Người khuyết tật được định nghĩa là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn (Luật người khuyết tật - 2010). Người khuyết tật bao gồm cả những người khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh…
Tình trạng khuyết tật tại Việt Nam
Tính đến tháng 6-2015, Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số, người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%, khoảng 58% người khuyết tật là nữ, 28,3% người khuyết tật là trẻ em, 10,2% người khuyết tật là người cao tuổi, khoảng 10% người khuyết tật thuộc hộ nghèo. Tỉ lệ người khuyết tật nữ (16,58%) cao hơn nam (13,69%).
Thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật, Chính phủ Việt Nam đã quy định chi tiết chính sách trợ giúp xã hội đối với người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa, người mắc bệnh tâm thần mãn tính, hộ gia đình có từ hai người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ.
Chăm sóc đời sống người khuyết tật. Tính đến năm 2008, các địa phương đã thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng cho 395.962 người khuyết tật nghèo và 8.599 hộ có từ hai người khuyết tật; nuôi dưỡng tập trung 9.798 người khuyết tật trong 300 cơ sở bảo trợ xã hội. Ngoài ra, có 622.783 người khuyết tật là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh, quân nhân bị tai nạn lao động, quân nhân bị bệnh nghề nghiệp, 133.356 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị hậu quả chất độc hóa học và khoảng 4.700 gia đình người có công với cách mạng đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo quy định của Pháp lệnh người có công với cách mạng, ... Chính sách trợ giúp xã hội đã đã góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống vật chất và tinh thần của người khuyết tật.
Chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình, phục hồi chức năng. Đến nay, 100% người khuyết tật thuộc hộ nghèo được các địa phương cấp thẻ bảo hiểm y tế, khoảng 300 ngàn người khuyết tật được thực hiện chỉnh hình phục hồi chức năng và cấp dụng cụ chỉnh hình miễn phí; cung cấp phương tiện trợ giúp như xe lăn, xe đẩy, chân tay giả cho trên 100 ngàn người; phẫu thuật chỉnh hình và trợ giúp phục hồi chức năng cho hàng trăm ngàn trẻ em khuyết tật. Mạng lưới phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã được phát triển ở 46/63 tỉnh, thành phố với 215 huyện, trên 2.420 xã,...
Học văn hoá đối với người khuyết tật. Trong thời gian qua đã có nhiều quan tâm tạo điều kiện để người khuyết tật tiếp cận dịch vụ giáo dục. Số lượng học sinh, sinh viên là người tàn tật tăng nhanh trên cả 63 tỉnh, thành phố: Năm học 1996-1997 cả nước có 6.000 trẻ khuyết tật học trong 72 cơ sở giáo dục chuyên biệt, 36.000 trẻ khuyết tật học trong 900 trường phổ thông đến năm học 2005-2006 có 230.000 trẻ khuyết tật đi học trong 9.000 trường phổ thông (đạt 25%). Người khuyết tật đi học không chỉ tập trung ở bậc mầm non, tiểu học mà còn ở bậc trung học và một số đang học ở bậc trung cấp, cao đẳng, có nhiều học sinh khuyết tật đã đạt kết quả cao.
Học nghề và tạo việc làm của người khuyết tật. Số người khuyết tật được học nghề ngày càng tăng: giai đoạn 1999 - 2004 có gần 19.000 người; 2005-2008 mỗi năm có khoảng 8.000 người, gấp 2 lần so với giai đoạn trước. Trong cả nước có 260 cơ sở dạy nghề đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố (55 cơ sở chuyên biệt và 205 cơ sở có tham gia dạy nghề cho người khuyết tật). Thời gian qua nhà nước đã dành hàng trăm tỷ đồng kinh phí từ Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo để đầu tư xây dựng cơ sở, hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho người khuyết tật (bao gồm 2 đối tượng nông dân và người khuyết tật).
Ngoài ra, Các hoạt động văn hoá, thể thao, giải trí của người khuyết tật ngày càng được quan tâm, nhiều cuộc thi đấu thể thao được tổ chức để người khuyết tật được tham gia hoạt động góp phần tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sống tinh thần người khuyết tật xóa bỏ mặc cảm.
Những thách thức đối với người khuyết tật Việt Nam
Việc khiếm khuyết đi một phần về thể chất không làm mất đi giá trị cũng như năng lực của người khuyết tật nhưng do những rào cản vô hình như sự phân biệt đối xử từ cộng đồng cũng như bản thân sự mặc cảm của nhiều người khuyết tật, việc hoà nhập cộng đồng của nhiều người khuyết tật gặp khó khăn như:
Kỳ thị - Phân biệt đối xử: Nhiều trẻ em khuyết tật không thể đi học cũng do gia đình, cha mẹ các em và chính bản thân các em sợ bị bạn bè trêu chọc. Nhiều người khuyết tật không dám đến các nơi công cộng vì sợ bị nhiều ánh mắt để ý khiến họ cảm thấy tự ti. Ngay tại các doanh nghiệp, người khuyết tật tưởng như được nhiều ưu đãi nhưng thực chất họ lại gặp nhiều khó khăn không mong đợi như cơ sở vật chất, thời gian làm, công việc làm, .v.v.
Hôn nhân- gia đình: rất nhiều người khuyết tật gặp nhiều khó khăn, cản trở trong việc lập gia đình, đặc biệt là bố mẹ của người không khuyết tật thường phản đối vì họ sợ rằng nếu lấy con họ sẽ khổ, lo sợ về di truyền, khả năng chăm sóc con cái yếu kém và khó khăn sau này do bệnh nặng thêm, kinh tế khó khăn, xấu hổ với xã hội,.v.v..
Học tập và việc làm: Khó khăn trong học tập, cùng với khuyết tật ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin việc làm trong các doanh nghiệp. Các lĩnh vực mà người khuyết tật có thể tiếp cận góp phần cung ứng sản phẩm dịch vụ cho xã hội để tăng thu nhập (làm đồ mỹ nghệ, tăm, quạt, tầm quất,..) nhưng gặp nhiều khó khăn về vốn, kinh nghiệm và khả năng tiếp cận các dịch vụ chung của xã hội nên cần có chính sách hỗ trợ.
Ngoài ra, việc tiếp cận dành cho người khuyết tật về các chính sách, giao thông và tiếp cận cơ sở vật chất là thách thức lớn. Người khuyết tật muốn tham gia vào các hoạt động của xã hội nhưng họ lại không thể tiếp cận giao thông; người khiếm thị không thể tiếp cận trường lớp vì thiếu giáo trình và chưa có phương pháp giảng dạy phù hợp,...
Bài học kinh nghiệm từ Australia
Tính đến năm 2015, Úc có 4,3 triệu người khuyết tật chiếm gần 1/5 dân số (18,3%). Úc là quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các cam kết của Liên hợp quốc về chính sách dành cho người khuyết tật và phúc lợi xã hội. Trên cơ sở học tập các kinh nghiệm từ Úc, Việt Nam có thể xây dựng các chính sách hiệu quả, phù hợp với điều kiện riêng của nước ta hiện nay. Một số bài học cụ thể như:
Phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho người khuyết tật dễ dàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ công cộng
Tại Úc, hệ thống cơ sở hạ tầng được thiết kế đồng bộ giúp người khuyết tật dễ dàng di chuyển. Theo đó, luôn có làn đường riêng cho người khuyết tật di chuyển trên các vỉa hè, sảnh vào các tòa nhà, các bãi đỗ xe… Đồng thời, trên các xe bus hay tàu điện thường có một vị trí đặc biệt nhằm ưu tiên người khuyết tật. Tại các ngã tư cũng có đèn báo dành cho người đi bộ qua đường với nút bấm vừa tầm đối với người dùng xe lăn. Các nút bấm này có âm thanh báo hiệu khi đèn xanh và mũi tên chỉ hướng trên nút bấm cũng được dập nổi để người khiếm thị có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng. Bằng việc kết nối được hệ thống cơ sở hạ tầng từ nhà đến hệ thống giao thông và đến các tòa nhà hay công trình công cộng, người khuyết tật được tạo điều kiện để tự di chuyển được xa hơn, giảm mức độ phục thuộc vào người khác và từ đó tăng khả năng tiếp cận với việc làm, giáo dục và các dịch vụ xã hội, tăng thêm khả năng kết nối với cộng đồng.
Chính phủ phối hợp với các Ngân hàng, tổ chức tín dụng để triển khai các hoạt động hỗ trợ tài chính cho người khuyết tật
Nhằm giảm thiểu các khó khăn liên quan đến vấn đề tiếp cận tài chính của người khuyết tật, chính phủ Úc phối hợp với các tổ chức tín dụng khi triển khai các chương trình hỗ trợ tài chính (Ví dụ: chương trình StepUP, Age pension…). Hơn nữa, các ngân hàng Úc cũng tham gia tích cực vào việc đóng góp cho cộng đồng. Điển hình nhất là ngân hàng ANZ, nơi có khoảng 11% nhân viên là người khuyết tật. Theo đó, ANZ thiết kế riêng một chương trình hành động vì người khuyết tật với những cam kết như: xây dựng môi trường làm việc tốt hơn; cung cấp các dịch vụ ngân hàng đơn giản và tiện lợi hơn; mở rộng các chương trình phổ cập tài chính của ANZ dành cho người khuyết tật…
Ban hành hệ thống các quy chuẩn liên quan đến người khuyết tật
Để đảm bảo quyền và lợi ích bình đẳng cho người khuyết tật, Chính phủ Úc ban hành các tiêu chuẩn liên quan đến người khuyết tật áp dụng đối với từng lĩnh vực trong xã hội. Ví dụ như: Tiêu chuẩn áp dụng đối với các công trình xây dựng, hoạt động giáo dục, khả năng tiếp cận dịch vụ giao thông công cộng hay các dịch vụ dành cho người khuyết tật… Các tiêu chuẩn này kết nối với nhau một cách có hệ thống giúp xã hội được thiết kế và vận hành đồng bộ đảm bảo các chiến lược hỗ trợ người khuyết tật được triển khai tốt nhất.
Kiến nghị nâng cao chất lượng cuộc sống của người khuyết tật tại Việt Nam
Tăng cường chăm sóc sức khỏe phục hồi chức năng là công tác cần thiết và phải thực hiện tiên quyết: Chính sách ưu tiên trong khám chữa bệnh cho người khuyết tật; Triển khai chương trình phát hiện sớm can thiệp sớm tới gia đình và cộng đồng xã hội, phẫu thuật chỉnh hình, cung cấp dịch, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng,…
Cải tạo xây dựng các công trình công cộng bảo đảm cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng: Đối với các công trình phải được thiết kế để người khuyết tật có thể tiếp cận, sử dụng như: các công trình giao thông, các công trình công cộng, các dịch vụ ngân hàng như ATM, thanh toán trực tuyến, v.v..
Thực hiện hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch tạo cho người khuyết tật quên đi những mặc cảm về số phận thấy được những giá trị của cuộc sống, giúp họ tự tin vào bản thân, cố gắng vươn lên, tham gia đóng góp những trí tuệ, khả năng của bản thân trong hoạt động của cộng đồng xã hội.
Dạy nghề tạo việc làm cho người khuyết tật giúp người khuyết tật nâng cao vị thế, tự tin và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Tạo điều kiện tiếp cận vốn cho người khuyết tật: nhà nước cần có thêm nhiều chính sách cụ thể hỗ trợ vốn, kinh nghiệm để người khuyết tạt tăng thêm cơ hội khởi nghiệp như: chính sách tín dụng học nghề/tín dụng khởi nghiệp,…cho người khuyết tật cần được triển khai ở nhiều tổ chức tín dụng khác để tăng thêm cơ hội tiếp cận vốn cho người khuyết tật. Đây là cơ hội lớn cần được các ngân hàng thương mại quan tâm.
Tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật của nhà nước đối với người khuyết tật giúp người khuyết tật có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, như chăm sóc sức khỏe, cải thiện tình hình kinh tế việc làm, hạ tầng cơ sở,… nhằm giải quyết vấn đề bản thân, phát huy được những khả năng của mình, vượt qua khó khăn vươn lên tự lập cuộc sống hòa nhập cộng đồng.
Hồ Quỳnh Anh, Kiều Hải Yến, Lê Thị Hồng Hạnh, TS. Nguyễn Thị Kim Oanh
Tài liệu tham khảo:
1. ANZ, Disability action plan, truy cập tại:
http://www.anz.com/documents/au/aboutanz/anz-dap.pdf ;
2. Đạo luật chống phân biệt đối xử đối với người khuyết tật Australia (Disability Discrimination Act), truy cập tại: http://www.humanrights.gov.au/our-work/disability-rights/disability-standards;
3. Luật người khuyết tật Việt Nam – Luật số 51/2010/QH12;
4. StepUP Program, truy cập tại : http://stepuploan.org.au/;
5. Tài liệu hỏi – đáp, quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với người khuyết tật, http://tuyengiao.dongnai.gov.vn;
6. Tạp chí Người bảo trợ, 2015, Tiếp cận vốn phát triển sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật, truy cập tại: http://nhandao.net.vn/index.php/hoat-dong-hoi/nghien-cuu-trao-doi/1409-tiep-can-von-phat-trien-san-xuat-kinh-doanh-cua-nguoi-khuyet-tat ;
7. The National Disability Strategy Implementation Reference Group (NDSIRG), 2015, 2015 Survey of Disability Ageing and Carers;
8. Tiến sĩ Nguyễn Đình Liêu - Chủ tịch Trung ương Hội, Báo cáo Kết quả 5 năm thực hiện Luật Người khuyết tật và giữa kỳ Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020;
9. Tiêu chuẩn liên quan đến người khuyết tật áp dụng cho các công trình xây dựng (Disability - Access to Premises — Buildings- Standards), truy cập tại: https://www.legislation.gov.au/Details/F2010L00668 ;
10. Tiêu chuẩn liên quan đến người khuyết tật đối với hoạt động giáo dục (Disability Standards for Education), truy cập tại:https://www.legislation.gov.au/Details/F2005L00767 ;
11. Tiêu chuẩn quốc gia về dịch vụ dành cho người khuyết tật (National Standards for Disability Services), truy cập tại: https://www.dss.gov.au/sites/default/files/documents/12_2013/nsds_web.pdf;