Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Châu Á - 20 năm sau khủng hoảng tài chính

24/07/2017 20:48:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Cách đây 20 năm, vào tháng 7/1997, đồng bản tệ Baht của Thái Lan giảm sâu, khi các nhà đầu cơ ồ ạt rút vốn khỏi Thái Lan, mở màn cho cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Trong vòng một tháng, các đồng bản tệ của Indonesia, Hàn Quốc và Malaysia cũng đồng loạt lao dốc. Kể từ đó, các con rồng kinh tế Đông Á bắt đầu lâm vào tình cảnh khó khăn, tài khoản vãng lai thâm hụt, dự trữ ngoại hối suy giảm, nợ nước ngoài tăng cao.

Trong năm 1996, tài khoản vãng lai tại Thái Lan thâm hụt tới 8% GDP. Tương tự, tài khoản vãng lai tại Hàn Quốc và Malaysia lần lượt thâm hụt 4% và 2,8%, riêng Indonesia có mức thâm hụt thấp nhất 1,8% GDP. Khủng hoảng cũng đã tác động đến nhiều nước khác trong khu vực, mặc dù với cấp độ khác nhau. Tháng 8/1998, chỉ số chứng khoán của Singapore (Straits Times Index) giảm tới 50%, khi giá cả tài sản giảm trên 30%.

Nguyên nhân của khủng hoảng bắt nguồn từ thực tế, do hệ thống tài chính và các quy định pháp lý không thay đổi kịp thời trước tốc độ phát triển nhanh chóng của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, thị trường vốn mở cửa quá nhanh. Thậm chí, các biện pháp nới lỏng kiểm soát dòng vốn ngắn hạn diễn ra nhanh hơn so với đầu tư trực tiếp nước ngoài dài hạn. Đáng chú ý, chính sách tỷ giá cố định so với USD đã khuyến khích dòng vốn đầu tư và tín dụng ngân hàng từ các nước phát triển, góp phần hình thành nền kinh tế bong bóng, giá cả tài sản tăng cao. Một lượng lớn nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng vào các công trình đầu tư dài hạn ở trong nước, dẫn đến tình trạng sai lệch về kỳ hạn và tiền tệ. Khi vấn đề bùng phát, dòng vốn nước ngoài đảo chiều nhanh chóng, đồng bản tệ lao dốc, làm tăng gánh nặng nợ ngân hàng.

Để đối phó với khủng hoảng, các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và các cơ quan chính phủ trong khu vực đã nhanh chóng can thiệp trợ giúp như hỗ trợ thanh khoản ngoại hối và kích thích tài khóa. Trong đó, ADB đã hỗ trợ 7,8 tỷ USD dưới hình thức cho vay kỳ hạn 2 năm, chủ yếu dưới hình thức phân bổ để cải cách khu vực tài chính và ổn định tình hình xã hội tại Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan.

Sau khi thực hiện những biện pháp ổn định ban đầu, các cơ quan quản lý tại những nước khủng hoảng đã tăng cường chính sách kinh tế vĩ mô, áp dụng chính sách tài khóa thận trọng và cải cách ngân hàng theo hướng hình thành NHTW độc lập hơn so với trước đây. Chấp nhận chính sách tỷ giá linh hoạt, tăng cường các quy định quản lý tài chính và thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, áp dụng cách tiếp cận thận trọng về tự do hóa tài khoản vốn theo trình tự chặt chẽ và phù hợp với tình hình kinh tế trong nước, đồng thời tăng cường chủ động hợp tác trong khu vực.

Riêng Malaysia không vay vốn từ IMF, do lượng dự trữ ngoại hối vẫn đủ để khắc phục hậu quả khủng hoảng. Cùng với việc thực hiện các biện pháp khắc khổ, việc hạn chế sự lệ thuộc vào nguồn vốn vay đã giúp kinh tế Malaysia phục hồi nhanh hơn so với những nước láng giềng khác. Sau khi tình hình cải thiện, Chính phủ Malaysia đã áp dụng một số chính sách phi truyền thống (đặc biệt) như neo tỷ giá bản tệ ringgit với USD, kiểm soát vốn nhằm ngăn ngừa xu hướng đào thoát của dòng vốn ngắn hạn, giảm lãi suất, đẩy mạnh chi tiêu chính phủ, cứu vớt những doanh nghiệp và ngân hàng đang gặp khó khăn.

Kết quả là, kinh tế Malaysia đã phục nhanh hơn với mức tổn thất thấp hơn so với những nước bị khủng hoảng tấn công, và các biện pháp của Malaysia được coi là điển hình về thành công trong chiến lược chống khủng hoảng.

Cũng như Malaysia, các nước bị khủng hoảng tại châu Á không muốn phải tiếp tục nhờ cậy vào IMF. Thay vào đó là chủ động củng cố tài khoản vãng lai và tăng cường dự trữ ngoại hối nhằm đề phòng trường hợp các nhà đầu cơ rút vốn ồ ạt.

Sau hai thập kỷ, các nước châu Á đã xây dựng được nền tảng kinh tế khá vững chắc, có thể chống đỡ được những cú sốc từ bên ngoài và áp lực tài chính, chủ yếu nhờ tăng cường năng lực ngoại hối và cán cân thanh toán quốc gia, đồng thời đẩy mạnh cải cách. Hầu hết các nước châu Á đã hạn chế đáng kể mức độ lệ thuộc vào dòng vốn quốc tế, cán cân vãng lai cải thiện với mức thặng dư ngày càng tăng cao. Theo báo cáo mới nhất của ADB, kinh tế các nước châu Á trong hai thập kỷ qua đạt mức tăng trung bình hàng năm 6,8%, cao hơn so với những khu vực khác trên thế giới. Mô hình tăng trưởng cũng có chuyển biến tích cực theo hướng dựa vào nhu cầu trong nước, góp phần ổn định cung cầu và hạn chế rủi ro bắt nguồn từ những biến động kinh tế từ bên ngoài. Hiện nay, các nước châu Á đang áp dụng mô hình liên kết sản xuất với sự tham gia của các nước và doanh nghiệp vào từng công đoạn sản xuất và cung cấp đầu vào theo quy trình sản phẩm, góp phần giúp các nước nhanh chóng liên kết và tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực, tạo thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ và kỹ thuật.

Liên quan đến thị trường tài chính, hầu hết các thị trường chứng khoán đều phát triển mạnh, chỉ số chứng khoán vượt mốc kỷ lục đạt được trước khủng hoảng 1997. Năm 2006, chỉ số chứng khoán Kospi của Hàn Quốc đã vượt mốc kỷ lục đạt được trước khủng hoảng 1997, sau đó tiếp tục lập kỷ lục mới vào năm 2007. Ngày 30/6/2017, thị trường chứng khoán Hàn Quốc ghi nhận kết quả tăng cao nhất trong 10 năm qua, bất chấp căng thẳng chính trị liên Triều leo thang.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, một số chỉ số kinh tế và tài chính vẫn xấu hơn so với thời điểm trước khủng hoảng 1997. Tốc độ tăng trưởng trung bình 6,8% trên đây trong hai thập kỷ qua vẫn thấp hơn nhịp độ tăng trưởng trung bình 7-10% trong thời kỳ trước khủng hoảng 1997, nhiều thị trường chứng khoán châu Ấ chưa lấy lại được chỉ số chứng khoán vốn đạt được vào thời kỳ trước khủng hoảng. Ngày 04/7/2017, chỉ số Topix tại Nhật Bản vẫn thấp hơn 29% so với kỷ lục đạt được vào tháng 12/1989; chỉ số SET tại Thái Lan và TWSE tại Đài Loan cũng thấp hơn mức kỷ lục đạt được trước năm 1997.

Điều này cũng có thể bắt nguồn từ một nguyên nhân cơ bản là do thế giới phải hứng chịu một cuộc đại suy thoái xảy ra từ năm 2008 - được thừa nhận là cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất trong lịch sử kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng 2008 đã tạo ra nhiều thách thức mới cho các nước châu Á nói riêng và nhiều nước đang phát triển và mới nổi trên thế giới, mặc dù cuộc khủng hoảng 2008 tác động trực tiếp đến Mỹ và châu Âu.

Trên thực tế, khủng hoảng tài chính toàn câu 2008-2009 chỉ tác động hạn chế đến các nước châu Á, chủ yếu thông qua sự suy giảm xuất khẩu và giá cả hàng hóa. Mặt khác, dự trữ ngoại hối tương đối lớn và thặng dư vãng lai tăng cao đã giúp các nước châu Á chủ động đối phó với những vấn đề phát sinh từ nợ nước ngoài.

Tuy nhiên, chính sách tiền tệ không có tiền lệ được Mỹ và các nước châu Âu áp dụng với mức lãi suất gần như bằng không đã khiến các nhà đầu tư tập trung nguồn vốn vào các nước mới nổi châu Á và trên thế giới nhằm tăng thu lợi nhuận. Nguồn vốn vào tăng cao có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng gây ra những vấn đề nhất định như: Dẫn đến sự hình thành bong bóng tài sản, giá nhà ở và cổ phiếu tăng nhanh; phần lớn nguồn vốn vào có thời hạn ngắn, và nhà đầu tư kỳ vọng sẽ rút lui khi điều kiện thay đổi; những nước tiếp nhận vốn dễ bị tổn thương trước những chao đảo về kinh tế và tài chính.

Trên thực tế, châu Á vẫn đối mặt với nhiều thách thức, khoảng 330 triệu người vẫn sống dưới ngưỡng nghèo, bất bình đẳng vẫn gia tăng tại nhiều nước, đòi hỏi phải có những biện pháp quyết liệt để đảm bảo tăng trưởng bền vững và toàn diện.

Theo nhận định của các chuyên gia WB, các rủi ro kìm hãm tăng trưởng kinh tế bao gồm: Xu hướng bảo hộ và trả đũa thương mại, bất định chính sách và rủi ro địa chính trị, thị trường tài chính căng thẳng, giá dầu tiếp tục giảm, tăng trưởng tiềm năng chậm dần. Trong số này, xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại đang trở thành yếu tố đáng lo ngại. Trong giai đoạn trung hạn, những đòi hỏi về điều chỉnh hệ thống pháp luật đa phương có thể cản trở các nỗ lực hội nhập kinh tế, và cuối cùng sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế và việc làm cho người lao động. Việc mở rộng các rào cản thương mại một cách đơn phương và thiếu phối hợp giữa các doanh nghiệp có thể sẽ vấp phải những biện pháp trả đũa, thậm chí làm gia tăng các mức thuế quan trên toàn cầu, gây thiệt hại rất lớn cho những quốc gia liên quan.

Trong bối cảnh hiện nay, nguy cơ bất định chính sách có thể tiếp tục mở rộng, nhất là tại Mỹ, khi chính quyền của Tổng thống Donald Trump có ý định tiến hành những thay đổi lớn về chính sách tài khóa, quản lý thương mại và lao động nhập cư. Những thay đổi này sẽ tác động đến quyết định của các doanh nghiệp về đầu tư và thuê mướn lao động, cũng như nguồn vốn và dòng kiều hối đổ vào các nước đang phát triển và mới nổi. Tại châu Âu, ảnh hưởng ngày càng tăng của các đảng dân túy có thể tác động đến chính sách và liên kết kinh tế tại Liên minh châu Âu (EU). Ngoài ra, quá trình đàm phán liên quan đến sự kiện Vương quốc Anh rời EU cũng kèm theo những rủi ro nhất định.

Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất vẫn đeo bám các nước châu Á, do tỷ lệ đòn bẩy quá cao và sự lệ thuộc quá mức vào kinh tế Trung Quốc. Tại nhiều nước, tỷ lệ nợ tư nhân có xu hướng tăng cao, làm tăng rủi ro tài chính trước những thay đổi về kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường lao động và lãi suất thực.

Theo nhận định của Tổ chức xếp hạng Fitch Ratings, rủi ro tài chính và đòn bẩy tín dụng tại Trung Quốc tiếp tục tăng cao, GDP trong những năm tới sẽ tăng chậm dần. Mặc dù rủi ro của cuộc khủng hoảng trực tiếp có vẻ được kiềm chế ở mức thấp do Trung Quốc vẫn kiểm soát chặt chẽ tài khoản vốn, phần lớn các khoản tín dụng ngân hàng vẫn dành cho khu vực kinh tế nhà nước và được Chính phủ bảo lãnh. Cách thức can thiệp của Chính phủ Trung Quốc có thể bảo vệ nền kinh tế này trước những biến động trên thị trường tài chính và trấn an các ngân hàng. Tuy nhiên, đà tăng GDP giảm nhanh tại Trung Quốc là một trong những rủi ro lớn nhất đối với phần còn lại tại châu Á.

Xuân Thanh

Nguồn: ADB, Bloomberg, CNBC, Fitch Ratings, Straitstimes, WB

 

 

 

  • aA
  • Categories:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
OTHER NEWS
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
10/2/26
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
2/2/26
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
5/1/28
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
10/1/27
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
7/1/27
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
3/1/27
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
2/1/27
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
9/1/26
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
8/1/26
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
6/12/26
Showing 1 to 10 of 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready