Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Tạp chí Ngân hàng

Vai trò “kiến tạo và hành động” của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (số 5)

24/04/2017 16:06:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Vai trò “kiến tạo và hành động” của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

TS. Tôn Thanh Tâm1

ThS. Phạm Thị Hương2

 

1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và những chính sách mang tính “kiến tạo”

Nhìn lại năm 2016 và cả giai đoạn 2013 - 2016, chúng ta có thể thấy: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thành công nhiều chính sách, vừa mang tính “kiến tạo”, vừa mang tính “hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân, phục vụ cộng đồng doanh nghiệp...”, đó chính là: chính sách quản lý vàng, chính sách lãi suất tiền gửi ngoại tệ 0%, chính sách tỷ giá trung tâm, chính sách xử lý nợ xấu (mô hình VAMC), chính sách ngân hàng “0 đồng” và bao trùm vẫn là chính sách tái cơ cấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 1... Toàn bộ các chính sách trên đã và đang phát huy tác dụng, “kiến tạo” ra một luồng gió mới, góp phần giúp toàn bộ hệ thống tài chính - ngân hàng nói chung, các tổ chức tín dụng nói riêng, chuyển động một cách mạnh mẽ theo hướng “hành động quyết liệt” nhằm thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế vĩ mô tổng thể cũng như chính sách tiền tệ, tín dụng trong năm 2016 và những năm tiếp theo. Trên thực tế, Chính phủ kiến tạo và các thành viên của Chính phủ, trong đó có Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng là một thành viên kiến tạo, hay nói cách khác, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiến tạo, liêm chính, hành động quyết liệt vì cộng đồng doanh nghiệp... Nhìn lại các chính sách mang tính kiến tạo nói trên, trong đó có một số chính sách, khi ra đời đã gây ra không ít băn khoăn, suy nghĩ không những đối với những học giả ngoài ngành, mà cả giới chuyên môn trong ngành... Nhưng đến nay, những chính sách nói trên đã được kiểm chứng, thực sự trở thành những chính sách mang tính kiến tạo, hướng tới hoàn thiện dần thể chế, các cơ chế chính sách, tháo bỏ mọi rào cản, tạo mọi thuận lợi tốt nhất cho mọi người dân và cộng đồng doanh nghiệp tiếp cận ngày một dễ dàng hơn, an toàn hơn tới các dịch vụ tài chính - ngân hàng hiện đại. Đồng thời, các chính sách trên cũng đã góp phần mạnh mẽ, không ngừng củng cố và nâng cao năng lực thể chế cho toàn ngành Ngân hàng, tạo đà thuận lợi, bứt phá để bước vào thực hiện thành công kế hoạch kinh tế 5 năm cũng như kế hoạch tái cơ cấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 2 (2016 - 2020) mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ giao phó cho ngành Ngân hàng.

 

2. “Hành động quyết liệt” đưa chính sách đi vào cuộc sống

Thông thường, để biết được kết quả của một chính sách mới ra đời phát huy tác dụng đến đâu, như thế nào, thành công hay chưa thành công, chúng ta phải chờ đợi tối thiểu từ 1 đến 3 năm, mới có thể kiểm chứng chính xác tính khả thi của chính sách đó, hay nói cách khác, chính sách bao giờ cũng có độ trễ, đặc biệt là các chính sách liên quan đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Tuy nhiên, có những chính sách, từ những ngày đầu thực thi, nó đã phát huy tác dụng ngay lập tức vì sự bức bách của thực tiễn đang chờ đợi một chính sách đúng ra đời để định hướng cho toàn bộ ngành Ngân hàng nói riêng, nền kinh tế nói chung vận hành chính xác. Khi có sự trùng hợp giữa chính sách và sự đòi hỏi bức bách của thực tiễn thì chính sách đó phát huy tác dụng ngay lập tức. Ví dụ: “chính sách tỷ giá trung tâm” hay “chính sách lãi suất tiền gửi 0% đối với ngoại tệ, hay “chính sách quản lý vàng”... Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tuyên bố thực hiện, ngay lập tức, các chính sách trên phát huy tác dụng. Đây là những chính sách không cần thời gian kiểm chứng, đã cho chúng ta những kết quả như mong đợi. Chính vì vậy, trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế trong nước và thế giới trải qua không ít biến động và thăng trầm, nhưng giá vàng, tỷ giá ngoại tệ, lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ... luôn nằm trong tầm kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ổn định trong nhiều năm, và không có bất cứ biến động đột biến nào về giá cả và tâm lý. Đặc biệt trong năm 2016, mặc dù giá hàng hóa thế giới có xu hướng phục hồi, tăng trở lại (chẳng hạn như giá xăng, dầu, nguyên vật liệu, hóa dầu, sắt, thép... tăng xấp xỉ 7% - 12%) cùng với trong nước, Nhà nước tiến hành điều chỉnh đồng loạt giá dịch vụ y tế, giáo dục... trong đó, có những dịch vụ tăng tới 400%, nhưng CPI vẫn được kìm chế ở mức 4%, trong đó lạm phát cơ bản (lạm phát do yếu tố tiền tệ ổn định ở mức 1,8%). Đây là những chính sách vừa mang tính “kiến tạo” vừa mang tính “hành động quyết liệt” thể hiện vượt bậc kỹ năng dự báo thị trường quốc tế và trong nước cũng như sử dụng linh hoạt, hiệu quả và hết sức chuyên nghiệp các công cụ điều tiết của chính sách tiền tệ (như dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, tái chiết khấu...) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã giúp cho nền kinh tế phát triển ổn định, tăng trưởng GDP trong những năm qua luôn ở mức cao, cụ thể: năm 2013 là 5,42%, năm 2014 là 5,98%, năm 2015 là 6,68% và năm 2016 là 6,4% trong khi lạm phát luôn duy trì ở mức thấp: năm 2013 là 6,04%, năm 2014 là 1,86%, năm 2015 là 0,60% và năm 2016 là 4,7% đúng như kỳ vọng mà Quốc hội và Chính phủ giao phó cho ngành Ngân hàng. Không thể không tự hào khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực sự đóng vai trò là nhà kiến tạo của toàn ngành Ngân hàng. Kiến tạo, có nhiều cách giải thích, nhưng tựu chung “kiến tạo” được Chính phủ khẳng định trên các diễn đàn trong nước và quốc tế, đó là việc Chính phủ hướng tới hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách, loại bỏ các rào cản, tạo mọi thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp có cơ hội tốt nhất trong việc tiếp cận bình đẳng tới các nguồn lực: vốn, tài nguyên, đất đai... để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, không ngừng tạo ra của cải vật chất cho xã hội, với phương châm “dân giàu, nước mạnh”. Trên tinh thần đó, trong năm qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chuyển động mạnh mẽ từ vai trò “quản lý” sang vai trò “kiến tạo và phục vụ”, tạo ra nhiều cú hích về cơ chế chính sách mang tính đột phá như đề cập trên, đã góp phần mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng, người dân, doanh nghiệp hòa nhịp cùng với một Chính phủ kiến tạo - liêm chính - hành động quyết liệt.

 

3. VAMC - nơi cân bằng sự hy sinh lợi ích trong ngắn hạn của các tổ chức tín dụng để phục vụ cho lợi ích dài hạn của đất nước

Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách đi ngay vào cuộc sống như đề cập trên, thì cũng có những chính sách cần thêm nhiều thời gian để kiểm chứng, đặc biệt là một số chính sách cần có sự hy sinh lợi ích của chính các tổ chức tín dụng trong ngắn hạn để phục vụ cho mục đích dài hạn của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Mô hình VAMC là một ví dụ điển hình. Mô hình này ngay khi thành lập đã gây ra không ít hoài nghi, băn khoăn, suy nghĩ không những đối với giới chuyên môn, nhưng đến nay, chính sách VAMC đã và đang bắt đầu phát huy tác dụng, mở ra một chương mới trong khái niệm “kiến tạo” mà ngành Ngân hàng đang kiên trì đeo đuổi với mục tiêu hy sinh lợi ích ngắn hạn để tạo ra lợi ích trong dài hạn cho nền kinh tế. Cụ thể theo báo cáo của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), tính đến 31/12/2016, Vietcombank đã hoàn thành việc trích lập dự phòng cho toàn bộ số nợ đã bán cho VAMC và sẽ nhận lại toàn bộ số nợ này từ VAMC về Vietcombank để xử lý trong năm 2017. Theo đó, các ngân hàng thương mại khác như BIDV, ACB, Vietinbank... cũng tuyên bố sẽ trích lập đủ dự phòng cho toàn bộ số nợ xấu đã bán cho VAMC trong năm 2017 và sẽ thu hồi lại toàn bộ số nợ đã bán để về xử lý trong những năm tới. Đặc biệt, Vietcombank cho biết: nếu theo kế hoạch thì tiến độ xử lý nợ xấu sẽ kéo dài đến năm 2018, nhưng đến cuối năm 2016, Vietcombank đã hoàn thành, rút ngắn 2 năm. Tất cả những điều trên muốn nói lên điều gì? Thứ nhất, Vietcombank đã hoàn thành việc xử lý nợ xấu trước thời hạn so với trái phiếu đặc biệt mà VAMC phát hành (5 năm) cho Vietcombank nói chung, các NHTM nói riêng. Việc trích lập mạnh tay quỹ dự phòng rủi ro là một sự hy sinh lợi ích trong ngắn hạn để phục vụ cho lợi ích dài hạn của các NHTM, bởi nó làm giảm lợi nhuận hàng năm, giảm cổ tức chia cho cổ đông, thậm chí nhiều NHTM không chia cổ tức cho cổ đông trong một số năm trở lại đây nhằm gia tăng quỹ dự phòng để xử lý rủi ro đó là điều mà chúng ta cần biết; thứ hai, khi các NHTM trích lập xong số nợ bán cho VAMC, đồng nghĩa với việc các NHTM sẽ hợp nhất nợ xấu về một số, qua đó tăng tính minh bạch trong hoạt động của ngân hàng, tiến đến năm 2020, đưa toàn bộ nợ xấu của toàn ngành Ngân hàng bao gồm nội bảng và nợ xấu tại VAMC xuống dưới 3%, đúng như chỉ đạo của Chính phủ và Quốc hội đã đưa ra; thứ ba, sau khi đưa toàn bộ nợ xấu về một số và nguồn tiền thu được từ quá trình xử lý nợ xấu trong những năm tới sẽ góp phần gia tăng năng lực tài chính cho chính bản thân các NHTM; thứ tư, khi các NHTM có thêm vốn từ xử lý nợ xấu, các ngân hàng sẽ có thêm điều kiện để giảm mặt bằng lãi suất cho vay trong những năm tới, qua đó, giúp cho các doanh nghiệp có thêm điều kiện để giảm chi phí, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm... Như vậy, chính sách VAMC đã bắt đầu phát huy tác dụng, thực sự góp phần “kiến tạo” nên một động lực mới cho nền kinh tế trong những năm tiếp theo. Đồng thời, cũng từ chính sách VAMC và “chính sách 0 đồng” đã và đang gợi mở cho các nhà lập pháp và các nhà hoạch định chính sách một hướng đi mới trong việc kiến tạo nên một chính sách mới cao hơn, đó là xây dựng Luật hỗ trợ tái cơ cấu tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ. Rõ ràng, xuất phát từ đòi hỏi khách quan của thực tiễn, chính sách VAMC hay “chính sách 0 đồng” là những chính sách mang tính nền tảng cho quá trình kiến tạo nên một chính sách mới ra đời, góp phần quan trọng vào quá trình tháo gỡ kịp thời những vấn đề vướng mắc về cơ chế, chính sách trong hiện tại, và tạo ra nền tảng pháp lý cơ bản cho quá trình giải quyết nhanh những vấn đề có thể phát sinh trong dài hạn.

 

4. Những chính sách mang tính kiến tạo và định hướng đến năm 2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Đứng trước những thử thách mới trong năm 2017 và đến năm 2020, trong đó toàn ngành Ngân hàng tiếp tục tập trung xử lý triệt để nợ xấu và các NHTM 0 đồng... nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo tăng trưởng tín dụng toàn ngành ở mức 18% để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế quốc gia đạt ở mức 6,7% cũng như duy trì và kìm chế lạm phát ở mức dưới 4% mà Chính phủ và Quốc hội đặt ra cho ngành Ngân hàng là những thách thức sẽ được hình thành trong các chính sách mang tính kiến tạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2017. Hơn nữa, chúng ta đang đứng trước một thế giới bất định, trước những tuyên bố cứng rắn phát đi từ Nhà trắng của Tổng thống mới đắc cử Donald Trump về việc Mỹ rút lui khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào ngày 24/1/2017 đang đặt ra cho 11 nước còn lại trong TPP những thách thức và khó khăn cần tiên lượng trong các chính sách mang tính “kiến tạo” trong thời gian tới. Hay vấn đề Brexit của nước Anh ra khỏi Liên minh châu Âu vừa mới được Bà Thủ tướng Theresa May tuyên bố vào trung tuần tháng 1/2017, đó là nước Anh sẽ chính thức kích hoạt Điều khoản 50 của Hiệp ước Lisbon vào tháng 3/2017 tới mà không cần bất cứ sự cam kết hay thỏa thuận nào với Liên minh châu Âu...; đặc biệt là trong cuộc vận động bầu cử Tổng thống Pháp nhiệm kỳ tới, một số ứng cử viên Tổng thống cũng đang lấy phương châm “vì một nước Pháp” chứ không phải vì châu Âu để làm mục tiêu tranh cử. Những hành động của những người đứng đầu các quốc gia thuộc nhóm G7 nói trên đang hướng tới chế độ bảo hộ trong nước mạnh hơn là thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài, điều này chắc chắn sẽ tạo ra những cơn dư chấn khó lường đối với chính sách kinh tế nói chung, chính sách tài chính, tiền tệ nói riêng của các nước trên thế giới. Từ những phân tích mang tính thách thức nói trên, việc hoàn thiện thể chế, các cơ chế chính sách của ngành Ngân hàng trong thời gian tới cần tính tới những thay đổi khi Mỹ không còn tham gia TPP cùng với hàng loạt thay đổi khác mà Mỹ có thể thực thi như tăng thuế nhập khẩu hàng hóa vào Mỹ lên tới 45%, cũng như sự kiện Brexit của Anh và những thay đổi có thể xảy ra tại châu Âu... chắc chắn sẽ kéo theo nhiều biến động của cả thế giới... trong năm 2017 và tới 2020.

Tuy nhiên, chúng ta có thể khẳng định rằng, cho đến thời điểm này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là thành viên của Chính phủ đã có những bước tiến dài trong việc hoàn thiện thể chế, các cơ chế chính sách của ngành, trong đó có những chính sách kiến tạo mang tính “đi tắt đón đầu” với tinh thần hội nhập sâu rộng và quyết liệt. Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về “Quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2020 là một trong những minh chứng rõ ràng nhất. Thông tư ra đời trước 5 năm, nghĩa là trước khi cho phép các NHTM áp dụng Thông tư 41 vào năm 2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang gửi đi một thông điệp hết sức rõ ràng tới các NHTM trong nước và ngoài nước đang hoạt động tại Việt Nam rằng: để áp dụng được Thông tư 41, trước hết các NHTM phải hoàn thành quá trình tái cơ cấu giai đoạn 2 (2016 - 2020), sau tái cơ cấu giai đoạn 2, có nghĩa là các ngân hàng đã xử lý xong toàn bộ nợ xấu, minh bạch sổ sách, không ngừng nâng cao tiềm lực tài chính, tiềm lực quản trị kinh doanh của ngân hàng nói chung, Ban Quản trị và điều hành nói riêng theo chuẩn quốc tế... Nói cách khác, trước khi các NHTM nhập vào đường ray chuẩn quốc tế theo tinh thần Hiệp ước Basel II, từ nay đến năm 2020, các NHTM phải chạy thử với tốc độ đủ lớn, đủ mạnh trước khi nhập vào đường ray chuẩn quốc tế có tốc độ cao hơn. Đồng thời, liên quan đến tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu trong thời gian tới, hiện tại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang chủ trì, phối hợp soạn thảo Luật hỗ trợ tái cơ cấu tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu. Đây cũng được coi là một trong những chính sách kiến tạo, theo hướng “hành động quyết liệt” nhằm tạo ra khung hành lang pháp lý đủ mạnh, cho quá trình xử lý lâu dài các vấn đề có thể phát sinh liên quan đến các TCTD và nợ xấu.

“Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân, phục vụ cộng đồng doanh nghiệp...” đang trở thành kim chỉ nam hành động của Chính phủ và các Bộ/Ngành trong nhiệm kỳ 2016 - 2020. Ngành Ngân hàng vững bước tiến vào con đường hội nhập, sánh vai với các nước trong khu vực và thế giới, ngay hôm nay, bằng những chính sách như Thông tư 41, các Chỉ thị 01, Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày 10/1/2017 của Ngân hàng Nhà nước về tăng cường bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các TCTD và xử lý nợ xấu... cũng như việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án luật như đề cập trên, chắc chắn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ “kiến tạo” và dẫn dắt toàn bộ ngành Ngân hàng thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế vĩ mô mà Chính phủ và Quốc hội giao phó cho ngành trong năm 2017 và cho cả giai đoạn 2016 - 2020.

Nguồn:

- Thời báo kinh tế số 17+18 ra ngày 20-21/1/2017.

- Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về “quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.

- Thời báo Ngân hàng số tết Bính thân 2016.

- Thời báo Ngân hàng số 21 thứ hai ra ngày 6/2/2017.

- Chỉ thị 01 và Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày 10/1/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

- Các trang Web của: NHNN và các Bộ/Ngành có liên quan.

 

1 BIDV

2 VPbank Hải Phòng


  • aA
  • Categories:
  • Tạp chí Ngân hàng
OTHER NEWS
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
04/11/2026
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
04/06/2026
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
04/10/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
03/07/2027
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
03/04/2027
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
03/04/2027
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
03/04/2027
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
03/06/2026
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
03/06/2026
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
03/06/2026
Showing 1 to 10 of 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready