Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Tạp chí Ngân hàng

Hướng tới mô hình quản lý tập trung mạng lưới ATM tại Việt Nam (số 9)

05/06/2017 22:30:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Hướng tới mô hình quản lý tập trung mạng lưới ATM tại Việt Nam

ThS. Đinh Xuân Hà và ThS. Nguyễn Thị Mai Phượng1

 

Các máy rút tiền tự động, còn gọi tắt là ATM, trong những năm qua ở Việt Nam đã thể hiện vai trò quan trọng như là một kênh khách hàng bán lẻ không thể thiếu của các ngân hàng thương mại (NHTM), đặc biệt đặt trong bối cảnh thực hiện chủ trương của Chính phủ thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Xu hướng phát triển mạnh mẽ của các kênh thanh toán hiện đại như internet banking, mobile banking những năm gần đây cho thấy chúng chỉ là các kênh bổ sung chứ không phải là thay thế ATM. Các ngân hàng Việt Nam hiện vẫn đang tích cực tìm cách khai thác các máy ATM của mình, đặc biệt chú trọng đến phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng mang lại nhiều tiện ích hơn nữa cho người sử dụng chứ không chỉ là một máy rút tiền thuần túy. Hơn nữa, trong bối cảnh gặp nhiều hạn chế trong việc mở rộng chi nhánh, phòng giao dịch, ATM sẽ là một kênh bổ sung để mở rộng mạng lưới dịch vụ ngân hàng trong những năm tới. Tuy nhiên, một vấn đề nổi lên là làm thế nào khai thác kênh phân phối này một cách hiệu quả xét trên góc độ tổng thể nền kinh tế, trong đó đảm bảo hài hòa lợi ích của người dân và của cả tổ chức khai thác vận hành ATM. Bài viết này tìm hiểu các mô hình quản lý mạng lưới ATM trên thế giới và đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam.

Hiện nay, trên thế giới, các mô hình hợp tác liên kết phát triển mạng lưới ATM điển hình gồm mô hình mạng lưới dùng chung và mô hình quản lý tập trung ATM.

1. Mô hình mạng lưới ATM dùng chung

Xu hướng mạng lưới ATM dùng chung (shared ATM network) xuất hiện khá sớm tại các nước Châu Âu và Mỹ từ cuối những năm 70 và đầu 80 của thế kỷ trước. Ban đầu các máy ATM của ngân hàng đều là hệ thống ATM đơn lẻ được đặt tại các ngân hàng (hay còn gọi là ATM tại trụ sở). Qua thời gian, các tổ chức tài chính (chủ yếu là các ngân hàng) đã kết nối các hệ thống ATM thuộc sở hữu của mình vào trong mạng lưới từng nhóm ngân hàng. Các mạng lưới ATM dùng chung này với sự tham gia của hệ thống chuyển mạch đã cho phép khách hàng truy cập tài khoản của mình từ tất cả các ATM do thành viên của mạng lưới sở hữu chứ không chỉ từ các ATM của ngân hàng phát hành thẻ của họ. Những mạng lưới ATM dùng chung giúp mở rộng cơ sở khách hàng, cung cấp dịch vụ nhiều hơn, tận dụng được hiệu suất hoạt động của các ATM, đặc biệt là các ATM tại các vị trí ngoài trời thuận lợi như tại siêu thị, trung tâm thương mại hay các cửa hàng tiện lợi, bởi chúng có thể phục vụ cho khách hàng của nhiều ngân hàng ngoài ngân hàng sở hữu máy.

Tuy nhiên, các mạng lưới riêng lẻ của từng nhóm ngân hàng mặc dù tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường ATM nhưng cũng đặt ra một số vấn đề, đặc biệt là việc khách hàng gặp bất tiện khi sử dụng ATM của mạng lưới khác. Xu hướng kết nối liên thông giữa các mạng đã diễn ra mạnh mẽ trong những năm 1980 và đầu 1990, nhờ được hỗ trợ bởi sự phát triển của ngành công nghệ thông tin và viễn thông. Kết quả là, ở những nước có triển khai mạng ATM sớm như ở Châu Âu và Bắc Mỹ, chủ thẻ của một ngân hàng này đã có thể sử dụng ATM của một ngân hàng bất kỳ trên lãnh thổ quốc gia đó.

Lợi thế kinh tế theo quy mô của ngành kinh doanh mạng lưới như hệ thống ATM cùng với tính chất cạnh tranh đã dẫn đến xu hướng sáp nhập giữa các mạng khu vực hoặc thiết lập những mạng lưới quốc gia, theo đó, các ngân hàng hoặc tổ chức tài chính có sở hữu ATM đều trở thành thành viên. Việc hình thành những mạng lưới quốc gia đã khắc phục những hạn chế của mô hình chuyển mạch phân tán, tối ưu hóa hạ tầng kỹ thuật của xã hội, tạo điều kiện để nâng cao chất lượng dịch vụ và áp dụng chính sách thống nhất, mang lại lợi ích lớn hơn cho người sử dụng. Từ cuối những năm 1990 đến nay, tất cả các nước Châu Âu chỉ có 1 mạng lưới ATM có phạm vi hoạt động quốc gia, và một số nước có thêm một hoặc hai mạng lưới nhỏ hoạt động song song. Riêng trường hợp Mỹ, với đặc điểm là một quốc gia rộng lớn, hiện tồn tại khoảng 40 mạng lưới khu vực, trong đó có 10 mạng lớn và hai mạng quốc gia là Plus (của liên minh thẻ Visa) và Cirrus (của liên minh thẻ MasterCard). Tuy nhiên, con số này đã giảm mạnh so với 120 mạng khu vực từ giữa những năm 1980 do sự sáp nhập và thôn tính diễn ra mạnh mẽ từ thời điểm đó cho đến đầu những năm 2000. Ở Mỹ, các ngân hàng thường đồng thời thuộc một mạng khu vực và một mạng quốc gia.

Việc điều hành một mạng lưới quốc gia, chẳng hạn như ở Châu Âu, thường dưới hình thức một công ty liên doanh mà tất cả các thành viên tham gia mạng lưới đều có sở hữu chung. Tuy nhiên, việc ra quyết định về quy hoạch mạng lưới ATM hay lắp đặt mới là thuộc thẩm quyền khác nhau giữa các nước. Một số nước như Pháp, Bỉ, Bồ Đào Nha, việc quy hoạch vị trí và lắp đặt thêm là do tổ chức mạng lưới quyết định trong khi một số nước như Áo, Đan Mạch lại trao quyền quyết định cho các ngân hàng thành viên nhưng theo sự phân bổ hạn ngạch do mạng lưới đưa ra hàng năm dựa trên thị phần tiền gửi của mỗi ngân hàng.

 

Hộp 1: Mạng ATM dùng chung của Bỉ

Vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước, các ngân hàng lớn của Bỉ đã hợp tác với nhau và tạo nên 2 hệ thống ATM cạnh tranh nhau là Bancontact và Mister Cash. Khách hàng có thể rút tiền ở bất kỳ một máy ATM nào trong hệ thống của mình nhưng không thể rút tại máy ATM của hệ thống khác. Do vấn đề chi phí lắp đặt, vận hành lớn, cũng như áp lực của công chúng đối với việc tăng tiện ích người dùng, 2 hệ thống này được kết nối tương thích vào năm 1987. Sau nhiều cuộc đàm phán và thử nghiệm kết nối về mặt kỹ thuật và công nghệ, vào ngày 14/6/1989, hai hệ thống Bancontact và Mister Cash được sáp nhập hoàn toàn và Banksys được thành lập. Đây là một công ty riêng biệt chịu trách nhiệm quản lý hệ thống ATM-POS và các dịch vụ điện tử liên quan đến thẻ ghi nợ Bankcontact và Mister Cash. Banksys thuộc sở hữu của các ngân hàng với mức góp vốn của 5 ngân hàng lớn (Banque de Bruxelles/Bank van Brussel - BB, Crédit Communal/Gemeente-krediet- CC/GK, CGER/ASLK, Générale de Banque/Generale Bank - GB và Kredietbank) là 16%/ngân hàng và 20% còn lại là của các tổ chức tài chính khác (các tổ chức này được tự do phân chia cổ phần nếu họ thấy hợp lý). Nhiệm vụ chính của Banksys (sau này là Atos Worldline) là phát triển và quản lý các hệ thống thanh toán điện tử (ATM-POS) cho ngân hàng, thương nhân và người tiêu dùng tại Bỉ, bao gồm: giám sát việc thanh toán và sử dụng thẻ do các ngân hàng phát hành và tạo ra các thông báo mã PIN cho tất cả thẻ ngân hàng. Banksys kết nối trực tiếp vào trung tâm thanh toán bù trừ tự động và các giao dịch ATM/POS được bù trừ trong hệ thống này. Banksys có liên quan đến hầu hết tất cả các thanh toán thẻ tại Bỉ thông qua việc xử lý các giao dịch thẻ tín dụng, vận hành tổ chức thẻ ghi nợ nội địa Bancontact hay Mister Cash và vận hàng hệ thống tiền điện tử Proton.

Ngoài ra, Banksys còn phát triển các giải pháp công nghệ để đơn giản hóa và bảo mật cho các giao dịch điện tử. Sau khi thành lập, Banksys đã tiếp quản tất cả hoạt động của hai hệ thống Bancontact và Mister Cash. Banksys giữ lại thương hiệu Bancontact và Mister Cash đã được công chúng biết đến và kết hợp logo của hai thương hiệu này với nhau. Bên cạnh đó, Banksys cũng tiến hành nghiên cứu để lựa chọn và đưa ra một nền tảng chung, tích hợp được các tiện ích của hai hệ thống hạ tầng. Hạ tầng Bancontact được lựa chọn là hạ tầng chính và các thiết bị đầu cuối của hệ thống Mister Cash được kết nối với máy tính trung tâm tại Bancontact mà Banksys đang tiếp quản. Rất nhiều thiết bị cần được thay thế trong quá trình vận hành. Các thiết bị khác phải được cài đặt phần mềm mới để có thể đọc được các loại thẻ khác nhau. Trong quá trình kết nối này, hệ thống điện tử viễn thông Banconet mà Bancontact đã sử dụng từ khi thiết lập hệ thống cũng được thay thế. Hệ thống Baxnet mới được chính thức đưa vào hoạt động từ ngày 28/8/1991. Kể từ thời điểm đó, hệ thống thanh toán điện tử tại Bỉ bắt đầu bùng nổ. Theo thống kê của Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) trong Red Book 2003, tính đến 31/12/2000, tại Bỉ có 10.96 triệu thẻ ghi nợ được sử dụng với tỷ lệ 77 thẻ/100 tài khoản vãng lai; 1.350 máy ATM và 116.436 POS. Tất cả các thẻ này đều có thể sử dụng được tại ATM và POS. Chỉ trong vòng 10 năm, số lượng thẻ ghi nợ được sử dụng tại Bỉ đã tăng gấp đôi. Thời điểm 31/12/1990, chỉ có 5.25 triệu thẻ ghi nợ được sử dụng với tỷ lệ 52 thẻ/100 tài khoản và 52 thẻ/100 người dân. Kể từ năm 2007, Banksys được chuyển giao cho Atos Worldline.

Việc giám sát Banksys của Ngân hàng quốc gia Bỉ (National Bank of Belgium) tập trung chủ yếu vào sự sẵn sàng hoạt động, độ tin cậy và bảo mật.

 

 

 

2. Mô hình quản lý tập trung ATM

Xu hướng phát triển, lắp đặt hệ thống ATM bên ngoài trụ sở chi nhánh ngân hàng như tại các trung tâm thương mại, trường đại học, cửa hàng tiện lợi, sân bay… đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các tổ chức phát triển ATM độc lập (IAD - Independent ATM Deployers). Các tổ chức IAD thường là các tổ chức phi ngân hàng, được phép đầu tư phát triển và vận hành hệ thống ATM của riêng mình. Theo nghiên cứu của Retail Banking Research (một công ty nghiên cứu chiến lược và tư vấn có 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, ngân hàng tự động và hệ thống thanh toán), các IAD hiện nay hiện diện ở tất cả các khu vực trên thị trường ATM thế giới và chiếm 17% tổng số ATM được lắp đặt. Tại Bắc Mỹ, IAD chiếm hơn 50% tổng số ATM được lắp đặt. Con số này tại Châu Á - Thái Bình Dương, Tây Âu, Trung Đông và Châu Phi là 10%. Các khu vực khác như Trung và Đông Âu, Châu Mỹ La tinh là ít hơn 2%.

Do quản lý ATM là một hoạt động chuyên biệt và cần được quản lý vận hành bởi những công ty chuyên về lĩnh vực này. Hơn nữa, để khai thác tính hiệu quả kinh tế nhờ quy mô của loại hình mạng lưới của hệ thống ATM, mô hình quản lý tập trung sẽ ưu việt hơn hẳn so với mô hình quản lý phân tán của từng ngân hàng. Chính vì vậy, các IAD hiện nay có xu hướng quản lý tập trung đối với các dịch vụ liên quan đến vận hành hệ thống ATM gồm dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng, giám sát, vệ sinh, tiếp quỹ… Các ngân hàng sở hữu ATM có thể ký hợp đồng thuê ngoài với các công ty chuyên biệt này (IAD) để thực hiện những dịch vụ đó. Ở nhiều nước việc tiếp quỹ cho ATM cũng có thể được thuê ngoài với các công ty tiếp quỹ, vận chuyển tiền. Việc quy hoạch mạng lưới ATM cũng được các IAD thực hiện. Các ngân hàng không có đủ chuyên nghiệp để đảm nhiệm tất cả những vấn đề như vậy.

Như vậy, các ngân hàng có thể thuê ngoài một số dịch vụ vận hành hoặc toàn bộ hệ thống ATM. Theo đó, máy ATM và địa điểm thuê là sở hữu của các tổ chức cung ứng dịch vụ, trong khi tiền và hoạt động tiếp quỹ, kết nối và quản lý do ngân hàng đảm trách. ATM có thể vẫn mang logo của ngân hàng. Rõ ràng hiệu quả sử dụng sẽ tăng lên ở mô hình này vì nó giúp giảm chi phí cho ngân hàng ở hai khía cạnh: (i) vốn đầu tư do các nhà kinh doanh ATM chi trả nên các ngân hàng không bị chôn vốn vào những tài sản có tốc độ khấu hao nhanh; (ii) các nhà kinh doanh ATM nhận được khoản phí từ các ngân hàng cho mỗi giao dịch ATM sử dụng thẻ do ngân hàng phát hành. Trong nhiều trường hợp, các tổ chức cung cấp dịch vụ ATM đảm nhiệm việc xác định vị trí đặt máy ATM, kết nối và lắp đặt nguồn điện, đàm phán với chủ cho thuê địa điểm và hoàn thiện phần lắp đặt và trang trí boot ATM. Hiện nay, các ngân hàng không còn chú trọng đầu tư mạng lưới ATM nhiều nữa, thay vào đó họ dựa vào các dịch vụ ATM thuê ngoài từ các tổ chức chuyên nghiệp này.

 

Hộp 2. Mô hình của Seven Bank (Nhật Bản)

Seven Bank Ltd là công ty con của tập đoàn Seven & I Holding Co., được thành lập năm 2001 nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng sử dụng hệ thống cửa hàng tiện lợi Seven-Eleven về việc lắp đặt các ATM trong các cửa hàng tiện lợi này. Ban đầu, công ty này là IY Bank Co. Ltd và đến tháng 10/2005 mới đổi tên thành Seven Bank, Ltd.

Trải qua hơn 10 năm đi vào hoạt động, Seven Bank luôn tập trung xây dựng chiến lược và hoạt động kinh doanh của mình dựa trên mong muốn của khách hàng về các dịch vụ ATM “có thể truy cập mọi lúc, mọi nơi, an toàn, bảo mật và phù hợp với tất cả mọi khách hàng”. Theo Báo cáo thường niên 2014, tính đến 31/3/2014, Seven Bank đã lắp đặt 19.514 máy ATM trên toàn Nhật Bản. Ban đầu, Seven Bank chỉ lắp đặt ATM tại các cửa hàng tiện lợi thuộc hệ thống Seven-Eleven (thuộc Seven & I Holding Group) nhưng sau đó đã mở rộng ra các địa điểm khác như sân bay, nhà ga, bến tàu, các địa điểm thương mại, các tòa công sở… Trong số 19.514 máy của Seven Bank, số máy lắp đặt tại các cửa hàng Seven-Eleven là 17.616 chiếc; tại các cửa hàng Ito-Yokado là 312 chiếc, tại các của hàng khách thuộc hệ thống: 214 chiếc; tại các địa điểm thương mại: 551 chiếc; chi nhánh của các tổ chức tài chính đối tác: 488 chiếc; sân bay: 36 chiếc; nhà ga, bến tàu: 89 chiếc; điểm dừng trên đường cao tốc: 49 chiếc; các tòa công sở và địa điểm khác: 159 chiếc. Hiện nay, Seven Bank chiếm 10% số lượng ATM toàn thị trường, 37,3% thị phần của các IAD tại Nhật Bản.

Seven Bank thu phí sử dụng ATM từ các tổ chức tài chính đối tác mỗi khi khách hàng của tổ chức đó thực hiện các giao dịch sử dụng giao diện ATM của tổ chức đó trên ATM của Seven Bank (~ 130 Yen/giao dịch ~ 1.1USD/giao dịch). Tổ chức tài chính lại thu của khách hàng phí giao dịch ATM. Với mô hình kinh doanh như vậy, thậm chí khi các dịch vụ ATM miễn phí mà các tổ chức tài chính cung cấp cho khách hàng có tăng lên thì Seven Bank cũng không bị quá ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh từ các tổ chức tài chính.

Seven Bank đã xây dựng một mô hình kinh doanh duy nhất dựa trên sự cùng tồn tại và cùng phát triển mà không chỉ đem đến lợi ích cho khách hàng sử dụng ATM mà cả cho tổ chức tài chính đối tác.Vì đây là lĩnh vực kinh doanh chính nên quy hoạch và quản lý mạng lưới, thiết lập địa điểm đặt ATM do ngân hàng này quyết định. Để phục vụ tốt khách hàng của mình, Seven Bank đã thuê ngoài một số dịch vụ quan trọng như: tiếp quỹ ATM, phát triển và vận hành các hệ thống an ninh, bảo trì, bảo dưỡng ATM…

Ưu điểm của mô hình này:

- Đối với khách hàng: được sử dụng dịch vụ ATM thuận tiện về thời gian và địa điểm giao dịch cũng như bảo đảm vấn đề an toàn và bảo mật. Cụ thể:

+ Dịch vụ ATM luôn luôn sẵn có 24/365.

+ Khách hàng có thể sử dụng thẻ ngân hàng của mình để truy cập một mạng lưới của hơn 580 tổ chức tài chính.

+ Khi khách hàng thực hiện việc rút hoăc nạp tiền thì được sử dụng màn hình giao diện ATM của chính tổ chức tài chính mà mình mở tài khoản.

+ Không cần phải mang theo nhiều tiền mặt khi đến Nhật Bản.

+ Truy cập các dịch vụ giống hệt nhau tại bất kỳ ATM nào của Seven Bank trên toàn nước Nhật.

+ An toàn vì ATM được lắp đặt trong các cửa hàng tiện lợi.

- Đối với các tổ chức tài chính:

+ Được truy cập vào một hệ thống ATM toàn quốc hoạt động 24/365 mà không phải tốn tiền đầu tư ATM.

+ Sử dụng như ATM do mình sở hữu: Mỗi tổ chức tài chính tự quyết định mức phí giao dịch của mình; Màn hình giao dịch giống hệt màn hình máy ATM do tổ chức tài chính sở hữu.

+ Giảm chi phí sở hữu ATM; có thể xây dựng chiến lược quảng bá sử dụng mạng lưới ATM của Seven Bank.   

 

3. Bài học kinh nghiệm và gợi ý cho Việt Nam

Từ nghiên cứu về sự phát triển của mạng lưới ATM cũng như kinh nghiệm quản lý của một số nước có thể rút ra một số điểm sau đây:

Thứ nhất, cho đến nay, các mạng lưới ATM ở hầu hết các nước trên thế giới đều đã phát triển qua các giai đoạn: các ATM từ chỗ nằm trong trụ sở các ngân hàng đã vươn ra ngoài trụ sở nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng; từ các mạng ATM riêng lẻ thuộc sở hữu của từng ngân hàng chuyển sang các mạng dùng chung qua trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất. Khách hàng của một ngân hàng có thể sử dụng ATM của ngân hàng khác để giao dịch.

Thứ hai, máy ATM được coi là một kênh phục vụ khách hàng nhưng không được tính là mạng lưới của ngân hàng như chi nhánh và do đó việc phát triển hệ thống ATM không cần phải cấp phép như đối với chi nhánh. Trước đây việc lắp đặt mới ATM cần được cấp phép nhưng hiện nay hầu hết các nước đều bãi bỏ quy định này.

Thứ ba, mặc dù, các kênh thanh toán điện tử khác như internet payment, mobile payment ra đời và phát triển mạnh mẽ, song cũng chỉ là các kênh bổ sung chứ không phải là thay thế ATM. Trong tương lai, ATM vẫn là một kênh khách hàng phát triển, đặc biệt là khi các ngân hàng đồng bộ hóa các dịch vụ ngân hàng trên ATM giống như một chi nhánh hay phòng giao dịch.

Thứ tư, tham gia phát triển mạng lưới ATM không chỉ có các ngân hàng, mà còn có các tổ chức phi ngân hàng sở hữu, vận hành và cung cấp dịch vụ ATM cho các đối tác là ngân hàng (được gọi tắt là các IAD). Quá trình tập trung hóa mạng ATM còn tạo điều kiện ra đời các tổ chức cung ứng dịch vụ hỗ trợ bên thứ ba chuyên môn hóa vào một số dịch vụ như bảo hành, bảo dưỡng thiết bị, điều hòa và tiếp quỹ cho các ATM…

Thứ năm, sự hiện diện của máy ATM bên ngoài trụ sở đã thúc đẩy các định chế tài chính sở hữu chúng phải có chiến lược quy hoạch và quản lý mạng lưới ATM. Với vai trò là các điểm cung cấp dịch vụ, các tổ chức sở hữu ATM thường tính tới các yếu tố doanh thu, chi phí và hiện diện thương hiệu khi quyết định địa điểm lắp đặt ATM. Mọi quyết định liên quan tới việc quy hoạch mạng lưới, đầu tư thêm hoặc loại bỏ bớt máy ATM, địa điểm đặt máy ATM thường do các chủ sở hữu ATM quyết định. Trong trường hợp mạng lưới ATM thuộc sở hữu của nhiều tổ chức khác nhau được quản lý tập trung, các quyết định loại này phải thông qua đại diện của các bên sở hữu, thường dưới hình thức ủy ban. Ủy ban này bao gồm những đại diện của các định chế sở hữu ATM, thông qua quyết định số lượng và vị trí đặt máy ATM. Việc thực hiện phải có cơ chế cụ thể để bảo đảm sự hợp tác giữa các ngân hàng, trên cơ sở hài hòa lợi ích chung giữa các bên, căn cứ trên thị phần và tỷ lệ phí giao dịch qua các ATM trong mạng lưới dùng chung. Trong một số trường hợp, các ngân hàng vẫn có quyền ra quyết định đầu tư và lắp đặt mới ATM trong mạng lưới nhưng theo sự phân bổ hạn ngạch do Ủy ban quyết định, thường phân bổ theo thị phần tiền gửi của ngân hàng thành viên như trường hợp một số nước Châu Âu.

Ở Việt Nam, Đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất đã được triển khai kể từ 2006. Công ty chuyển mạch BanknetVN được lựa chọn làm hạt nhân để xây dựng thành Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất theo Quyết định 3113/2007/QĐ-NHNN ngày 31/12/2007. Theo đó, từ năm 2008 đến 2010, 3 tổ chức chuyển mạch thẻ (Banknet, VNCB và Smartlink) đã lần lượt kết nối với nhau tạo ra sự liên thông giữa hệ thống thanh toán thẻ của tất cả các ngân hàng trong nước, mang lại tính thống nhất cho toàn hệ thống ATM và tạo ra một mạng lưới thanh toán thẻ rộng khắp tại Việt Nam. Để thúc đẩy quá trình hiện đại hóa công nghệ thanh toán của từng tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua đó góp phần tránh lãng phí hạ tầng xã hội; Tăng cường vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước trong hoạt động thanh toán thẻ; Tạo thuận lợi và mang lại lợi ích tốt hơn với các dịch vụ phong phú và chất lượng hơn cho người sử dụng thẻ, bắt đầu từ tháng 12/2014, hai liên minh thẻ lớn nhất Việt Nam là Banknet và Smartlink (chiếm 90% thị phần) được hợp nhất với nhau để trở thành một Trung tâm chuyển mạch thống nhất tại Việt Nam. Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất sẽ tập trung chức năng chuyển mạch các giao dịch thanh toán thẻ qua hệ thống ATM và hệ thống POS về một đầu mối duy nhất nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình chuyển mạch phân tán như trước đây, tiết kiệm đầu tư hạ tầng kỹ thuật của xã hội, tạo điều kiện để nâng cao chất lượng dịch vụ và áp dụng chính sách thống nhất, mang lại lợi ích tối đa cho người sử dụng. Theo số liệu khảo sát từ các ngân hàng, tỷ lệ giao dịch ngoại mạng (not-on-us) trung bình trên tổng số giao dịch của một máy ATM hiện nay vào khoảng 37%, cho thấy hành vi lựa chọn máy ATM ngoài mạng để đáp ứng sự tiện lợi cho người sử dụng là khá cao ở Việt Nam, đồng thời cho thấy mức phí hiện nay là khá hợp lý xét trên góc độ người sử dụng.

