết định 241/QĐ-TTg ngày 24/2/2015

Cho vay lúa gạo tạm trữ vụ Đông Xuân 2014-2015 đạt 8.292 tỷ đồng

Hỗ trợ ngư dân

Thông tư 22/2014/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP

Đến cuối 2015, các NHTM đã ký kết hợp đồng cam kết cho vay 2.908 tỷ đồng. Dư nợ đạt 1.120 tỷ đồng. Đóng mới nâng cấp 271 tàu.

Nuôi tôm và cá tra

Thông tư 26/2014/TT-NHNN về việc tái cấp vốn cho các TCTD theo QĐ 540/QĐ-TTg ngày 16/4/2014 về chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra

Đến hết năm 2015, khoảng gần 800 tỷ đồng dư nợ của hơn 12 nghìn khách hàng

Tái canh cây cà phê Tây Nguyên

Văn bản số 3228/NHNN-TD ngày 11/5/2015 về việc triển khai chính sách cho vay tái canh cây cà phê tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2014-2020

Tính đến cuối năm 2015 đã có trên 6 nghìn khách hàng được vay hơn 725,38 tỷ đồng

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

2. Đánh giá chính sách tín dụng cho hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới Việt Nam

2.1. Những thành công

Thứ nhất, chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông thôn mới trong giai đoạn hơn 5 năm vừa qua đã góp phần đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển nông thôn mới.

Kết quả trên xuất phát từ tính kịp thời và tính đồng bộ của chính sách. Thực hiện theo sự chỉ đạo của Chính phủ, các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn thuộc đề án Xây dựng nông thôn mới, thời gian soạn thảo chính sách ngắn, các thông tư hướng dẫn thực thi đúng lúc đã đưa chính sách đến thực tiễn một cách kịp thời. Điển hình Nghị định số 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản được ban hành ngày 7/7/2014. Chỉ trong 1 tháng sau, ngày 25/8/2014, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 22/2014/TT-NHNN hướng dẫn thực thi Nghị định 67/2014/NĐ-CP, tạo cơ sở để các tổ chức tín dụng cho vay ra nền kinh tế. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ các ngành nghề ưu tiên đồng bộ với đề án “Xây dựng nông thôn mới” của Chính phủ do các lĩnh vực ưu tiên tập trung vào quá trình cơ cấu nông nghiệp, trong đó đẩy mạnh cấp tín dụng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, đẩy mạnh xuất khẩu. Đặc biệt ưu tiên các vấn đề cho vay theo chuỗi liên kết, tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp, từ đó tạo hiệu quả cho chương trình phát triển nông thôn mới.

Kết quả đến cuối năm 2015, số xã khó khăn nhưng có nỗ lực vươn lên xuất phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên là 183 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Thứ hai, chính sách tín dụng cho khu vực nông thôn mới ngày càng thu hút được đông đảo các tổ chức tín dụng thuộc mọi thành phần kinh tế cùng tham gia.

Ban đầu, chỉ có Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là chủ lực, chiếm hơn 70% tổng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của cả hệ thống ngân hàng, sau đó, đã có sự tham gia tích cực của Ngân hàng Chính sách xã hội, Hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân, tiếp đó là các NHTM Nhà nước và đến nay, có sự tham gia của một số NHTM cổ phần, trong đó kể đến là Ngân hàng Bưu điện Liên Việt. Đến nay, số lượng các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay nông nghiệp, nông thôn đã tăng lên đột biến, đặc biệt là sau khi NHNN ban hành Thông tư 14/2010/TT-NHNN hướng dẫn triển khai Nghị định 41/2010/NĐ-CP với các chính sách khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt hiệu quả cao.

Thứ ba, chính sách tín dụng cho khu vực nông thôn mới giúp tạo nguồn vốn cho hoạt động tín dụng nông thôn.

Theo báo cáo của chương trình xây dựng nông thôn mới năm 2015, nguồn vốn phục vụ cho khu vực này là 851.380 tỷ đồng, trong đó tín dụng chiếm 51%. Việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ, bao gồm: dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn thông qua hình thức chiết khấu giấy tờ có giá, cầm cố giấy tờ có giá và cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, góp phần quan trọng trong việc tạo nguồn vốn cho các tổ chức tín dụng để thực hiện cho vay nông nghiệp và nông thôn. Theo kết quả khảo sát của tác giả, trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới, đã xuất hiện nhiều mô hình, kinh nghiệm tốt và theo báo cáo tổng hợp của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến hết tháng 11/2015, có tới 22.000 mô hình sản xuất nông lâm nghiệp tiên tiến hiệu quả. Đây là cơ sở nhằm giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại khu vực nông thôn mới.

Thứ tư, chính sách tín dụng khuyến khích các tổ chức tín dụng tích cực mở rộng mạng lưới giao dịch phục vụ cho vay nông nghiệp, nông thôn mới với nhiều hình thức đa dạng.

Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay đã có trên 2.500 điểm giao dịch cố định, trên 1.000 xe ô tô giao dịch lưu động để phục vụ giải ngân cho các xã trên khắp mọi miền đất nước, trung bình cứ 2-3 xã có một điểm giao dịch. Ngoài ra, còn có hơn 1.000 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được thành lập trên địa bàn nông thôn đã góp phần cung ứng vốn sản xuất cho các thành viên của Quỹ, vốn là các hộ nông dân sinh sống và làm việc ở nông thôn.

Thứ năm, chính sách tín dụng khu vực nông thôn mới góp phần nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho người dân.

T   rước hết, với chính sách tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn đã ngày càng đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ cho vay đối với hộ nông dân nhằm giúp người dân tiếp cận nguồn vốn tín dụng dễ dàng hơn, các tổ chức tín dụng đã từng bước cải cách thủ tục, hồ sơ vay vốn để đơn giản, phù hợp với đặc thù của nông thôn nhưng vẫn bảo đảm an toàn vốn của ngân hàng. Theo khảo sát của tác giả, tỷ lệ khách hàng phản ánh tích cực về quy trình thủ tục cũng như điều kiện vay vốn chiếm tới hơn 90% và kết quả khảo sát cho thấy phần lớn khách hàng hoàn toàn hài lòng về mức vốn vay nhận được từ ngân hàng. Cũng theo kết quả khảo sát, hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay với mức lãi suất cao nhất trong thời gian qua là 7%/ năm. Hầu hết các tổ chức tín dụng đã thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của NHNN, nhờ đó mà các khách hàng thuộc đối tượng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, sự ra đời của Nghị định 41/2010 và sau đó là Nghị định 55/2015 về tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn nhằm phát triển các mô hình sản xuất hiệu quả và tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng hơn. Hiện nay, có khoảng trên 9.000 mô hình sản xuất có hiệu quả, tăng thu nhập cho nông dân, bao gồm: mô hình sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị có ứng dụng công nghệ cao, cánh đồng lớn, gắn sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân.

Thứ sáu, chính sách tín dụng cho nông thôn mới giúp nâng cao hiệu quả đáp ứng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Các chương trình cho vay người nghèo, cho vay theo các chương trình kinh tế của Chính phủ, cho vay ưu đãi lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các Bộ, ngành liên quan được triển khai tích cực theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đã góp phần đáng kể trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở một bộ phận người nông dân gặp khó khăn về kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội ở khu vực nông thôn mới. Với chỉ tiêu tỷ lệ người nghèo, thu nhập bình quân đầu người tại nhiều xã nông thôn mới cũng đã được cải thiện.Theo báo cáo báo cáo tổng hợp của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đến hết tháng 11/2015, mức thu nhập bình quân đầu người vùng nông thôn đã đạt 24,4 triệu đồng/năm, tăng 1,9 lần so với năm 2010, số hộ nghèo ở nông thôn giảm mạnh còn 8,2%. Cụ thể tại một số khu vực điển hình như huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang tỷ lệ người nghèo còn 6,5% năm 2015 so với 13% năm 2010 và thu nhập bình quân đầu người 24 triệu/người /năm so với 16 triệu năm 2010. Huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các xã nông thôn mới đều có tỷ lệ người nghèo khoảng 5% và thu nhập bình quân đầu người 25 triệu/người/năm trong năm 2015. Một số xã tại Bình Định có tỷ lệ người nghèo dưới 2% và thu nhập bình quân đầu người đạt 23 triệu/người/năm 2016.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

2.2.1. Những hạn chế

Thứ nhất, mặc dù các chính sách của NHNN đã phát huy tác dụng trong việc khơi thông nguồn vốn tín dụng chảy vào nông nghiệp, nông thôn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và phục vụ đời sống ở khu vực nông thôn mới.

Theo báo cáo của Chương trình xây dựng nông thôn mới, năm 2015, ngoài nguồn tín dụng chiếm 51%, sự đóng góp của doanh nghiệp là 4,9% và người dân và cộng đồng đóng góp là 12,6%. Theo kết quả khảo sát của tác giả và đã được phân tích trong phần 1.2.3, mặc dù phần lớn khách hàng hoàn toàn hài lòng về mức vốn vay họ nhận được, nhưng không ít các hộ gia đình được phỏng vấn sử dụng đồng thời 2 nguồn chính thức từ các tổ chức tín dụng và nguồn phi chính thức từ vay mượn bạn bè, người thân thậm chí là cho vay nặng lãi.

Kể từ khi Nghị định 41/2010/NĐ-CP được ban hành, NHNN đã sử dụng linh hoạt hai công cụ chính sách tiền tệ là dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn nhằm tạo nguồn vốn lớn cho các tổ chức tín dụng cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; tuy nhiên, NHNN vẫn chưa kiểm soát được hết tính hiệu quả của công cụ này. Theo kết quả phỏng vấn chuyên sâu cán bộ NHNo&PTNT Việt Nam, những năm gần đây, nguồn vốn huy động Ngân hàng luôn dư thừa; vì vậy, tận dụng công cụ tạo nguồn từ dự trữ bắt buộc hay tái cấp vốn không có ý nghĩa.

Ngoài ra, cũng theo kết quả khảo sát của tác giả, tại một số địa phương, để thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đã tiến hành ép tỷ lệ hộ nghèo phải giảm xuống trong khi trên thực tế tỷ lệ hộ nghèo lại không giảm. Từ đó, dẫn đến trường hợp, có những hộ vẫn là hộ nghèo nhưng vì xã, huyện cũng mong muốn báo cáo tình hình triển khai nông thôn mới tốt, nên những hộ nghèo đấy không được duyệt vào hộ nghèo nữa, họ không được duyệt cho vay trong những chương trình hỗ trợ hộ nghèo được hưởng lãi suất thấp, giá trị khoản vay nhiều hơn, thời gian vay nhiều hơn. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ và cuộc sống sẽ gặp khó khăn hơn.

Thứ hai, mặc dù NHNN đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích các tổ chức tín dụng đầu tư cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn mới, tuy nhiên, những chính sách này vẫn chủ yếu tập trung tại NHNo&PTNT và Ngân hàng Chính sách xã hội. Nguồn vốn vẫn chưa thu hút được từ các ngân hàng thương mại khác, đặc biệt tổ chức tín dụng nước ngoài, nơi mà nguồn vốn dồi dào hơn các tổ chức tín dụng trong nước. Theo kết quả khảo sát của tác giả cho thấy tỷ lệ cấp tín dụng đối với hộ gia đình tại khu vực nông thôn mới 90% là NHNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội. Còn lại là các NHTM khác, tổ chức tài chính vi mô và Quỹ tín dụng nhân dân. Hơn thế nữa, các chính sách trong quan hệ đối ngoại của NHNN đã giúp thu hút được các nguồn vốn viện trợ từ các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á, Ngân hàng Thế giới, nhưng vẫn chưa có nguồn vốn viện trợ chính thức nào trực tiếp đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp hay khu vực nông thôn mới.

Thứ ba, chính sách đầu tư vốn cho khu vực nông thôn mới và các chính sách của địa phương, các Bộ, ngành nhiều khi chưa đồng bộ. Điển hình như vấn đề quy hoạch, vấn đề tiêu thụ hàng nông, thủy sản, vấn đề đào tạo nâng cao tay nghề người lao động… chưa đồng bộ nên hiệu quả đầu tư vẫn còn hạn chế. Hay việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai chậm, dẫn đến việc người dân không tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng do không có tài sản bảo đảm; các tiêu chuẩn xác định mô hình kinh tế trang trại thay đổi trong thời gian ngắn khiến các tổ chức tín dụng lúng túng trong việc xác định đối tượng vay vốn để có thể quyết định cho vay…

Thứ tư, chính sách tín dụng chưa thực sự tạo điều kiện đa dạng hóa hình thức cấp tín dụng nông thôn mới. Các chính sách phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn mà NHNN áp dụng trong thời gian qua tập trung khuyến khích các tổ chức tín dụng đầu tư vốn cho nông nghiệp nông thôn qua hình thức cho vay, còn đối với các hình thức cấp tín dụng khác cho nông nghiệp nông thôn như bảo lãnh chiết khấu, bao thanh toán NHNN vẫn chưa có chính sách triển khai. Ngay cả với hoạt động cho vay, các hình thức cho vay còn hạn chế, người dân vẫn còn giữ thói quen sản xuất theo kiểu truyền thống tự phát nhỏ lẻ, manh mún. Mặc dù, các chính sách tín dụng hướng tới cho vay cánh đồng lớn, cho vay liên kết, cho vay theo chuỗi liên kết, cho vay ứng dụng công nghệ cao nhưng các tổ chức tín dụng vẫn còn dè dặt cho vay đối với loại hình trên, hộ nông thôn vẫn chưa tiếp cận đầy đủ các hình thức cho vay trên.

2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế

Một là, một số điểm hạn chế trong Nghị định 41/2010/NĐ-CP, của Chính phủ và Thông tư 142010/TT-NHNN của NHNN hướng dẫn chi tiết Nghị định 41

(i) Quy định đối với một số chủ thể sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp (bao gồm: cá nhân, chủ trang trại sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, các tổ chức và cá nhân cung ứng các dịch vụ trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản) phải có hộ khẩu thường trú tại địa bàn nông thôn mới thuộc đối tượng vay vốn theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP và Thông tư 14/2010/TT-NHNN đã làm hạn chế một số lượng lớn các chủ thể thực tế có sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng lại không được hưởng ưu đãi theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP và Thông tư 14/2010/TT-NHNN. Trong khi nhiều người dân có hộ khẩu thường trú tại khu vực nông thôn lại có quy mô sản xuất, kinh doanh nhỏ, phần đóng góp vào phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn chiếm tỷ lệ chưa cao. Vì vậy, chính sách này chưa đảm bảo được tính công bằng cho các chủ thể nên mục đích khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn của chính sách chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn.

(ii) Theo quy định tại Nghị định 41/2010/NĐ-CP thì các khách hàng chỉ được vay không có TSĐB tại 1 tổ chức tín dụng duy nhất, đây cũng là điểm khó khăn để đưa vốn tín dụng đến với nông nghiệp nông thôn.

(iii) Thiếu định hướng chiến lược về sản phẩm nông nghiệp dẫn đến sản phẩm nông nghiệp còn manh mún, chủ yếu là sản xuất nhỏ giản đơn, tình trạng tự phát trong sản xuất nông nghiệp, vấn đề bảo hiểm nông nghiệp với chỉ triển khai trong phạm vi hẹp, tính liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp chưa chặt chẽ vì vậy hiệu quả tín dụng nông nghiệp giảm sút.

Hai là, một số điểm hạn chế trong Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 10/2015/TT-NHNN của NHNN gây khó khăn trong triển khai cho các tổ chức cung ứng tín dụng.

Với những vướng mắc khi thực thực hiện Nghị định 41, Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với yêu cầu cao hơn, đối tượng áp dụng mở rộng hơn, cùng các chính sách ưu đãi phong phú, đa dạng. Hướng dẫn thực hiện các nội dung của Nghị định, Thông tư số 10/2015/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định rõ về chính sách hỗ trợ nguồn vốn cho vay; việc cơ cấu lại thời hạn nợ, cho vay mới; hồ sơ, trình tự thủ tục khoanh nợ, xóa nợ; tỷ lệ khấu trừ tối đa đối với tài sản đảm bảo của khoản cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55; nêu rõ các điều khoản về: Đối tượng áp dụng, chính sách hỗ trợ nguồn vốn cho vay, cơ cấu lại thời hạn nợ và cho vay mới, hồ sơ, trình tự thủ tục khoanh nợ, xóa nợ; tỷ lệ khấu trừ tối đa; trách nhiệm của tổ chức tín dụng và các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, theo kết quả phỏng vấn hộ gia đình khu vực nông thôn mới của tác giả và phỏng vấn chuyên sâu cán bộ cấp cao các tổ chức cho vay lĩnh vực nông nghiệp có thể thấy, mặc dù Nghị định 55 đã đi vào thực hiện, nhưng cũng chưa mang lại kỳ vọng và còn vướng mắc sau:

(i) Một số người dân vẫn khó tiếp cận nguồn vốn bởi theo quy định ngân hàng, vay tín chấp chỉ thực hiện bằng sổ đỏ của diện tích sản xuất chăn nuôi trong khi việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nhiều địa phương còn chậm. Hơn nữa, nông nghiệp nông thôn bị ảnh hưởng bởi thời tiết, dịch bệnh nên rủi ro cao, do vậy, nhiều ngân hàng e ngại trong việc cho vay lĩnh vực này. Bên cạnh đó, nhiều người dân thiếu thông tin về thủ tục giấy tờ, điều kiện tiếp cận nguồn vốn cũng là rào cản khiến Nghị định 55 của Chính phủ về hỗ trợ tín dụng chưa thực sự phát huy hiệu quả trong thực tế.

(ii) Trong thực tiễn, nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực thường xuyên gặp thiên tai, rủi ro khách quan ảnh hưởng đến kế hoạch trả nợ, ngân hàng phải thực hiện cơ cấu lại nhiều lần. Nhưng theo Thông tư 10/2015/NHNN, việc giữ nguyên nhóm nợ khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ chỉ được thực hiện 1 lần đối với một khoản nợ, điều này gây khó khăn cho cả khách hàng và ngân hàng.

(iii) Cho vay nông nghiệp tiềm ẩn nhiều rủi ro như rủi ro thị trường, mùa màng, sản xuất bởi thời tiết, khí hậu, thiên tai, trong khi đó chính sách bảo hiểm nông nghiệp vẫn chưa tạo nền tảng an toàn mở rộng tín dụng cho hộ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn một cách hiệu quả và đáp ứng nhu cầu vốn của hộ
sản xuất.

   Ba là, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành và các tổ chức chính trị liên quan trong việc thực hiện các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trong thời gian qua, điển hình với các doanh nghiệp cà phê, ca cao Việt Nam thiếu sự quản lý cần thiết, có tình trạng doanh nghiệp xuất khẩu cà phê chưa đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn được tự do tham gia xuất khẩu dẫn đến việc có quá nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cà phê cạnh tranh nhau thông qua giá cả. Kết quả là giá cà phê rất rẻ, nhiều loại cà phê không đủ chất lượng vẫn được tham gia thị trường làm ảnh hưởng đến uy tín và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu lớn. Làm ăn không có lãi, các doanh nghiệp cà phê không đủ khả năng trả nợ ngân hàng khiến các ngân hàng trở nên dè dặt hơn khi cho vay các doanh nghiệp này. Trước tình hình đó, cần có sự phối hợp của các Bộ, ngành liên quan mà quan trọng là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với NHNN để tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng của doanh nghiệp cà phê và các tổ chức tín dụng.

   Nghị định 55 mặc dù đã mở rộng mô hình tín dụng nông nghiệp công nghệ cao, nhưng để thực hiện cho vay đúng đối tượng này, hiện nay, vẫn chưa có cơ quan quản lý có thẩm quyền xác minh hoặc cấp giấy chứng nhận công nghệ cao, dẫn đến các tổ chức tín dụng lúng túng và khó khăn khi triển khai cho vay nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Vì vậy, cần có sự phối kết hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Khoa học và Công nghệ khi triển khai đối tượng cho vay này.

   Bốn là, thị trường tài chính của Việt Nam vẫn chưa phát triển, dẫn đến việc giấy tờ có giá chưa trở thành một công cụ tài chính đắc lực đối với các tổ chức tín dụng. Một số tổ chức tín dụng nắm giữ giấy tờ có giá với khối lượng không nhiều nên khi thiếu vốn, họ khó có thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở để huy động vốn.

   Năm là, nguyên nhân thuộc về các tổ chức tín dụng.

   (i) Trước hết, năng lực kinh doanh của các tổ chức tín dụng Việt Nam còn hạn chế, trong đó quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ tín dụng chưa am hiểu hết thị trường nông thôn và ngành kinh tế nông nghiệp dẫn đến việc nguồn vốn của ngân hàng chưa được đầu tư đúng đối tượng và chưa đảm bảo được hệ số an toàn cao đối với nguồn vốn của ngân hàng.

   (ii) Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng chưa cung cấp sự hỗ trợ đồng bộ theo chủ trương của chính sách. Theo khảo sát của tác giả, như quy định trong Nghị định 41 và Nghị định 55, mặc dù khách hàng được vay không có tài sản bảo đảm, các tổ chức tín dụng vẫn yêu cầu phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo khảo sát, nhiều ngân hàng thực hiện như vậy nhằm hạn chế việc một khách hàng vay không có tài sản bảo đảm tại nhiều ngân hàng. Tuy nhiên, nếu như thông tin của khách hàng vay không có tài sản bảo đảm được cập nhật thường xuyên và công bố công khai có thể giảm thiểu tình trạng này. Ngoài ra, vẫn còn nhiều tổ chức tín dụng không trung thực trong việc cung cấp đúng và kịp thời thông tin để phục vụ cho công tác quản lý, điều hành của NHNN, việc làm này có thể dẫn đến những chỉ đạo chưa đúng với thực tiễn và không kịp thời của Ngân hàng Nhà nước.

   (iii) Các tổ chức tín dụng chưa triển khai đầy đủ sản phẩm cho vay theo định hướng chính sách như cho vay nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chuỗi liên kết… Theo kết quả phỏng vấn chuyên sâu, thực hiện sản phẩm cho vay theo mô hình chuỗi liên kết trong sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm còn lỏng lẻo và chưa có doanh nghiệp hoặc tổ chức đứng ra làm đầu mối xây dựng chuỗi liên kết hoặc các kênh phân phối hiệu quả cho các sản phẩm nông nghiệp vì vậy, chưa tạo ra được sức hút cho các hộ nông dân tham gia vào các chuỗi liên kết này.

(iv) Đặc biệt, các tổ chức tín dụng ít chú trọng phát triển gói sản phẩm đồng bộ cho đối tượng hộ gia đình nông thôn, vì vậy, tỷ lệ khách hàng sử dụng gói dịch vụ còn hạn chế. Theo khảo sát của tác giả, các khách hàng là hộ gia đình nông thôn mới chủ yếu dùng dịch vụ chuyển tiền không qua NHNo&PTNT hay các tổ chức tín dụng cung ứng các sản phẩm tín dụng do chi phí cao hơn. Điều này hạn chế gắn kết mối quan hệ với khách hàng và giảm khả năng huy động vốn thêm được nguồn vốn dư thừa của khách hàng.

   Sáu là, nguyên nhân thuộc về hộ gia đình nông thôn mới. Khách hàng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn thường có mặt bằng nhận thức về nghiệp vụ cho vay của các tổ chức tín dụng nói riêng và các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác nói chung không tốt bằng các khu vực khác, nên khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của họ cũng bị hạn chế hơn. Cụ thể như: họ thường sản xuất, kinh doanh theo thói quen chứ không lập đề án, phương án trước, nên ngân hàng không có cơ sở để xem xét cho vay. Ngoài ra, trình độ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp của người dân ở khu vực nông thôn còn hạn chế, lũ lụt thường xuyên xảy ra ở khu vực miền Trung và công tác phòng chống dịch bệnh chưa tốt… là những nhân tố tác động tiêu cực đến việc Ngân hàng Nhà nước kêu gọi nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức nước ngoài. Theo kết quả khảo sát của tác giả, khách hàng là hộ gia đình khu vực nông thôn mới của NHNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội cho thấy trình độ học vấn khách hàng NHNo&PTNT Việt Nam và cao hơn khách hàng của Ngân hàng Chính sách xã hội, điều này cho thấy mức cho vay tại NHNo&PTNT cao hơn Ngân hàng Chính sách xã hội. Đặc biệt, tỷ lệ tiết kiệm quay vòng của khách hàng với Ngân hàng Nông nghiệp cho tái vụ sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả trong khi khách hàng Ngân hàng Chính sách xã hội dành cho hoạt động tiêu dùng.

 

Kết luận

Những chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là chính sách đối với hộ gia đình trong xây dựng nông thôn mới đã mang đến những kết quả quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển khu vực nông nghiệp - nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của nông dân, tuy nhiên, những chính sách này vẫn tồn tại một số bất cập và hạn chế. Tỷ trọng tín dụng cho khu vực nông thôn vẫn thấp so với mức bình quân chung của toàn ngành. Không những thế, các giải pháp tín dụng hiện tại mang hình thức trợ cấp và hỗ trợ tạm thời hơn là thúc đẩy một cách bền vững tăng trưởng tín dụng cho nông thôn cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ gia đình, nhất là trong xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, trong thời gian tới, các chính sách về tín dụng đối với hộ gia đình nông thôn nói riêng và nông nghiệp nông thôn nói chung cần tiếp tục được quan tâm nghiên cứu, cải cách và thực thi hiệu quả hơn nữa.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Cấn Văn Lực (2013), “Quản trị rủi ro tại Ngân hàng Thương mại Việt Nam, thực trạng và giải pháp”, Hội thảo quản trị rủi ro.

2. Đề cương “Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020”.

3. Đỗ Văn Quân (2015), “Phát triển kinh tế hộ gia đình trong tiến trình xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Viện xã hội học, Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

4. Đoàn Thị Thanh Hà; “Bài học từ tín dụng hỗ trợ phát triển nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc”, 2015.

5. Dự thảo: “Báo cáo giám sát về việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (giai đoạn 2010-2015) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp”- Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

6. Hoàng Vũ Quang (2012), “Đánh giá tác động của các chính sách xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng.

7. Phạm Tất Thắng (2013), “Xây dựng nông thôn mới, Một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Cộng sản 2013.

8. Lê Thị Mai Liên, Nguyễn Thị Lê Thu (2015), “Chính sách huy động và quản lý các nguồn lực tài chính xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Quản lý kinh tế số tháng 2/2015.


  • aA
  • Categories:
  • Tạp chí Ngân hàng
OTHER NEWS
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
04/11/2026
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
04/06/2026
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
04/10/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
03/07/2027
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
03/04/2027
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
03/04/2027
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
03/04/2027
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
03/06/2026
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
03/06/2026
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
03/06/2026
Showing 1 to 10 of 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready