Vai trò của chính sách xuất khẩu lao động trong việc thu hút kiều hối chuyển về Việt Nam
PGS.,TS. Nguyễn Kim Anh1
Kiều hối là một trong những nguồn vốn từ nước ngoài quan trọng đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Kiều hối đến từ hai nhóm đối tượng chính đó là việt kiều và xuất khẩu lao động (XKLĐ). Chính vì vậy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã không ngừng nỗ lực triển khai các chính sách thu hút kiều hối, đặc biệt là chính sách XKLĐ trong bối cảnh Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự chu chuyển nguồn lao động trong nước đi làm việc tại các nước phát triển trên thế giới. Bài nghiên cứu được kết cấu thành 3 phần chính đó là: Thứ nhất, tác giả làm rõ khung pháp lý trong hoạt động XKLĐ tại Việt Nam hiện nay. Trong phần 2, bài báo tập trung đánh giá chính sách XKLĐ trong việc thu hút kiều hối chuyển về Việt Nam. Trên cơ sở đó, phần ba của bài viết sẽ đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị để tiếp tục phát huy vai trò của chính sách XKLĐ trong việc thu hút kiều hối chuyển về nước.
1. Thực trạng chính sách XKLĐ thời gian qua
Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam vẫn trong giai đoạn gửi lao động tay nghề thấp ra nước ngoài và tiếp nhận đầu tư nước ngoài. Hoạt động XKLĐ đã đem lại nhiều cơ hội việc làm tốt cho lao động Việt Nam, từ đó có đóng góp tích cực đối với kinh tế - xã hội. Nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã chú trọng đến việc hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến chính sách XKLĐ và coi đây là một chủ trương lớn thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này.
Với sự ra đời của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động XKLĐ dần được kiện toàn và hoàn thiện. Ngày 01/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, theo sau đó là các văn bản hướng dẫn cụ thể các nội dung hỗ trợ hoạt động XKLĐ như: Văn bản hướng dẫn chi tiết Luật và Nghị định2, văn bản quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm3, văn bản quy định về mức, cách quản lý và sử dụng tiền ký quỹ4, văn bản quy định về mẫu hợp đồng5, văn bản quy định các nội dung về xử phạt vi phạm hành chính6… Theo đó, khung pháp lý về chính sách XKLĐ tập trung vào nội dung chính như sau:
Thứ nhất, tạo điều kiện thuận lợi để công dân Việt Nam có đủ điều kiện đi làm việc ở nước ngoài. XKLĐ tại Việt Nam được chia thành 2 nhóm đối tượng chính: (i) nhóm lao động phổ thông/giản đơn, và (ii) nhóm lao động có trình độ cao (đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học). Tuy nhiên dù thuộc nhóm nào thì một trong những khó khăn cho các XKLĐ phải đối mặt đó chính là những khoản chi phí bao gồm cả chi phí theo quy định cũng như chi phí ngoài luồng. Vì vậy, nhằm bảo vệ quyền lợi của XKLĐ, tránh tình trạng bắt chẹt người lao động ký quỹ số tiền quá lớn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 21/2013/TT-BLĐTBXH quy định mức trần kí quỹ mà doanh nghiệp cung ứng được nhận từ XKLĐ. Ví dụ, mức ký quỹ tối đa đối với XKLĐ tại thị trường Malaysia, Thái Lan, Lào, Brunei,... là 300USD. Một số thị trường có mức kí quỹ cao hơn như Đài Loan là 700 - 1000USD; Nhật Bản và Hàn Quốc là 1500 - 3000USD7. Đồng thời, để tháo gỡ khó khăn về tài chính cho XKLĐ, Nghị định số 61/2015/NĐ-CP đã đưa ra một số quy định về (i) cho vay ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội đối với đối tượng vay vốn đi XKLĐ thuộc diện hộ nghèo, hộ bị thu hồi đất nông nghiệp và người dân tộc thiểu số; (ii) cho vay 100% chi phí từ Quỹ quốc gia về việc làm đối với lao động thuộc hộ cận nghèo hoặc thân nhân của người có công với cách mạng. Các quy định này đã giải quyết phần nào những khó khăn mà XKLĐ gặp phải trong quá trình kí kết và tham gia lao động tại nước ngoài.
Bên cạnh đó, nhằm nâng cao chất lượng của lực lượng XKLĐ, chính phủ đã yêu cầu các cơ quan chức năng cũng như các doanh nghiệp cung ứng XKLĐ phải tổ chức các khóa học bồi dưỡng cho XKLĐ trước khi ra nước ngoài. Công tác đào tạo nghề và kỹ năng cho các lao động chuẩn bị đi xuất khẩu được coi là khâu then chốt để XKLĐ có thể thâm nhập vào các thị trường mới, đòi hỏi trình độ tay nghề cao. Các khóa học này trang bị một khối lượng kiến thức khá đa dạng như: (i) phổ biến pháp luật và quy định của quốc gia sở tại, (ii) đào tạo nghề và nâng cao trình độ tay nghề trong trường hợp nước tiếp nhận yêu cầu; (iii) các lớp học và phổ cập ngoại ngữ cũng như các lớp bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho XKLĐ. Nhờ được tham gia các lớp học này, khoảng cách giữa khả năng của XKLĐ và yêu cầu của các doanh nghiệp tiếp nhận XKLĐ của Việt Nam được thu hẹp lại, được các bên có liên quan đến hoạt động XKLĐ đánh giá cao.
Thứ hai, bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Các văn bản liên quan đến vấn đề này tập trung vào các khía cạnh chính sau:
(i) Đối với XKLĐ: Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các văn bản hướng dẫn quy định các nội dung có liên quan về quyền lợi cũng như trách nhiệm của XKLĐ. Trong đó, quyền của XKLĐ được quy định cụ thể như được cung cấp các thông tin về chính sách, pháp luật có liên quan và phong tục, tập quán của nước tiếp nhận người lao động; được hưởng tiền lương, tiền công, thu nhập khác, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác quy định trong các hợp đồng và điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; được doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài, cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, pháp luật và thông lệ quốc tế trong thời gian làm việc ở nước ngoài; được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện các quyền và hưởng các lợi ích trong Hợp đồng lao động, Hợp đồng thực tập. Hiện nay, việc bảo đảm quyền, lợi ích cho XKLĐ được xử lý thông qua hai kênh chính đó là: (i) thông qua Đại sứ quán Việt Nam ở nước sở tại; và (ii) thông qua Ban quản lý lao động Việt Nam thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (chủ yếu áp dụng đối với nước có đông lao động Việt Nam đang làm việc). Bên cạnh đó, các văn bản pháp lý cũng quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của người lao động như trách nhiệm nộp tiền ký quỹ, tìm hiểu các quy định của pháp luật có liên quan, tham gia khóa bồi dưỡng kiến thức cần thiết trước khi đi làm việc ở nước ngoài, tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động.
(ii) Đối với doanh nghiệp XKLĐ: Để có thể tham gia cung ứng XKLĐ, doanh nghiệp phải được Cục Quản lý lao động nước ngoài (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cấp giấy phép kinh doanh. Đây là các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân Việt Nam với mức vốn pháp định của doanh nghiệp là 5 tỷ đồng, đồng thời quy định một số điều kiện chặt chẽ để được kinh doanh loại hình dịch vụ này. Để bảo vệ quyền lợi của người lao động đi làm việc tại nước ngoài, quy định hiện hành quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong việc tuyển chọn lao động, tổ chức đào tạo trước khi đưa lao động đi làm việc, phối hợp với bên nước ngoài giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến người lao động ở nước sở tại…
(iii) Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan trực tiếp giúp Chính phủ quản lý hoạt động XKLĐ. Theo đó, Bộ là đơn vị chịu trách nhiệm chính về việc kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về người lao động đi làm việc ở nước ngoài, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đặc biệt, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (Ban Quản lý lao động) có trách nhiệm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài; xử lý hành vi vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định. Nhờ đó, cơ quan quản lý đã góp phần hạn chế những vi phạm của các doanh nghiệp XKLĐ cũng như góp phần tích cực ngăn ngừa các hành vi lừa đảo của các tổ chức cá nhân ngoài xã hội. Tùy vào từng trường hợp mà một số cơ quan khác như Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhà nước, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng như các đoàn thể liên quan đều chịu trách nhiệm liên đới trong việc quản lý hoạt động này.
Thứ ba, Chính phủ ban hành nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư mở thị trường lao động mới, thị trường có thu nhập cao, thị trường tiếp nhận nhiều người lao động thông qua việc kí kết các thỏa thuận hợp tác. So với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Philippines, Thái Lan…, Việt Nam tham gia thị trường lao động quốc tế chậm hơn. Mặc dù đã tham gia cung ứng lao động sang Đông Âu từ những năm 80 của thế kỷ trước, song vấn đề đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc chỉ thực sự diễn ra mạnh mẽ từ sau năm 2000. Các thị trường XKLĐ chủ yếu của Việt Nam là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Bắc Phi và Trung Đông. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã đưa lao động sang làm việc tại một số nước châu Âu như Cộng hòa Síp, Cộng hòa Séc, Phần Lan, Anh, Pháp, Italia, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Rumani và Slovakia. Trong đó, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan là hai thị trường trọng điểm đem lại thu nhập cao, tiếp nhận nhiều lao động trong đó có lao động có trình độ chuyên môn.
Chính vì vậy, ngay từ năm 1992, Việt Nam đã ký Thỏa thuận và Biên bản ghi nhớ về hợp tác lao động với 22 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó tập trung vào khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi. Để triển khai Thỏa thuận hay Biên bản ghi nhớ về hợp tác lao động ký với từng nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng ban hành các văn bản hướng dẫn doanh nghiệp, người lao động thực hiện các nội dung liên quan. Bên cạnh đó, chính sách XKLĐ đối với từng thị trường còn được thể hiện thông qua một số chương trình đưa người lao động đi làm việc tại các quốc gia, như: Chương trình EPS đưa người lao động sang Hàn Quốc làm việc (mới được ký lại vào ngày 17/5/2016 sau gần 4 năm bị gián oạn), Chương trình lao động kết hợp kỳ nghỉ đưa lao động sang Australia làm việc theo Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 01/4/2016 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 21/TTLT-BLĐTBXH-BCA-BNG ngày 29/6/2016 của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao, Chương trình đưa thực tập sinh Việt Nam đi thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản qua Tổ chức Phát triển nhân lực quốc tế Nhật Bản (IM Japan) được thực hiện từ năm 2006 theo Thỏa thuận giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổ chức IM Japan, Chương trình đưa ứng viên Điều dưỡng, Hộ lý đi làm việc tại Nhật Bản theo Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (EPA), Chương trình đưa ứng viên điều dưỡng Việt Nam sang học tập và làm việc tại CHLB Đức, Chương trình đưa lao động đi làm giúp việc gia đình tại Ả-rập Xê-út…
Như vậy, có thể thấy hệ thống văn bản chính sách đối với hoạt động XKLĐ đã có những điều chỉnh theo hướng tích cực như: (i) Quy định mức trần tiền ký quỹ (được hiểu là mức tiền ký quỹ tối đa) mà doanh nghiệp dịch vụ có thể thỏa thuận với người lao động nhằm minh bạch hóa chi phí đi xuất khẩu lao động, tạo thuận lợi cho cả doanh nghiệp và người lao động; (ii) Chính sách hỗ trợ các chi phí cho người lao động đi làm việc bao gồm chi phí đào tạo nghề, chi phí làm thủ tục trước khi đi, chi phí giải quyết rủi ro trong thời gian làm việc ở nước ngoài…, đặc biệt là chính sách cho vay tối đa đến 100% chi phí đi lao động ở nước ngoài nhằm hỗ trợ người lao động có nhu cầu ra nước ngoài làm việc với tài chính hạn chế; (iii) Quy định hợp đồng mẫu đối với 02 loại hợp đồng ký giữa doanh nghiệp và đối tác nước ngoài và hợp đồng ký giữa doanh nghiệp và người lao động, đảm bảo công khai, minh bạch các trường hợp lao động được đưa ra nước ngoài làm việc; (iv) Quy định cụ thể chế tài, hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. Những thay đổi tích cực nêu trên đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tạo điều kiện khuyến khích hoạt động XKLĐ trong thời gian qua.
2. Đánh giá chính sách XKLĐ của Việt Nam
Có thể nói, việc triển khai đồng bộ các chính sách thu hút kiều hối tại Việt Nam, trong đó nổi bật là chính sách XKLĐ đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Doanh số gửi tiền kiều hối về nước luôn đạt tăng trưởng cao trong nhiều năm qua, góp phần cải thiện nguồn cung ngoại tệ trong nền kinh tế, từ đó giúp ổn định tỷ giá, góp phần tích cực vào việc kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, tăng tiềm lực tài chính và uy tín của quốc gia, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. (Hình 1)
Thứ nhất, số lượng XKLĐ tăng đều qua các năm. Theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), tính đến thời điểm hiện nay có 276 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh hoạt động XKLĐ, đóng góp vào việc đưa trung bình khoảng 100.000 người lao động/năm ra nước ngoài làm việc. Về cơ cấu thị trường lao động, các thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam và khá ổn định là Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Ả-rập Xê-út. (Hình 2)
Thứ hai, chất lượng XKLĐ không ngừng được nâng cao. Về cơ bản, trình độ tay nghề của lao động Việt Nam vẫn ở mức thấp trong tương quan so sánh với các nước khác, tuy nhiên trong các năm gần đây lao động Việt Nam không ngừng được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, trình độ ngoại ngữ trước khi được đưa ra nước ngoài làm việc. Một số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài tổ chức bài bản từ khâu tuyển chọn lao động, tổ chức chương trình đào tạo, hỗ trợ và quản lý người lao động khi đã đưa ra nước ngoài làm việc, đặc biệt tại các thị trường đòi hỏi cao về kỷ luật lao động như Nhật Bản. Chất lượng lao động được nâng cao góp phần gia tăng sức cạnh tranh của hàng hóa sức lao động Việt Nam so với các nước khác, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Thứ ba, thu nhập của XKLĐ ngày càng được cải thiện. Lương và thu nhập khác của người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài cao hơn khá nhiều so với mức lương trung bình trong nước. Theo Nguyễn Thị Lan Hương (2016), thu nhập của người lao động xuất khẩu trong năm thứ nhất tại các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan gấp khoảng 7 - 9 lần so với thu nhập trước khi đi XKLĐ. Bên cạnh đó, theo ước tính của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, lương và thu nhập trung bình của lao động Việt Nam tại một số quốc gia đi lao động cũng đạt mức tương đối so với mức lương trung bình của nước sở tại, đặc biệt ở các nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Đức, Úc. (Bảng 1)
Thứ tư, nguồn thu kiều hối từ lực lượng lao động Việt Nam đi xuất khẩu có xu hướng gia tăng qua các năm, đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng lượng kiều hối chuyển về nước. Theo kết quả khảo sát được thực hiện bởi Viện Khoa học Lao động và Xã hội, các kênh chuyển tiền mà người lao động sử dụng để chuyển tiền về nước khá đa dạng, bao gồm chuyển tiền thông qua các tổ chức tín dụng, qua doanh nghiệp XKLĐ, qua tư nhân và các hình thức khác, trong đó phương thức chuyển tiền qua hệ thống các tổ chức tín dụng là phổ biến. Với sự thuận tiện của các kênh chuyển tiền, theo ước tính, tổng số tiền gửi về của toàn bộ người lao động qua các năm gần đây đạt trung bình khoảng 2,5 tỷ đô la Mỹ. Như vậy, thu nhập của người lao động ở nước ngoài góp phần đáng kể vào lượng kiều hối hàng năm chuyển về nước. (Hình 3)
Thứ năm, sự phát triển của hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài có tác động tích cực đến đời sống xã hội của một bộ phận dân cư. Theo đó, hoạt động này tạo cơ hội việc làm cho người lao động, nhất là các đối tượng chính sách, các gia đình khó khăn, từ đó góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng thời, các gia đình có người đi XKLĐ cũng có hội được tăng thu nhập cho hộ gia đình, từ đó có khoản đầu tư, tích lũy cho con cái học hành; thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống trong hộ gia đình theo hướng tiến bộ hơn, từ đó thay đổi quan hệ xã hội, cách ứng xử với người phụ nữ trong gia đình.
Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ, chính sách XKLĐ vẫn chưa giải quyết được những tồn tại/ bất cập của thị trường XKLĐ.
Thứ nhất, thị trường XKLĐ chưa được đa dạng. Hiện nay số nước tiếp nhận lao động Việt Nam đã lên tới gần 50 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu lại là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, Trung Bắc Á, Trung Đông, một số nước ở Bắc Phi. Trong khi đó, thị trường châu Âu và châu Mỹ mới là những thị trường hấp dẫn, có khả năng đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho Việt Nam song chính sách XKLĐ chưa tiếp cận được các thị trường này.
Thứ hai, chi phí đi XKLĐ còn tương đối cao, gây khó khăn cho người lao động. Theo quy định hiện hành8, mức trần tiền ký quỹ mà doanh nghiệp được thỏa thuận ký quỹ với người lao động tại một số thị trường trung bình khoảng 3000 USD đối với thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, 2000 USD đối với thị trường Úc, Đức, 1000 USD đối với thị trường Đài Loan và khoảng 300 USD đối với các thị trường Malaysia, Thái Lan, Lào… Như vậy, khả năng sang làm việc tại một số thị trường tại khu vực Đông Bắc Á, châu Âu là khá khó khăn do mức tiền ký quỹ khá cao so với mức sống của đa số người lao động. Bên cạnh đó, chi phí đi XKLĐ trên thực tế có thể còn bị đẩy cao hơn rất nhiều so với mức quy định nêu trên, dẫn đến hệ lụy là người lao động ngoài phần được vay ưu đãi có thể phải vay lãi bên ngoài, gây khó khăn cho người lao động, đặc biệt là các đối tượng chính sách.
Thứ ba, công tác quản lý các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ XKLĐ còn nhiều bất cập. Trên thực tế chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về XKLĐ cấp trung ương với các cơ quan cấp địa phương và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, vì vậy, các cơ quan quản lý chưa nắm rõ tình hình hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp XKLĐ, từ đó, có phương hướng chỉ đạo hay sự chấn chỉnh kịp thời để công tác XKLĐ đạt hiệu quả cao hơn. Bên cạnh đó, việc quản lý và kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp tham gia hoạt động XKLĐ còn chưa chặt chẽ. Trong 04 hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì mới cơ bản quản lý được hình thức dịch vụ và sự nghiệp, còn hình thức trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài; thực tập nâng cao tay nghề và hợp đồng cá nhân vẫn chưa được quản lý đầy đủ và sâu sát. Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động XKLĐ được tiến hành chưa thực sự nghiêm túc và có hiệu quả.
Thứ tư, việc quản lý XKLĐ tại nước ngoài gặp nhiều khó khăn, chưa chặt chẽ. Với trình độ học vấn của người lao động ở mức thấp, ý thức kỷ luật chưa cao, tình trạng người lao động bỏ hợp đồng đi làm việc bất hợp pháp tại nước ngoài vẫn ở mức cao. Mặc dù hiện nay đã có cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chịu trách nhiệm quản lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài, xử lý hành vi vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định nhưng trên thực tế việc quản lý này chưa được thực hiện chặt chẽ. Các doanh nghiệp dịch vụ sau khi đã đưa được người lao động ra nước ngoài làm việc thường không tập trung hoặc cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc giám sát lượng người lao động đang làm việc ở nước ngoài. Việc quản lý XKLĐ tại nước ngoài lỏng lẻo ảnh hưởng đến chất lượng lao động Việt Nam, từ đó làm giảm mức độ tin cậy của doanh nghiệp ở nước ngoài đối với lao động Việt Nam.
Thứ năm, mặc dù chất lượng của lực lượng XKLĐ đã được cải thiện đáng kể trong thời gian gần đầy, nhưng tỷ lệ lao động giản đơn/chuyên môn thấp trên tổng số lao động xuất khẩu còn khá cao. Không những thế, ý thức chấp hành pháp luật, quy định của XKLĐ còn kém khi tình trạng xấu như lao động bỏ trốn khỏi nơi làm việc, lao động chui, XKLĐ không theo đúng quy định của Luật XKLĐ.
Những tồn tại, bất cập nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân chủ quan và khách quan, đó là: (i) Về thị trường lao động, do thiếu thông tin về thị trường lao động nước ngoài, thiếu sự quảng bá, tiếp thị hàng hóa sức lao động Việt Nam trên trường quốc tế nên chính sách XKLĐ còn chưa tiếp cận được những thị trường giàu tiềm năng; (ii) Về công tác quản lý XKLĐ, sự tồn tại của các tư tưởng quản lý lỗi thời như quan liêu, chủ quan, nóng vội, nể nang của các cán bộ quản lý; sự nhận thức chưa rõ ràng về tầm quan trọng của công tác quản lý XKLĐ đã dẫn đến những yếu kém trong công tác quản lý hoạt động XKLĐ; (iii) Trình độ lao động của Việt Nam chưa cao, chủ yếu là lao động phổ thông, chưa quen tác phong làm việc công nghiệp, do đó hạn chế chất lượng lao động và giảm sức cạnh tranh so với lao động các nước trong khu vực; (iv) Sự thay đổi trong chính sách tiếp nhận, cơ chế bảo vệ quyền lợi người lao động nước ngoài của các quốc gia tiếp nhận lao động khiến công tác quản lý, bảo vệ người lao động của Việt Nam gặp khó khăn.
3. Một số khuyến nghị đối với chính sách XKLĐ để tiếp tục thu hút kiều hối tại
Việt Nam
Năm 2017 là năm mở ra nhiều cơ hội mới cho lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài, đặc biệt là các thị trường mới, điều kiện tốt, thu nhập cao. Nhiều thị trường mới như Thái Lan, Australia... sẽ được triển khai sau khi các hiệp định và thỏa thuận về hợp tác lao động được ký kết. Thị trường Đức, Nhật Bản cũng tiếp tục nhận lao động Việt Nam sang làm việc theo các chương trình đã ký kết. Đây là triển vọng rất lớn cho nguồn kiều hối về Việt Nam vì kiều hối từ XKLĐ là một trong những nguồn chiếm tỷ trọng lớn. Để tận dụng và phát huy có hiệu quả nguồn thu kiều hối từ XKLĐ, một số gợi ý chính sách đối với các cơ quan chức năng để tiếp tục thu hút kiều hối về nước được đưa ra là:
- Tiếp tục nghiên cứu, xem xét ký kết các hiệp định và thỏa thuận về hợp tác lao động với các thị trường truyền thống để đưa được ngày càng nhiều lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc; đẩy mạnh công tác xúc tiến, tìm hiểu các thị trường mới, nhiều tiềm năng để mở rộng ký kết thỏa thuận đối với các thị trường này.
- Xây dựng quy định và điều kiện chặt chẽ hơn nữa, tổ chức hậu kiểm để quản lý các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, theo đó chỉ những doanh nghiệp thực sự đáp ứng đủ và bảo đảm duy trì các điều kiện theo quy định của pháp luật mới được tham gia hoạt động đưa người đi làm việc ở nước ngoài.
- Nghiên cứu, xây dựng chính sách quản lý đối với tất cả các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ngoài hình thức thông qua doanh nghiệp hoạt động dịch vụ và tổ chức sự nghiệp để quản lý chặt chẽ hơn nữa hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hạn chế những thiệt hại, rủi ro cho người lao động.
- Nâng cao vai trò quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của các cơ quan liên quan đến lĩnh vực XKLĐ trên địa bàn, từ đó tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung ương và cấp địa phương trong việc quản lý hoạt động XKLĐ.
- Đào tạo, bồi dưỡng tay nghề, nâng cao chất lượng, ý thức cho người lao động trước khi cung ứng ra nước ngoài; mở rộng đối tượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài. Song song với đó là nâng cao ý thức chấp hành quy định pháp luật của người lao động khi đi làm việc ở nước ngoài; về nước sau khi kết thúc hợp đồng với người sử dụng lao động, không ở lại làm việc bất hợp pháp.
- Nâng cao chất lượng tuyển chọn đầu vào. Việc này giúp chính người lao động có thời gian tìm hiểu trước về công ty tiếp nhận, công việc tại nước ngoài cũng như có định hướng, mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng, tác phong tích cực, từ đó được các doanh nghiệp sử dụng lao động ở nước ngoài đánh giá cao.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các doanh nghiệp dịch vụ có vi phạm quy định của pháp luật và các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, đặc biệt công tác thanh tra, kiểm tra cần tập trung vào việc tổ chức bộ máy hoạt động của doanh nghiệp, công tác tuyển chọn, bồi dưỡng kiến thức cần thiết và công tác thu phí. Bên cạnh đó, tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành liên quan, các địa phương để phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm nhằm ngăn chặn tình trạng người lao động bị các tổ chức, cá nhân không có chức năng đưa người lao động ra nước ngoài làm việc.
- Đề cao vai trò của Hiệp hội XKLĐ Việt Nam (VAMAS), đặc biệt là việc cùng với Tổ chức Lao động quốc tế ban hành Bộ quy tắc ứng xử dành cho các doanh nghiệp XKLĐ (CoC-VN).
- Nâng cao yếu tố minh bạch thông tin thị trường. Theo đó, thông tin về các doanh nghiệp được phép cung ứng dịch vụ đưa người lao động ra nước ngoài làm việc cần được công bố công khai, chi tiết trên website của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) để người lao động có cơ hội theo dõi, kiểm tra thông tin trước khi quyết định ký kết hợp đồng, hạn chế các thiệt hại, rủi ro không đáng có cho người lao động do thiếu thông tin, thiếu hiểu biết.
1 Đây là một phần trong kết quả nghiên cứu rút ra từ đề tài độc lập cấp quốc gia “Chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam” mã số ĐTĐL-XH.15/15 do Bộ Khoa học Công nghệ cấp kinh phí.
2 Thông tư 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 08/10/2007 hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật và Nghị định số 126/2007/NĐ-CP.
3 Thông tư 21/2013/TT-BLĐTBXH ngày 10/10/2013 quy định mức trần tiền ký quỹ và thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được thỏa thuận ký quỹ với người lao động, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 04/9/2007 quy định việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp và tiền ký quỹ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
4 Thông tư 22/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/10/2013 quy định mẫu và nội dung Hợp đồng cung ứng lao động, Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
5 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Thông tư liên tịch số 32/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNG của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao về việc hướng dẫn trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
6 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Thông tư liên tịch số 32/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNG của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao về việc hướng dẫn trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
7 http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/223-6950-nhung-diem-sang-trong-thuc-hien-chinh-sach-xuat-khau-lao-dong.html
8 Phụ lục 01 ban hành kèm theo Thông tư số 21/2013/TT-BLĐTBXH ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định mức trần tiền ký quỹ và thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được thỏa thuận ký quỹ với người lao động.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2017). “Chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam”. Đề tài độc lập cấp quốc gia mã số ĐTĐL-XH.15/15. Đề tài nhánh 3 “Thực trạng chính sách kiều hối cho phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam trong thời gian qua”.
2. PGS., TS. Nguyễn Thị Lan Hương (2016). “Lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trở về Việt Nam”. Bài thuyết trình tại Hội thảo quốc gia “Chính sách kiều hối của Việt Nam trong thời gian qua - Thực trạng và giải pháp”, Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10/2016.
3. The World Bank (2016), Migration and remittances factbook 2016, third edition.
4. Các website:
- Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: www.molisa.gov.vn
- Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: www.dolab.gov.vn
- Hiệp hội XKLĐ Việt Nam: www.vamas.com.vn
1 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam