Nhìn lại 5 năm hoạt động tín dụng ngân hàng với chương trình xây dựng nông thôn mới
PGS.,TS. Tô Kim Ngọc, ThS. Vũ Thị Kim Oanh1
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng bắt đầu được triển khai theo Quyết định số 800/QĐ-TTg từ ngày 4/6/2010. Sau 5 năm triển khai, chương trình nông thôn mới đã đạt được những thành tích nhất định. Tính đến ngày 31/12/2015, cả nước đã có 1.526 xã, tương đương 17,1% tổng số xã, đạt tiêu chí nông thôn mới. Đóng góp vào thành tích đó, không thể không kể đến vai trò của tín dụng ngân hàng. Tính tới hết năm 2015, nguồn vốn tín dụng huy động được hơn 430 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng cao nhất 51,09% trong cơ cấu nguồn vốn. Do không chịu ràng buộc bởi vấn đề ngân sách, đồng thời tận dụng được những ưu thế của các trung gian tài chính cung ứng tín dụng nông thôn, tín dụng ngân hàng đã trở thành nguồn lực quan trọng, thực sự có ý nghĩa với chương trình xây dựng nông thôn mới.
1. Thực trạng tín dụng hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới
1.1. Quy mô tín dụng hộ gia đình nông thôn
Quy mô dư nợ tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) và Agribank tăng liên tục qua các năm từ mức 290 nghìn tỷ đồng năm 2010 lên mức 546 nghìn tỷ đồng năm 2015 - tăng gấp 1,6 lần qua 5 năm. Quy mô tăng đồng đều ở cả NHCSXH và Agribank. Quy mô dư nợ của Agribank luôn cao hơn so với NHCSXH. Điều này là phù hợp với đặc thù và quy mô tài sản của từng ngân hàng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn ở mức trên 8% và đạt tốc độ tăng trưởng cao 16,84% vào năm 2015 (Bảng 1.1).
Bảng 1.1: Quy mô dư nợ cho hộ gia đình tại Ngân hàng Chính sách Xã hội và NHNo&PTNT, giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của các ngân hàng
Không chỉ dư nợ, số lượng hộ gia đình được cấp tín dụng cũng tăng lên từ hơn 5,8 triệu hộ năm 2010 lên hơn 6,2 triệu hộ gia đình. Sau khi tăng trưởng âm trong các năm 2011 và năm 2012 do ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế và bắt đầu thời kỳ suy giảm tín dụng, tốc độ tăng trưởng của số hộ được cấp tín dụng đã dần phục hồi vào năm 2013 và đạt tốc độ tăng trưởng cao trong các năm 2014 và 2015 với tốc độ lần lượt là 4,28% và 7,13% (Hình 1.1).
Hình 1.1: Quy mô số hộ gia đình được cấp tín dụng tại
NHCSXH và Agribank, giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của các ngân hàng
Đặc biệt, do tốc độ tăng trưởng của dư nợ cao hơn tốc độ tăng trưởng của số hộ được cấp tín dụng nên quy mô dư nợ bình quân trên hộ luôn đạt tốc độ tăng trưởng dương trong suốt giai đoạn 2011-2015. Trung bình một hộ gia đình được cấp 88 triệu đồng dư nợ vào năm 2015, cao gần gấp đôi so với mức 50 triệu đồng năm 2010 (Bảng 1.2).
Bảng 1.2: Dư nợ tín dụng bình quân mỗi hộ được cấp, giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của các ngân hàng
Bên cạnh NHCSXH và Agribank, các tổ chức, chương trình và dự án tài chính vi mô cũng tham gia khá tích cực cung cấp tín dụng cho khu vực nông nghiệp nông thôn. Đến năm 2014, quy mô dư nợ cho vay của các tổ chức và chương trình, dự án tài chính vi mô đạt khoảng 3,4 nghìn tỷ đồng. Mặc dù số lượng nhỏ, song việc phân tích chi tiết thêm về thực trạng quy mô dư nợ và khách hàng vay của các đơn vị tài chính vi mô sẽ cung cấp góc nhìn đầy đủ hơn về thực trạng tín dụng hộ gia đình nông thôn.
Bảng 1.3: Quy mô dư nợ và số lượng khách hàng vay của các tổ chức và chương trình, dự án tài chính vi mô đến năm 2014
STT |
Tổ chức cung ứng vốn |
Dư nợ cho vay |
Khách hàng vay |
Số tiền cho vay bình quân/hộ |
(triệu đồng) |
||||
I |
Tổ chức TCVM |
973.948 |
146.215 |
7,6 |
1 |
TYM |
757.565 |
107.380 |
7,3 |
2 |
Thanh Hóa |
104.084 |
17.745 |
5,9 |
3 |
M7 |
112.299 |
21.090 |
9,7 |
II |
32 Chương trình, dự án TCVM |
2.459.305 |
408.779 |
5,6 |
Trong đó: |
|
|
|
|
- Quỹ CEP |
1.823.670 |
260.810 |
7 |
|
- Quỹ MOM |
125.047 |
36.047 |
3,5 |
|
Nguồn: Số liệu tại Danh bạ các tổ chức TCVM Việt Nam và NHNN
Hình 1.2: Dư nợ cho vay tại các tổ chức, chương trình, dự án TCVM |
||||
Nguồn: Số liệu tại Danh bạ các tổ chức TCVM Việt Nam và NHNN
Dữ liệu theo Bảng 1.3 cho thấy, trong năm 2014, ba tổ chức tài chính vi mô (TCVM) (TYM, Thanh Hóa và M7) có quy mô dư nợ và số lượng khách hàng vay lớn hơn so với hầu hết các chương trình, dự án TCVM, ngoại trừ hai chương trình, dự án TCVM là Quỹ CEP và Quỹ MOM. Mặc dù vậy, tổng dư nợ của các tổ chức TCVM (973 tỷ đồng) chỉ chiếm 22,07%, trong khi dư nợ của các chương trình, dự án TCVM (hơn 2,459 tỷ đồng) chiếm 71,63% so với tổng dư nợ tại các tổ chức, chương trình, dự án TCVM. Điều này cho thấy các chương trình, dự án TCVM đang phát triển nhanh chóng, khẳng định vị thế và vai trò của mình trong ngành Tài chính vi mô nói riêng và trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở những khu vực còn khó khăn nói chung.
1.2. Cơ cấu tín dụng hộ gia đình nông thôn
1.2.1. Cơ cấu tín dụng theo mục đích sử dụng vốn vay
Bảng 1.4 dưới đây cho thấy, trong suốt giai đoạn 2010-2015, tín dụng hộ gia đình nông thôn tập trung chủ yếu ở cho vay sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, chiếm tỷ trọng quanh mức 95%. Bên cạnh đó, tín dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh luôn chiếm tỷ trọng trên 60%, cao gần gấp đôi so với tín dụng cho mục đích tiêu dùng. Không những thế, tỷ trọng tín dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh còn tăng lên từ 62,86% năm 2010 lên tới gần 70% năm 2015 trong khi cũng cùng thời gian đó, tín dụng tiêu dùng giảm tương ứng từ 31,59% xuống còn 26,62%. Sự chuyển dịch này là dấu hiệu tích cực bởi tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh sẽ có tác động tích cực hơn trong việc lan tỏa tác động của dòng tín dụng tới các hoạt động kinh tế khác; đồng thời, có thể tạo ra dòng tiền trực tiếp từ các dự án và phương án sản xuất kinh doanh.
Bảng 1.4: Cơ cấu tín dụng hộ gia đình theo mục đích vay vốn tại NHCSXH và NHNo&PTNT
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của Ngân hàng Chính sách xã hội và NHNo&PTNT
Phân tích kỹ hơn cơ cấu tín dụng theo mục đích sử dụng vốn của từng ngân hàng sẽ thấy rõ hơn các đặc thù hoạt động của từng tổ chức cung ứng tín dụng. Cụ thể, tại NHCSXH, tỷ trọng cho vay sản xuất kinh doanh trên tiêu dùng dao động quanh mức 50:40, thấp hơn so với kết quả thống kê chung cho cả hai ngân hàng. Trong cấu phần cho vay tiêu dùng của NHCSXH, cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn chiếm tỷ trọng khá cao, dư nợ cho vay với nhóm khách hàng này thường dao động trong khoảng 20% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay liên quan tới nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cũng tăng gần gấp 2 lần trong giai đoạn 2010-2015, từ 7,78% lên 14,10%.
Tỷ trọng cho vay sản xuất kinh doanh sau khi giảm nhẹ vào năm 2011-2012, đã bắt đầu tăng trở lại từ năm 2013, đến năm 2015, tỷ trọng cho vay sản xuất kinh doanh chiếm 56,18% tổng dư nợ. Đáng lưu ý, trong cấu phần cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay hộ nghèo luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, đặc biệt trong năm 2010, tỷ trọng này đã lên tới 40,42%. Từ năm 2013, trong cơ cấu cho vay sản xuất kinh doanh đã xuất hiện thêm cho vay hộ cận nghèo. Việc mở rộng đối tượng vay tới các hộ cận nghèo là biện pháp quan trọng và kịp thời nhằm giúp các hộ mới thoát nghèo (chuyển sang hộ cận nghèo) có thể thoát nghèo bền vững, đồng thời hỗ trợ các hộ cận nghèo chưa tham gia tín dụng có thể không bị rơi vào diện hộ nghèo. Do đó, mặc dù xét riêng lẻ, tỷ lệ cho vay hộ nghèo đã giảm xuống mức 25,23% vào năm 2015, tuy nhiên, nếu tính gộp chung cả hai hai đối tượng vay là hộ nghèo và hộ cận nghèo, thì tỷ lệ này lại tăng lên từ hơn 40% năm 2010 lên tới trên 44% năm 2015. (Bảng 1.5)
Bảng 1.5: Cơ cấu tín dụng hộ gia đình theo mục đích vay vốn tại NHCSXH
giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của NHCSXH
Cơ cấu tín dụng hộ gia đình theo mục đích vay vốn tại Agribank được trình bày ở Bảng 1.6. Theo đó, cho vay sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng cao tương đối so với cho vay tiêu dùng và các mục đích khác. Trong cho vay sản xuất kinh doanh, thương nghiệp dịch vụ và nông nghiệp là hai lĩnh vực luôn chiếm tỷ trọng cao nhất. Năm 2015, dư nợ cho vay nông nghiệp chiếm tới 38,05% dư nợ tín dụng hộ gia đình nông thôn. Hơn nữa, trong cho vay nông nghiệp, cho vay phục vụ chăn nuôi luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với trồng trọt (lần lượt đạt trên 24% và 13% vào năm 2015).
Bảng 1.6: Cơ cấu tín dụng hộ gia đình theo mục đích vay vốn tại Agribank
giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của Agribank
Tại các tổ chức TCVM, khách hàng TCVM sử dụng vốn vay vào nhiều mục đích khác nhau như kinh doanh buôn bán nhỏ, chăn nuôi trồng trọt và ngư nghiệp, sửa chữa nhà ở, vệ sinh môi trường và các mục đích khác. Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn số liệu nên việc phân tích mục đích sử dụng vốn được căn cứ theo số liệu tại Báo cáo đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với hoạt động TCVM của Nhóm công tác TCVM và Báo cáo hoạt động năm 2014 của Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (Quỹ CEP). (Hình 1.3)
Hình 1.3: Cơ cấu tín dụng theo mục đích sử dụng vốn của 04 chương trình, dự án TCVM
Nguồn: Theo Báo cáo đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với hoạt động TCVM và Báo cáo hoạt động 2014 của Quỹ CEP
Đồ thị trên cho thấy sự tương đồng trong mục đích sử dụng vốn của cả ba chương trình, dự án (MOM Tiền Giang, Dự án Thủ Thừa, Dự án Sóc Trăng), với tỷ trọng cho vay chăn nuôi, trồng trọt và ngư nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất tương ứng trên 60%. Khác với ba chương trình, dự án kể trên, Quỹ CEP lại tập trung cho vay vốn phục vụ mục đích kinh doanh buôn bán nhỏ với tỷ trọng cao nhất, đạt trên 40%. Sự khác biệt này chủ yếu đến từ sự khác biệt về đối tượng khách hàng phục vụ của các chương trình, dự án TCVM. Cụ thể, 3 chương trình, dự án TCVM (MOM Tiền Giang, Dự án Thủ Thừa, Dự án Sóc Trăng) lấy các hộ gia đình nghèo, cận nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp siêu nhỏ tại các vùng, địa bàn khó khăn làm khách hàng mục tiêu với mục đích sử dụng vốn vay chủ yếu là sản xuất nông lâm, ngư nghiệp. Trong khi đó, Quỹ CEP hướng tới đối tượng khách hàng là người lao động nghèo, công nhân lao động có thu nhập thấp với mục đích sử dụng vốn vay chủ yếu là kinh doanh, buôn bán nhỏ hoặc các mục đích khác như dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, mua sắm công cụ, đóng học phí, khám chữa bệnh và trả nợ vay nặng lãi…
1.2.2. Cơ cấu tín dụng theo thời hạn vay
Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn cho vay của tín dụng hộ gia đình nông thôn tại NHCSXH và Agribank giai đoạn 2010-2015 cho thấy tỷ trọng vốn ngắn hạn và trung dài hạn khá cân đối. Theo đó, tỷ trọng cho vay trung dài hạn luôn cao hơn so với cho vay ngắn hạn. Đặc biệt, cho vay trung dài hạn đang có xu hướng tăng lên liên tục trong 3 năm gần đây, tăng từ 51,88% năm 2013 lên tới 55,06% năm 2015 (Hình 1.4). Xu hướng này là tích cực bởi lẽ các hộ gia đình đã hướng tới đầu tư vào các dự án có thời gian dài hơn, có khả năng sinh lời tốt hơn là các phương án kinh doanh ngắn hạn, tạm thời theo mùa vụ. Cụ thể, việc đầu tư vào máy móc, kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện đưa công nghệ tiên tiến hơn vào sản xuất, giúp cải thiện năng suất, tăng chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, góp phần củng cố và gia tăng năng lực cạnh tranh và mức độ chấp nhận sản phẩm nông nghiệp của thị trường. Điểm cần lưu ý là, vay vốn lưu động ngắn hạn luôn là đặc thù nổi bật của lĩnh vực nông nghiệp, do đó, cho vay kỳ hạn ngắn chỉ giảm về mặt tỷ trọng do không tăng nhanh như cho vay trung dài hạn, trong khi đó, về mặt quy mô, tín dụng ngắn hạn vẫn tăng mạnh so với các năm trước, đạt 245 nghìn tỷ đồng năm 2015 tăng gần gấp đôi so với mức 135 nghìn tỷ đồng năm 2010.
Hình 1.4: Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn cho vay tại NHCSXH và Agribank giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của các ngân hàng
Phân tích cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn cho từng ngân hàng sẽ thấy rõ hơn đặc thù của từng tổ chức cung ứng tín dụng. Cụ thể, tỷ trọng cho vay trung dài hạn tại NHCSXH trong suốt giai đoạn 2010-2015 luôn đạt trên 90% và tăng liên tục từ mức 94,11% năm 2010 lên mức 98,47% năm 2015. Do đối tượng khách hàng mục tiêu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu mục đích sử dụng vốn của NHCSXH là các hộ nghèo, cận nghèo cũng như học sinh sinh viên nên kỳ hạn cho vay thường phải đủ dài (cấp tín dụng trung dài hạn) để các đối tượng vay vốn có thể thu xếp được nguồn lực tài chính trả nợ cho ngân hàng (Bảng 1.7):
Bảng 1.7: Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn tại NHCSXH giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của NHCSXH
Trong khi đó, Agribank tài trợ tín dụng hộ gia đình nông thôn chủ yếu cho hoạt động thương nghiệp dịch vụ, cũng như trồng trọt và chăn nuôi. Đây là những hoạt động sản xuất kinh doanh cần nhiều vốn lưu động theo mùa vụ, thích hợp với các sản phẩm cho vay ngắn hạn như hạn mức tín dụng, cho vay theo món ngắn hạn. Chính vì vậy, tỷ trọng cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ lệ cao trên 60% trong cơ cấu tín dụng của Agribank (Bảng 1.8)
Bảng 1.8: Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn tại Agribank giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của Agribank
Ngoài ra, đến 30/9/2015, các tổ chức TCVM có dư nợ ngắn hạn đạt 667,06 tỷ đồng chiếm tới 63,7% tổng dư nợ của 3 tổ chức TCVM (TYM, M7 và Thanh Hóa), tăng 157,8% so với cuối năm 2014. Cơ cấu dư nợ ngắn hạn của tổ chức TCVM TYM, M7, Thanh Hóa lần lượt là 67,2%, 58,2% và 49,3%. Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn tại TYM đạt mức cao nhất 67,2% nguyên nhân bởi từ tháng 05 năm 2015, Quỹ TYM đã thay đổi sản phẩm cho vay từ 55 tuần (cho vay trung hạn) sang sản phẩm cho vay 50 tuần (cho vay ngắn hạn).
1.3. Thực trạng chất lượng tín dụng hộ gia đình nông thôn
Do được phân loại nợ và trích lập dự phòng trên các cơ sở pháp lý khác nhau nên chất lượng tín dụng hộ gia đình nông thôn được phân tích theo từng đơn vị cung ứng tín dụng. Cụ thể:
Ngân hàng Chính sách xã hội
Bảng 1.9 dưới đây cho thấy chất lượng tín dụng hộ gia đình nông thôn tại NHCSXH khá tốt với tỷ lệ nợ khoanh và nợ quá hạn ở mức tương đối thấp. Nguyên nhân chủ yếu của các khoản nợ khoanh, nợ quá hạn là do hoạt động sản xuất kinh doanh của những khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thường hay gặp thiên tai bất khả kháng. Để tạo điều kiện cho các đối tượng vay vốn giảm bớt gánh nặng tài chính, khắc phục khó khăn để có thể vượt qua những tác động tiêu cực của thiên tai, dần ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, NHCSXH tiến hành khoanh nợ cho khách hàng. Ngoài ra, NHCSXH còn có thể cân nhắc phương án sử dụng quỹ dự phòng để xóa nợ (xử lý rủi ro hạch toán ra ngoại bảng) theo quy định.
Bảng 1.9: Chất lượng tín dụng hộ gia đình nông thôn tại NHCSXH
giai đoạn 2010-2015
Chỉ tiêu |
2010 |
2011 |
2012 |
2013 |
2014 |
2015 |
Nợ quá hạn |
0.98% |
1.08% |
1.03% |
0.79% |
0.41% |
0.33% |
Nợ khoanh |
0.22% |
0.13% |
0.20% |
0.29% |
0.47% |
0.45% |
Nợ xóa |
0.01% |
0% |
0.04% |
0.10% |
0.12% |
0.04% |
Nợ khoanh và Nợ quá hạn/Tổng dư nợ |
1.22% |
1.22% |
1.28% |
1.18% |
1.00% |
0.82% |
Quỹ DPRR/Nợ khoanh và nợ quá hạn |
31,14% |
1,51% |
1,49% |
39,77% |
28,45% |
9,12% |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu của NHCSXH
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tỷ lệ nợ xấu đối với tín dụng hộ gia đình nông thôn của Agribank trong suốt giai đoạn 2010-2015 luôn ở mức thấp, đáp ứng yêu cầu của NHNN. Có thể nói, chất lượng tín dụng hộ gia đình nông thôn của Agribank tương đối tốt và có xu hướng ngày càng cải thiện. (Bảng 1.10)
Bảng 1.10: Chất lượng tín dụng hộ gia đình nông thôn tại Agribank
giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả Các tổ chức tài chính vi mô
Năm 2014, hầu hết các tổ chức hoạt động TCVM đều có tỷ lệ nợ xấu hoặc PAR301 ở mức rất thấp. Tỷ lệ nợ xấu trung bình của các tổ chức TCVM là 0,01%, trong khi tỷ lệ rủi ro quá hạn trung bình PAR30 của các chương trình, dự án là 1,26%.
Tỷ lệ bù đắp rủi ro bởi dự phòng rủi ro (DPRR) của các tổ chức hoạt động TCVM tương đối cao. Các tổ chức TCVM có số dư DPRR rất cao, gấp 59,1 lần so với tổng nợ xấu, trong khi con số này của các chương trình, dự án TCVM là 2,36 lần. Tình trạng này xuất phát từ đặc thù của hoạt động TCVM là không có tài sản đảm bảo, việc đảm bảo cho khoản vay được thông qua hình thức gửi tiết kiệm bắt buộc và bảo lãnh nhóm, do vậy các tổ chức hoạt động TCVM thường thực hiện trích lập dự phòng tương đối cao. Ngoài ra, đối với các tổ chức TCVM thực hiện theo các quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng của NHNN tại Thông tư 15, nên số dư DPRR lớn, trong đó, dự phòng chung (bằng 0,5% dư nợ gốc của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4) chiếm 98,9% tổng dư nợ DPRR. Điều này cho thấy, nhìn chung các tổ chức hoạt động TCVM đã đảm bảo chất lượng danh mục cho vay tương đối cao. (Bảng 1.11)
Bảng 1.11: Chất lượng tín dụng tại một số tổ chức tài chính vi mô
STT |
Chương trình, dự án TCVM |
Chỉ tiêu |
2014 |
2013 |
2012 |
1 |
Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) |
PAR30 |
0.39% |
0.38% |
0.33% |
Tỷ lệ kh/cán bộ TD |
718 |
702 |
773 |
||
2 |
Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển Kinh tế TP.Hồ Chí Minh (CWED) |
PAR30 |
2.34% |
0.57% |
0.05% |
Tỷ lệ kh/cán bộ TD |
1,299 |
1,366 |
725 |
||
3 |
Chương trình tín dụng tiết kiệm hội liên hiệp phụ nữ H.Phú Yên, Sơn La |
PAR30 |
4.44% |
- |
0.16% |
Tỷ lệ kh/cán bộ TD |
125 |
- |
95 |
||
4 |
Quỹ phụ nữ phát triển huyện Điện Biên |
PAR30 |
5.68% |
3.40% |
- |
Tỷ lệ kh/cán bộ TD |
266 |
247 |
244 |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
Khi phân tích theo khía cạnh khác, tỷ lệ PAR30 trung bình của các chương trình, dự án có xu hướng tăng từ 0,75% năm 2012 lên 1,26% năm 2014. Theo nhóm tác giả, một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do hành lang pháp lý chưa đầy đủ, cũng như thiếu sự chuyên nghiệp về mặt tổ chức, hoạt động của các chương trình, dự án TCVM (khi quy mô còn nhỏ, năng lực quản lý còn phù hợp chất lượng tín dụng được đảm bảo, tuy nhiên, khi phát triển lớn hơn, năng lực quản lý bị hạn chế dẫn đến việc đảm bảo chất lượng danh mục bị giảm sút) nên đã ảnh hưởng đến việc quản lý chất lượng danh mục cho vay. Cụ thể, khi các chương trình, dự án TCVM mở rộng địa bàn hoạt động, số lượng khách hành tăng lên, trong khi việc tuyển dụng cán bộ tín dụng tốt lại mất nhiều thời gian nên đã làm tăng tỷ lệ khách hàng trên cán bộ tín dụng, làm ảnh hưởng tới việc quản lý khách hàng của cán bộ tín dụng.
Ngoài những nguyên nhân nêu trên, cũng phải kể đến các nguyên nhân khách quan như do điều kiện thời tiết, thiên tai, tình trạng xâm nhập mặn… hoặc các lý do khác như người vay mắc bệnh hiểm nghèo qua đời… vì đặc thù của hoạt động TCVM là thường phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ ở một khu vực khó khăn, do vậy hoạt động sản xuất - kinh doanh, điều kiện sống của các hộ gia đình còn gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài, làm gia tăng rủi ro tín dụng đối với các tổ chức hoạt động TCVM.
2. Đánh giá về hoạt động tín dụng ngân hàng với chương trình xây dựng nông thôn mới
Giai đoạn từ năm 2010-2015, hàng loạt chính sách hỗ trợ từ phía các cơ quan chức năng đã góp phần cho tín dụng nông nghiệp nông thôn nói chung và tín dụng hộ gia đình nông thôn nói riêng phát triển. Quy mô tín dụng và mức độ tiếp cận tín dụng ngày càng tăng cho thấy mức độ bao quát và chiều sâu của hoạt động cung ứng tín dụng hộ gia đình nông thôn. Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn hợp lý đảm bảo cân đối giữa nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn và đầu tư trung dài hạn nhằm phát triển máy móc, khoa học kỹ thuật. Các hỗ trợ kỹ thuật đi kèm là nền tảng quan trọng tạo nên sự khác biệt trong thành công của hoạt động cấp tín dụng hộ gia đình nông thôn so với các chương trình khác. Quy trình nghiệp vụ cho vay trong việc tiếp cận khách hàng, thẩm định rủi ro, giải ngân và giám sát mục đích sử dụng vốn, thu nợ được hoàn thiện, xử lý nhanh chóng. Đặc biệt, với các đặc thù trong hoạt động, các hình thức giải ngân và quản lý khoản vay sáng tạo đã được nghiên cứu và áp dụng. Tỷ lệ nợ xấu cho vay nông nghiệp nông thôn nói chung và tín dụng hộ gia đình nông thôn nói riêng luôn ở mức thấp hơn 3% theo yêu cầu của NHNN và thấp hơn tỷ lệ nợ xấu của ngành Ngân hàng.
Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn vốn tín dụng cho nông thôn mới còn một số bất cập, hạn chế sau: Thứ nhất, nguồn vốn cung ứng tín dụng cho nông nghiệp nông thôn tập trung chủ yếu ở một số ngân hàng có chức năng đặc thù phát triển nông nghiệp nông thôn (Agribank), thực hiện vai trò chính sách xã hội (NHCSXH) hoặc do các tổ chức TCVM nhỏ lẻ cung ứng. Quá trình cấp tín dụng nhiều lúc còn mang tính hỗ trợ tạm thời theo hướng trợ cấp chính sách hơn là phát huy vai trò thực sự của dòng vốn tín dụng đúng nghĩa. Thứ hai, khu vực nông nghiệp nông thôn vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là các biến động bất thường từ thị trường nông sản hay các yếu tố bất khả kháng như thiên tai. Điều này làm giảm động lực cung ứng vốn cho hộ gia đình nông thôn từ hệ thống cung ứng tín dụng đồng thời làm hạn chế hiệu quả từ nguồn tín dụng hiện tại đang được cung ứng. Thứ ba, tại các khu vực nông thôn hiện nay, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa phát huy được lợi thế theo quy mô, chưa ứng dụng nhiều công nghệ cao và tiến bộ khoa học nhiều vào sản xuất, còn thiếu tính quy hoạch vùng nông sản mang tầm quốc gia và khu vực. Đây chính là những bất cập, hạn chế sự gia tăng quy mô và hiệu quả dòng vốn tín dụng hộ gia đình nông thôn nói riêng và tín dụng nông nghiệp nông thôn nói chung.
Theo đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp cần được thực hiện để nâng cao vai trò và phát huy hiệu quả của tín dụng ngân hàng với chương trình xây dựng nông thôn mới.
Một là, tăng cường khả năng cấp tín dụng của các tổ chức cung ứng tín dụng hộ gia đình nông thôn. Hiện nay, nguồn cung vốn tín dụng vẫn chủ yếu được thực hiện qua hai ngân hàng là Agribank và NHCSXH hơn nữa các nguồn vốn này vẫn mang tính chất nguồn vốn chính sách, ưu đãi, tạo tâm lý ỉ lại ở người vay vốn, làm giảm hiệu quả của nguồn vốn tín dụng. Do đó, cần có các biện pháp nhằm khai thác triệt để và phát huy tối đa hiệu quả các nguồn vốn tín dụng ưu đãi, đồng thời cần phối hợp với các cơ quan đoàn thể, chính quyền địa phương nhằm tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn người dân để người dân nhận thức rõ trách nhiệm của người vay vốn, đồng thời có các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật để người vay vốn có thể sử dụng vốn có hiệu quả.
Hai là, giảm thiểu rủi ro đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đây là cơ sở để thu hút sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức tín dụng. Khu vực nông nghiệp là khu vực chịu tác động mạnh mẽ của các biến động thị trường, thời tiết, thiên tai, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất của người vay vốn. Do đó, cần có cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển mảng bảo hiểm nông nghiệp, đưa ra nhiều sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống của lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, đồng thời cần nâng cao nhận thức cho nông dân để người nông dân hiểu biết rõ về quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia bảo hiểm trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó cần nâng cao năng lực dự báo và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu cũng như khả năng dự báo giá cả hàng hóa nông sản giảm thiểu rủi ro về giá.
Ba là, tăng cường khả năng hấp thụ vốn của các hộ gia đình nông thôn. Hiện nay phát triển nông nghiệp của Việt Nam vẫn mang tính tự phát, manh mún nhỏ lẻ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của bốn nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nông dân), ở các địa phương vẫn còn tình trạng tự cung tự cấp, có sự chia cắt về thị trường giữa các vùng. Để nâng cao khả năng hấp thụ vốn của các hộ gia đình, đồng thời phát triển nền nông nghiệp hiệu quả, rất cần có cơ chế tạo nên sự phối hợp, gắn bó chặt chẽ giữa bốn nhà, hình thành nên những chuỗi giá trị trong nông nghiệp, đem lại lợi ích cho tất cả các bên. Đồng thời, cần nghiên cứu để xây dựng các vùng kinh tế chuyên canh nhằm hướng tới một nền nông nghiệp được chuyên môn hóa cao, hình thành các vùng kinh tế dựa trên tiềm năng, lợi thế của từng vùng.
1PAR30 - Tổng dư nợ các khoản nợ quá hạn trên 30 ngày/Tổng dư nợ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2010), “Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020”, Hà Nội.
2. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2010), “Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn”, Hà Nội.
3. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2015), “Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn”, Hà Nội.
4. Ngân hàng Chính sách xã hội (2013). “Báo cáo tổng kết 10 năm hoạt động”.
5. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014). “Quyết định Ban hành Quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHNNo&PTNT Việt Nam”.
6. Dự thảo Báo cáo giám sát về việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (giai đoạn 2010-2015) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
7. Đỗ Văn Quân (2015), “Phát triển kinh tế hộ gia đình trong tiến trình xây dựng nông thôn mới ở Đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Viện xã hội học, Học viện chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
1 Học viện Ngân hàng