Như vậy, vấn đề sử dụng chung mạng lưới ATM ở Việt Nam đã được giải quyết thành công, phù hợp với xu hướng quốc tế, mang lại lợi ích rõ ràng cho người dùng thẻ và các tổ chức phát hành thẻ.

Về vấn đề quản lý tập trung hệ thống ATM. Thông thường ở các nước, hệ thống ATM trong phạm vi chi nhánh, phòng giao dịch (on-site) thường do các ngân hàng sở hữu và quản lý. Việc vận hành có thể được thuê ngoài ở một số khâu, bao gồm cả tiếp quỹ. Đối với hệ thống ATM bên ngoài chi nhánh (off-site), nhìn chung là thị trường cạnh tranh tự do với rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ, và đặc biệt là cho phép sự tham gia của các tổ chức phi tài chính đầu tư phát triển ATM của riêng mình (IAD). Ở Mỹ, ba phần tư (77%) số ATM ở bên ngoài chi nhánh là thuộc sở hữu của các IAD. Thậm chí, một cửa hàng tiện lợi, trường học, hay bệnh viện cũng có thể sở hữu ATM, miễn là máy ATM được kết nối với mạng thanh toán thẻ và được một ngân hàng bảo trợ. Ở Nhật Bản chuỗi cửa hàng tiện lợi Seven-Eleven có mặt trên khắp nước Nhật đồng thời cũng thành lập một Công ty phát triển ATM có tên gọi là Seven Bank có nhiệm vụ lắp đặt ATM không những ở toàn bộ chuỗi cửa hàng tiện lợi mà còn những vị trí bên ngoài. Với những công ty độc lập này, việc quản lý và vận hành ATM có thể được tổ chức một cách tập trung, mang tính chuyên nghiệp hơn. Những công ty phát triển ATM độc lập cũng có thể thuê ngoài rất nhiều khâu trong quá trình vận hành hệ thống ATM của mình, chẳng hạn như bảo trì, vệ sinh, an ninh, giám sát, tiếp quỹ… Đồng thời những công ty độc lập này có thể cho các ngân hàng (hoặc tổ chức khác) thuê lại máy ATM của công ty (leasing). Nhiều ngân hàng hiện cũng có xu hướng đi thuê máy ATM thay vì sở hữu và vận hành riêng, vừa không chuyên nghiệp bằng vừa giải phóng được nguồn lực, giúp nhân viên ngân hàng tập trung nhiều hơn vào các hoạt động lõi của mình.

Ở Việt Nam, thực tế cho thấy đã có khuynh hướng thuê ngoài đối với một số khâu trong quản lý vận hành ATM, nhất là bảo trì, bảo vệ, vệ sinh, sửa chữa... Tuy nhiên những hoạt động này chỉ đang diễn ra ở từng ngân hàng riêng lẻ. Nếu nhiều ngân hàng cùng thuê ngoài cho một đơn vị độc lập nào đó sẽ có được sự chuyên nghiệp hơn, đồng thời cũng có hiệu quả cao hơn vì chi phí có thể giảm xuống với mô hình quản lý tập trung như những kinh nghiệm đã đề cập đến ở phần trên. Đây có thể là một thị trường phát triển tiềm năng trong tương lai gần.

Để đạt tới một thị trường ATM với mạng lưới quy hoạch hợp lý và hoạt động hiệu quả, gia tăng lợi ích cho người tiêu dùng tại Việt Nam, một số điểm sau cần được lưu ý:

- Các qui định điều chỉnh hoạt động ATM nên mở ra theo hướng cho phép sự tham gia của nhiều tổ chức phát triển ATM độc lập, cho cả các tổ chức phi tài chính. Đây sẽ là những nhân tố thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực này. Sự mở cửa này cũng cần áp dụng cho cả POS.

- ATM cần được coi là kênh cung cấp dịch vụ ngân hàng tự phục vụ và không được coi là mạng lưới của một ngân hàng. Việc kinh doanh lãi lỗ thuộc trách nhiệm của ngân hàng đầu tư và vận hành ATM. Cơ quan quản lý chỉ nên kiểm tra việc đủ điều kiện hoạt động chứ không nên cấp phép đối với việc lắp đặt mới, thay thế, di dời hay loại bỏ ATM của ngân hàng.

- Cần chuẩn hóa hoạt động của ATM. Những quy chuẩn này bao gồm từ những yêu cầu kỹ thuật cho đến quy trình giải quyết khiếu nại của khách hàng áp dụng cho hoạt động của toàn hệ thống ATM và cần được ban hành dưới hình thức một văn bản quy phạm pháp luật.

- Khuyến khích các ngân hàng đẩy mạnh thuê ngoài đối với các hoạt động trong vận hành ATM của ngân hàng, cụ thể là bảo trì, vệ sinh, an ninh, giám sát… Khuyến khích thành lập các công ty độc lập cung cấp dịch vụ ATM chuyên môn hóa vào một số khâu: quản lý giám sát, vệ sinh, bảo trì, an ninh…

- Nghiên cứu thí điểm thành lập một tổ chức quản lý tập trung đối với hệ thống ATM bên ngoài chi nhánh của một số ngân hàng thương mại trên địa bàn một thành phố dưới hình thức công ty cổ phần với sự tham gia của các ngân hàng liên quan. Tổ chức đó sẽ có trách nhiệm quản lý hệ thống ATM về mặt sở hữu, lập quy hoạch phát triển, khai thác, vận hành, bảo dưỡng, nâng cấp,... Mô hình quản lý tập trung như vậy sẽ tạo điều kiện tối ưu hóa các quy trình vận hành, bao gồm cả quy trình tiếp quỹ. Mô hình này sẽ mở rộng dần cho các ngân hàng khác khi phát huy hiệu quả.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Richard Pitt (2011), Evolving Options for ATM Outsourcing: Pooling Can Keep Your Chanel Competitive, First Data Corporation at http://www. firstdata. com/downloads/thought-leadership/Evolving-ATM-Options-WP. pdf

2. CPSS (2003), Payment Systems in Belgium, Red Book at http://www. bis. org/cpmi/paysys/belgiumcomp. pdf

3. CPSS (2012), Payment, Clearing and Settlement Systems in Belgium, Red Book at http://www. bis. org/cpmi/publ/d105_be. pdf

4. ECB (2007), Payment and Securities Settlement Systems in the European Union, Blue Book, Volume 1 at http://www. ecb. europa. eu/pub/pdf/other/ecbbluebookea200708en. Pdf

5. Banksys (2004), About Cards and Terminals - 25 Years of Electronic Payments in Belgium, at https://mypaymentsolution. be/adminV3/ContentManager/display/000/506/465/5064653. Pdf

6. Retail Banking Research (2013), Global ATM Market and Forecast to 2018, a summary at http://www. paymentscardsandmobile. com/global-atm-market-grows-demand-cash-increases/

7. Japanese Banker Association (2012), Payment Systems in Japan, at www. zenginkyo. or. jp/.../payment-systems/paymentsystem...

8. BIS (2012), Payment, Clearing and Settlement Systems in Japan, at https://www. bis. org/cpmi/publ/d105_jp. pdf

 

1 Viện Chiến lược Ngân hàng, NHNN


  • aA
  • Categories:
  • Tạp chí Ngân hàng
OTHER NEWS
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
04/11/2026
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
04/06/2026
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
04/10/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
03/07/2027
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
03/04/2027
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
03/04/2027
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
03/04/2027
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
03/06/2026
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
03/06/2026
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
03/06/2026
Showing 1 to 10 of 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready