Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Tạp chí Ngân hàng

Các sản phẩm ngân hàng bền vững nhằm cung cấp giải pháp tài chính xanh cho nền kinh tế (số 15)

14/11/2017 17:36:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Các sản phẩm ngân hàng bền vững nhằm cung cấp giải pháp tài chính xanh cho nền kinh tế

PGS.,TS. Tô Kim Ngọc1

Bùi Khắc Hoài Phương2

 

Phát triển ngân hàng bền vững nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh và tạo giá trị thương hiệu cho chính ngân hàng, ngoài ra ngân hàng bền vững góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế bền vững. Thật vậy, ngân hàng tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển bền vững thông qua các chính sách tín dụng của mình như cung cấp vốn và khuyến khích các dự án thân thiện với môi trường, các dự án mang tính xã hội... Mặt khác, nó cũng tạo ảnh hưởng thông qua các hoạt động dịch vụ của mình như: thông qua tư vấn đầu tư. Hơn nữa, các ngân hàng có lợi thế so sánh rất lớn với những kiến ​​thức và thông tin họ có về thị trường của các ngành nghề khác nhau, pháp luật và các chiến lược mở rộng thị trường. Các ngân hàng có thể cung cấp các công cụ và kiến ​​thức để khuyến khích sự phát triển bền vững. Ngân hàng sẽ tác động đến môi trường thông qua các hoạt động nội bộ và tác động bên ngoài thông qua cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của mình. Xét theo nghĩa hẹp, tác động của ngân hàng đối với phát triển bền vững có thể hiểu như sau: Nếu một ngân hàng cho vay dự án gây ô nhiễm, họ sẽ gặp các rủi ro khi ngày càng có các quy định nghiêm ngặt về môi trường. Ngược lại, nếu ngân hàng tích hợp quản lý rủi ro môi trường và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, sản xuất đảm bảo chất lượng môi trường thì ngân hàng sẽ thu lại được khoản cho vay. Theo nghĩa rộng hơn, chẳng hạn các cơ hội thị trường từ sản xuất sạch và năng lượng tái tạo, lợi thế cạnh tranh từ các sản phẩm mới, sự gắn kết với khách hàng sẽ thúc đẩy các ngân hàng thực hiện các chiến lược tài chính xanh với trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR), nhằm tạo lợi ích cho bản thân ngân hàng và các doanh nghiệp trong khi gia tăng lợi ích cho môi trường và xã hội. Bài viết, trước hết điểm qua quan điểm về ngân hàng bền vững, kinh nghiệm phát triển các sản phẩm ngân hàng bền vững của một số quốc gia.

1. Các quan điểm về ngân hàng bền vững

Có nhiều quan điểm khác về ngân hàng xanh và ngân hàng bền vững, trong đó, theo nghĩa hẹp, ngân hàng xanh cung cấp các sản phẩm xanh và góp phần cải thiện môi trường. Ngân hàng xanh thường hướng tới việc sử dụng tối ưu tài nguyên thiên nhiên và tích hợp vấn đề rủi ro môi trường, rủi ro biến đổi khí hậu trong xét duyệt cho vay. Xét nghĩa rộng, ngân hàng xanh là ngân hàng bền vững, tức là, hoạt động bên trong của ngân hàng đáp ứng yêu cầu bền vững và các hoạt động bên ngoài tích hợp vấn đề môi trường, xã hội trong hoạt động đầu tư và cho vay.

Theo quan điểm của Hiệp hội Ngân hàng Ấn Độ (2014), ngân hàng bền vững cũng giống như các ngân hàng bình thường khác, tuy nhiên, trong hoạt động của mình, ngân hàng bền vững phải xem xét các yếu tố về xã hội và môi trường. Như vậy, theo quan điểm này, ngân hàng bền vững cần chú trọng và tập trung vào vấn đề môi trường trong hoạt động kinh doanh nhằm bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Xét theo cách tiếp cận này, ngân hàng bền vững là ngân hàng xanh.

Các tác giả Mishra (2013) và Biswas (2011) cũng đồng ý với quan điểm ngân hàng xanh là xem xét các tác động đến môi trường và xã hội trong hoạt động
kinh doanh.

Bouma và cộng sự (2001) định nghĩa ngân hàng bền vững tập trung vào tác động bên ngoài của ngân hàng thông qua việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Theo quan điểm này, ngân hàng bền vững chỉ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của mình cho các khách hàng, xem xét các tác động đến môi trường và xã hội trong các hoạt động của họ. Như vậy, ngân hàng bền vững sẽ từ chối cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của mình cho các khách hàng mà hoạt động của họ có tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội. Imeson và Sim (2013) định nghĩa ngân hàng bền vững dựa trên các tác động của nó đối với các bên liên quan gồm: cổ đông, nhân viên, khách hàng và nền kinh tế. Như vậy, cách tiếp cận này xác định ngân hàng bền vững đem lại lợi ích cho các bên liên quan và trong hoạt động của ngân hàng, cần phải ngăn chặn, hoặc ít nhất là giảm thiểu, bất kỳ tác hại không đáng có đối với xã hội và môi trường tự nhiên.

Theo quan điểm của Marcel Jeucken (2001), ngân hàng bền vững xét theo cả hoạt động nội bộ bên trong ngân hàng và các tác động bên ngoài thông qua việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng. Theo cách tiếp cận này, hoạt động bên trong của ngân hàng như: các vấn đề sử dụng tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm các chi phí về sử dụng giấy in, sử dụng hiệu quả các cơ sở vật chất của ngân hàng... đáp ứng yêu cầu bền vững. Bên cạnh đó, ngân hàng bền vững thông qua hoạt động bên ngoài như cho vay và đầu tư cần phải tập trung vào các tiêu chuẩn đánh giá và khuyến khích sự bền vững giữa các khách hàng và các tổ chức khác trong
xã hội.

Rebai (2014) đồng tình với quan điểm của Marcel Jeucken (2001), đó là ngân hàng bền vững cần phải đáp ứng các hoạt động bên trong ngân hàng và các tác động bên ngoài của mình phải đảm bảo tính bền vững. Ngoài ra, Rebai bổ sung khía cạnh ngân hàng bền vững cần phải góp phần đến sự ổn định và lành mạnh của hệ thống tài chính, quản lý rủi ro đầy đủ cũng như tìm kiếm liên tục và tối ưu sự cân bằng giữa lợi ích các bên liên quan

Nhìn chung, có nhiều định nghĩa và cách tiếp cận khác nhau về ngân hàng bền vững, tuy nhiên, có điểm chung đó là ngân hàng bền vững có những nỗ lực nhằm cải thiện vấn đề môi trường và xã hội. Hoạt động của ngân hàng không những đem lại lợi ích cho bản thân ngân hàng, mà còn đóng góp cho phát triển kinh tế, cải thiện môi trường và nâng cao đời sống xã hội. Ngân hàng sẽ tác động đến môi trường và xã hội thông qua các hoạt động nội bộ và tác động bên ngoài thông qua cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho các khách hàng.

 

2. Kinh nghiệm phát triển sản phẩm ngân hàng bền vững của một số nước

- Sản phẩm thanh toán bền vững: Một số ngân hàng lớn trên thế giới đã cung cấp các sản phẩm thẻ bền vững như: thẻ World Nature Card của Föreningssparbanken Thụy Điển. Sản phẩm này được phát hành bởi sự hợp tác giữa ngân hàng Foreningssparbanken và WWF Quỹ quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (World Wildlife Fund). Cũng hợp tác với WWF, Ngân hàng Hoàng gia Canada cung cấp sản phẩm thẻ được gọi là WWF Visa Affinity Card. Citigroup của Mỹ cung ứng Environmental Defense Platinum Master Card cho các khách hàng của mình...

- Sản phẩm tín dụng bền vững: Các nước EU đang có biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đầu tư vào các lĩnh vực cải thiện môi trường bằng cách thành lập Quỹ đầu tư châu Âu (European Investment Fund - EIF). Đối với các khoản đầu tư đặc biệt vào môi trường được xác định bởi các EIF - các EIF hoạt động bảo lãnh lên đến 50% tổng số tiền vay. Các ngân hàng tham gia vào quỹ EIF sẽ cung cấp tín dụng cho các DNNVV với các điều khoản dễ hơn so với tín dụng thông thường. Một số ngân hàng ở châu Âu cung cấp tín dụng cho các DNNVV, chẳng hạn như Ngân hàng Alpha Bank, Allied Irish Banks, Bank Austria, Barclays, BBVA, Credit Agricole, Credit Lyonnais, Deutsche Ausgleichsbank, ING, Ngân hàng KBC, Nordea và Royal Bank of Scotland. Vào cuối năm 2000, tổng số 37 ngân hàng châu Âu cung cấp cho khách hàng DNNVV của họ khoản vay EIF. Mỗi ngân hàng có những quy định riêng cho các gói vay, nhưng thông thường, bao gồm các điều khoản chủ yếu sau: các doanh nghiệp không phải trả một khoản phí trả trước; lãi suất thấp hơn các khoản vay thông thường từ 0,5% đến 1%; thời hạn các khoản vay từ 3 - 10 năm; khoản vay sẽ được trả hết trên cơ sở trả đều hoặc một lần vào cuối thời hạn; và khoản vay thường là từ 12.000 Euro đến 1 triệu Euro.

Năm 1997, NatWest dùng 33 triệu Euro để kích thích các dự án kinh doanh nhằm cải thiện môi trường bằng cách cung cấp các khoản vay với các điều khoản thuận lợi (NatWest, 1998). Tương tự, các ngân hàng Citigroup, Bank of America, Deutsche Bank, HypoVereinsbank, UniCredit Italiano, Rabobank, Credit Suisse và Sumitomo cũng cung cấp các khoản vay khuyến khích cải thiện môi trường với các điều khoản hấp dẫn.

Với mục tiêu hoạt động nhằm đóng góp vào sự phát triển của một nền kinh tế bền vững, cam kết của Ngân hàng Deutsche Bank là cung cấp một số sản phẩm và dịch vụ nhằm khuyến khích một nền kinh tế carbon thấp. Cụ thể, Deutsche Bank cung cấp các sản phẩm tài chính cho các dự án tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và công nghệ sạch. Một trong những dự án điển hình về cho vay của Deutsche Bank là dự án sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn năng được trợ cấp bởi các nhóm ngân hàng KfW.

KfW là một ngân hàng xanh và phát triển bền vững, nhóm ngân hàng KfW là một trong những tổ chức lớn nhất trong lĩnh vực năng lượng tái tạo ở cấp quốc gia và quốc tế. KfW chịu trách nhiệm cải thiện bền vững đời sống kinh tế, sinh thái và xã hội như một ngân hàng phát triển kinh doanh thuộc sở hữu của chính phủ liên bang và tiểu bang của liên bang Đức.

- Sản phẩm tiết kiệm bền vững: Có nhiều ngân hàng cung cấp sản phẩm tiết kiệm bền vững. Ngân hàng Triodos Bank của Hà Lan cung cấp đa dạng các sản phẩm tiết kiệm bền vững giúp cho khách hàng nhều sự lựa chọn về sản phẩm tiết kiệm này. Các sản phẩm của Triodos bao gồm: Cash ISAs, lựa chọn sản phẩm này, khách hàng được hưởng lãi suất và miễn thuế; Triodos Savers, sản phẩm tiết kiệm bền vững linh hoạt; Children’s Savings, tiết kiệm cho trẻ em; Fixed Term Savings, trái phiếu tiết kiệm có đạo đức; Regular Saving; save and Donate, sản phẩm tiết kiệm để làm từ thiện và được hưởng lãi.

- Đầu tư bền vững: Các nhà đầu tư ngày càng quan tâm và tích hợp yếu tố bền vững vào các khoản đầu tư của họ. Điều này được minh họa bởi sự tăng trưởng mạnh mẽ liên tục của tài sản được quản lý theo nguyên tắc Đầu tư có trách nhiệm (PRI) của Liên Hiệp Quốc. Những tài sản này đã tăng lên đến 59 nghìn tỷ USD vào tháng 4 năm 2015 và tăng 29% so với năm trước. Bên cạnh đó, một cuộc khảo sát gần đây về vấn đề đầu tư của JP Morgan với 146 nhà đầu tư lớn và có tác động trên toàn thế giới đã báo cáo kế hoạch tăng 16% các cam kết đầu tư bền vững trong năm 2015, từ 10.6 tỷ USD năm 2014 lên 12.2 tỷ USD năm 2015.

Tuy nhiên, những thách thức đối với khu vực đầu tư bền vững, đặc biệt là tại các thị trường mới nổi như: xác định rủi ro và lợi nhuận hợp lý cho công chúng và các nhà đầu tư cũng như đánh giá các cơ hội đầu tư bền vững.(Deutsche Bank, 2015).

Nhiều ngân hàng lớn trên thế giới cung cấp sản phẩm đầu tư bền vững và đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Trong đó, các quỹ chỉ số bền vững có những bước phát triển nhanh. Chẳng hạn như chỉ số Hypo Vereinsbank’s DJSG index, các quỹ trái phiếu bền vững của ngân hàng Bank Sarasin, quỹ khí hậu của Dexia. Sự gia tăng của đầu tư bền vững tại thị trường Nhật Bản (các quỹ từ Nikko Securities và Quỹ UBS’s Dr Eco Fund), quỹ đầu tư bền vững của NGO

- Sản phẩm bảo hiểm bền vững: Từ năm 1998, các ngân hàng tại Hà Lan đã cung cấp bảo hiểm từng phần thiệt hại về môi trường như: hỏa hoạn, giao thông vận tải và trách nhiệm pháp lý về môi trường và bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp. Cũng trong năm này, ngân hàng tại Hà Lan bắt đầu cung cấp sản phẩm bảo hiểm thiệt hại môi trường tích hợp (Integrated Environmental Damage Insurance - IEDI). Ưu điểm của loại hình bảo hiểm này so với bảo hiểm về môi trường thông thường là các công ty được bảo hiểm và ngân hàng rút ngắn thời gian xác định quyền và trách nhiệm của mỗi bên và thiệt hại được đền bù một cách nhanh chóng và đơn giản hơn. Lợi thế của IEDI là nó khuyến khích một doanh nghiệp hạn chế đáng kể các nguy cơ tác động đến môi trường. Chẳng hạn, một công ty hóa chất sẽ được đánh giá ở mức 5 là mức có nguy cơ rủi ro cao, khi có thiệt hại, họ sẽ được đền bù tối đa, ngược lại, các công ty chuyên về văn phòng sẽ được đánh giá ở mức nguy cơ thấp hơn và được hưởng phí bảo hiểm thấp.

 

3. Bài học rút ra từ việc nghiên cứu các sản phẩm tài chính xanh của các nước

Thứ nhất, đặc điểm của các sản phẩm tài chính xanh

Về mục tiêu: Các sản phẩm tài chính xanh nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án thân thiện với môi trường, góp phần vào phát triển nền kinh tế xanh, thông qua các sản phẩm của các tổ chức tài chính như cho vay, đầu tư, tư vấn, bảo hiểm…

Về lợi ích: sản phẩm tài chính xanh có nhiều lợi ích cho nền kinh tế nói chung và cho riêng bản thân các ngân hàng. Về lợi ích xét theo nghĩa rộng, sản phẩm tài chính xanh nhằm khuyến khích các dự án cải thiện môi trường, đóng góp vào nền kinh tế carbon thấp. Xét theo nghĩa hẹp, các doanh nghiệp khi đầu tư, sản xuất xanh mà đặc biệt đầu tư vào các lĩnh vực tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và công nghệ sạch, thường có được các điều kiện thuận lợi hơn so với tín dụng thông thường như thời hạn vay từ trung đến dài hạn, lãi suất vay hấp dẫn, quy mô vay... Đối với các ngân hàng thương mại, khi cung cấp các sản phẩm tài chính xanh sẽ tạo được mối liên hệ gắn kết với khách hàng, nâng cao giá trị thương hiệu, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Mặt khác, khi cung cấp các sản phẩm tài chính xanh, ngân hàng sẽ có cơ hội phát triển các sản phẩm mới, các sản phẩm bền vững.

Quy mô sản phẩm: sản phẩm tài chính xanh sẽ được cung cấp cùng với các sản phẩm truyền thống của ngân hàng. Tùy vào nguồn lực và điều kiện của mình, mỗi ngân hàng sẽ cung cấp các sản phẩm tài chính xanh có quy mô khác nhau. Thông thường, khi mới cung cấp sản phẩm tài chính xanh, ngân hàng sẽ có chi phí cao hơn vì phải đầu tư vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, như các chi phí đào tạo nâng cao nhận thức và năng lực thẩm định các dự án đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường. Ngân hàng phải đầu tư vào công nghệ để đánh giá chính xác, đầy đủ mức độ rủi ro về môi trường và xã hội của dự án để quyết định cho vay, ngoài ra các chi phí quảng bá sản phẩm tài chính xanh… Qua giai đoạn tiếp theo, khi ngân hàng đã cung cấp các sản phẩm tài chính xanh, ngân hàng thu được nhiều lợi ích như sự gắn kết với khách hàng, đạt được các mục tiêu cốt lõi và nâng cao giá trị thương hiệu…

Thứ hai, điều kiện để khách hàng tiếp cận với các sản phẩm tài chính xanh

Để tiếp cận với các sản phẩm tài chính xanh, mà đặc biệt là sản phẩm tín dụng xanh, các dự án vay phải đáp ứng tiêu chuẩn nhất định, mỗi tổ chức cho vay sẽ có các điều kiện và tiêu chuẩn khác nhau. Tuy nhiên, các dự án đều phải đáp ứng các tiêu chí về môi trường, nghĩa là, các dự án không gây nguy hại và đóng góp cải thiện môi trường và xã hội. Việc xem xét vấn đề môi trường không chỉ dừng lại ở quyết định cho vay, mà còn xuyên suốt quá trình giám sát, quản lý rủi ro môi trường trong quá trình vận hành các dự án nhằm đảm bảo không vi phạm vấn đề môi trường, khuyến khích sử dụng công nghệ sạch, sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng đóng góp vào tiến bộ về môi trường và xã hội. Chẳng hạn, các dự án về tiết kiệm năng lượng, nước, nhiên liệu, năng lượng tái tạo (điện nhiệt, năng lượng sinh học, thủy điện, năng lượng gió, năng lượng mặt trời…), hay các dự án có những cải tiến về công nghệ sạch… là những dự án có đóng góp về những tiến bộ về môi trường, đáp ứng tiêu chuẩn vay vốn tín dụng xanh.

 

4. Thực trạng phát triển các sản phẩm, dịch vụ xanh của ngân hàng thương mại Việt Nam

Tăng trưởng xanh và hướng đến phát triển bền vững nền kinh tế đã được chú trọng và quan tâm của chính phủ Việt Nam. Chính phủ đã có những chủ trương và chính sách về tăng trưởng xanh và hướng đến phát triển bền vững nền kinh tế như Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2012 về “Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh”, với mục tiêu chung nhằm hướng đến tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế các - bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã xây dựng 17 giải pháp thực hiện nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh, trong đó, các doanh nghiệp có vai trò quan trọng, đóng góp vào phát triển nền kinh carbon thấp, thúc đẩy tăng trưởng xanh. Tiếp theo đó, Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ quyết định “Phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020”, trong đó, chỉ rõ những nội dung chủ yếu của các hoạt động thuộc kế hoạch hành động tăng trưởng xanh cần được triển khai đồng bộ bao gồm: Nâng cao nhận thức; hoàn thiện thể chế; thay đổi cơ cấu kinh tế ngành, địa phương và doanh nghiệp và đổi mới công nghệ.

Ngày 24/03/2015, Ngân hàng Nhà nước ban hành Chỉ thị số 03/CT-NHNN/2015 về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, với mục tiêu hướng đến vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng; cải thiện chất lượng môi trường và bảo vệ sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững...; thực hiện rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế tín dụng cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh; tập trung nguồn lực để cấp tín dụng cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh thân thiện với môi trường và xã hội, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tăng trưởng xanh, qua đó, thực hiện được mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế bền vững.

Như vậy, Việt Nam đã ban hành các chính sách, giải pháp nhằm thực hiện tăng trưởng xanh, trong đó, ngành Ngân hàng có vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh của quốc gia thông qua các hoạt động cho vay, tư vấn, đầu tư và cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp và các dự án.

Hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam mới chỉ cung ứng một số sản phẩm xanh, hỗ trợ các dự án phát triển bền vững vì cộng đồng như: các dự án an sinh xã hội, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng,..., đánh giá một số dự án và cấp tín dụng gắn kết với môi trường như sử dụng tiết kiệm năng lượng, nâng cao nhận thức về vấn đề môi trường cho cộng đồng...

Các ngân hàng thương mại nhà nước đã chú trọng vấn đề môi trường và xã hội trong hoạt động cho vay, góp phần hoàn thành mục tiêu và cam kết phát triển bền vững. Các ngân hàng đã tài trợ nhiều dự án liên quan đến bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường. Trong đó, dự án Tài chính nông thôn do Ngân hàng Thế giới tài trợ có ý nghĩa quan trọng nhằm bổ sung nguồn vốn góp phần phát triển khu vực nông thôn. Ngân hàng BIDV đang triển khai dự án nông thôn II,III với vai trò là ngân hàng đầu mối, đảm bảo nguồn vốn được quản lý an toàn, cho vay đúng đối tượng, hiệu quả, trong thời gian tới, BIDV tiếp tục đầu tư dự án Tài chính nông thôn III. Dự án Tài chính Nông thôn I, II và III có tổng số vốn vay Ngân hàng Thế giới lên đến 548 triệu USD. Việc triển khai dự án này đã góp phần bổ sung vốn đầu tư phát triển nông thôn lên đến trên 45 nghìn tỷ đồng, tài trợ trên 1,7 triệu khoản vay của các hộ gia đình và các doanh nghiệp, trong đó có 600 nghìn khoản vay nhỏ cho hộ nghèo, hộ thu nhập thấp ở khu vực nông thôn. Theo ngành kinh tế, nguồn vốn các Dự án Tài chính nông thôn cũng chủ yếu cho vay đầu tư ở các lĩnh vực mang lại thu nhập chính cho người dân nông thôn là trồng trọt và chăn nuôi, chiếm 58% tổng vốn. Nguồn vốn Dự án đã tạo thêm được trên 410 nghìn việc làm mới ở khu vực nông thôn, giúp cải thiện điều kiện sống của người dân và giảm nghèo.

Tuy nhiên, dự án Tài chính nông thôn do Ngân hàng Thế giới tài trợ, các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa cung cấp được nhiều sản phẩm ngân hàng bền vững, chưa xây dựng được hệ thống đánh giá rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng, vì vậy, chưa thể đánh giá được đầy đủ những tác động đến môi trường và xã hội của các dự án.

Hiện tại, Việt Nam đang liên kết với Chính phủ Thụy Sỹ (SECO) thành lập Quỹ ủy thác tín dụng xanh (Green Credit Trust Fund - GCTF) nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư các công nghệ sản xuất có hiệu suất cao và thân thiện với môi trường. Quỹ GCTF có sự tham gia của các tổ chức: thẩm định tài chính và cung cấp tín dụng có 3 NHTMVN gồm Ngân hàng Á Châu, Techcombank và Ngân hàng Quốc tế (VIB), thẩm định kỹ thuật và môi trường có Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam - Vietnam Cleaner Production Center (VNCPC), Tập đoàn CSD của Thụy Sĩ; Quản lý nguồn quỹ SECO ủy thác qua RBC (Royal Bank of Canada). Tháng 6 năm 2015,  diễn ra Lễ ký Thỏa thuận hợp tác giữa Đại sứ quán Đan Mạch với 3 ngân hàng Techcombank, BIDV và NHTMCP Sài Gòn (SCB).  Đây là các ngân hàng cho vay tham gia vào Chương trình Hỗ trợ Đầu tư Xanh (GIF) thuộc dự án Chuyển hóa carbon thấp trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng.

Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng Chương trình Tín dụng xanh nhằm khuyến khích các ngân hàng thương mại cung cấp thêm các khoản vay hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tăng trưởng xanh. Hiện nay, có 4 ngân hàng đang tham gia thực hiện thí điểm chương trình là: Agribank, BIDV, Sacombank và Vietcombank. Theo đó, các ngân hàng sẽ hỗ trợ khoảng 20 - 25  phương án, dự án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng mới/năng lượng tái tạo, xử lý/tái chế rác thải và nông nghiệp hữu cơ. Doanh nghiệp có thể vay vốn với lãi suất thấp hơn thông thường từ 1 - 3%.

Bên cạnh chính sách vĩ mô, doanh nghiệp có thể tiếp cận nhiều quỹ hỗ trợ đối với lĩnh vực biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh. Ví dụ, Quỹ Ủy thác tín dụng xanh (GCTF) khuyến khích đầu tư tư nhân vào các hệ thống sản xuất sạch hơn và các giải pháp tiết kiệm năng lượng, cùng một khoản trợ cấp dựa trên hiệu quả hoạt động. Khi dự án thực hiện thành công, doanh nghiệp có thể nhận được tiền thưởng về thanh toán nợ: Nếu các công nghệ mới giúp giảm phát thải ít nhất là 30%, người vay sẽ được hưởng 15% số nợ dịch vụ được tài trợ từ Quỹ. Nếu giảm phát thải từ 30 - 50%, tỷ lệ trợ cấp sẽ là 25%. Cho đến nay, Quỹ đã hỗ trợ cho hơn 100 doanh nghiệp tại Việt Nam.

Việc tham gia vào các liên kết quốc tế mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế, xã hội tại Việt Nam. Thứ nhất, Việt Nam sẽ học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển trong việc xây dựng chính sách và lộ trình phát triển tài chính xanh. Thứ hai, tham gia liên kết quốc tế giúp cho các đơn vị liên kết nâng cao năng lực thẩm định dự án, các vấn đề tác động môi trường và tài chính... riêng các ngân hàng thương mại tham gia liên kết sẽ giúp các ngân hàng gắn kết với khách hàng và nâng cao nhận thức phát triển đầu tư xanh cho cán bộ, nhân viên ngân hàng. Bên cạnh đó, giúp ngân hàng thiết lập các tiêu chí và điều kiện cho vay với các doanh nghiệp, đánh giá hiện trạng tài chính và quản lý vốn việc giải ngân, thu hồi vốn vay...

5. Thách thức đối với việc mở rộng việc cung cấp sản phẩm ngân hàng xanh

- Vốn và khung quản lý rủi ro cho sản phẩm tài chính xanh nói chung, tín dụng xanh nói riêng

Năng lực nguồn vốn để đáp ứng tiêu chuẩn Basel II và để cung cấp sản phẩm tài chính xanh hiện là yêu cầu cấp bách và cần thiết đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Hiện nay, Ngân hàng nhà nước đã ban hành Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, có khá nhiều chỉ tiêu giới hạn được tính toán theo vốn tự có của ngân hàng như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) 9%, mức cấp tín dụng cho một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có và một nhóm khách hàng có liên quan không quá 25% vốn tự có; tỷ lệ góp vốn mua cổ phần không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng... Như vậy, một ngân hàng muốn mở rộng hạn mức tín dụng cho khách hàng hoặc tăng nguồn vốn đầu tư góp vốn, mở rộng hoạt động kinh doanh thì phải tăng thêm vốn điều lệ. Bên cạnh đó, việc gia tăng vốn điều lệ nhằm đầu tư vào nâng cao hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở vật chất và hệ thống quản trị rủi ro.

Về khung quản lý rủi ro cho tài chính xanh nói chung và riêng cho tín dụng xanh của các ngân hàng tương mại hiện nay chưa hoàn thiện. Đến năm 2012, hiện có một số ngân hàng thương mại Việt Nam có hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội, trong đó có hai ngân hàng sử dụng bộ tiêu chuẩn của IFC (Techcombank, Vietinbank), một ngân hàng (Sacombank) có tham khảo bộ tiêu chuẩn này nhưng cũng xây dựng chính sách riêng của mình (Trần Trọng Phong và Thiều Thùy Hương, 2016). Việc xây dựng và áp dụng quản lí rủi ro môi trường - xã hội có nhiều ý nghĩa quan trọng. Hoạt động của ngân hàng sẽ tạo ra giá trị dài hạn cho khách hàng của mình khi ngân hàng đó quản lý hiệu quả các cơ hội và rủi ro về môi trường và xã hội. Một hệ thống quản lý xã hội và môi trường hiệu quả có thể mở rộng phạm vi lợi ích và tạo ra lợi nhuận gián tiếp cho một ngân hàng bằng cách giảm chi phí và rủi ro, quản lý rủi ro, cải thiện chất lượng của danh mục đầu tư và làm giảm trách nhiệm bảo hiểm và yêu cầu bồi thường. Tích cực tận dụng các cơ hội bằng cách giới thiệu, áp dụng các giải pháp tài chính mới và các sản phẩm tạo ra lợi nhuận trực tiếp tại các thị trường mới, với các khách hàng mới. Việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội của các ngân hàng thương mại còn gặp một số thách thức như: thiếu năng lực thể chế, thiếu thông tin về khách hàng và cam kết từ đội ngũ quản lý cấp cao, năng lực đánh giá rủi ro của các cán bộ ngân hàng còn gặp nhiều hạn chế...

- Đầu tư phát triển, ứng dụng công nghệ cao

Các ngân hàng thương mại Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có sự cạnh tranh của ngân hàng nước ngoài và yêu cầu nâng cao quản trị rủi ro. Do vậy, ngân hàng đòi hỏi phải nỗ lực đổi mới, ứng dụng công nghệ thông tin và điều hành tốt hoạt động của mình.

Sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong thời gian qua có sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ. Công nghệ giúp nâng cao khả năng thanh toán, xây dựng ngân hàng số, ngân hàng điện tử,... cũng như việc nâng cao năng lực quản trị  ngân hàng. Do vậy trong thời gian tới, các ngân hàng thương mại nên đầu tư mạnh vào công nghệ, đây cũng là xu hướng tất yếu trong phát triển hệ thống ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trong thời gian tới, các ngân hàng thương mại cần đầu tư vào hệ thống nền tảng công nghệ. Tùy vào hoạt động kinh của mình, mỗi ngân hàng sẽ có những chiến lược đầu tư và phát triển công nghệ khác nhau. Với những cam kết phát triển bền vững trong thời gian tới, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần đầu tư vào những hệ thống công nghệ tiên tiến, hàng đầu gắn chặt với chiến lược kinh doanh và đồng thời, phải có nguồn nhân lực cao để đảm bảo có thể ứng dụng, triển khai và vận hành hệ thống công nghệ của ngân hàng mình.

- Bộ tiêu chuẩn môi trường cho từng ngành nghề

Các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa xây dựng được bộ tiêu chuẩn môi trưởng cho từng ngành nghề. Các ngành nghề khác nhau sẽ có những tác động đến môi trường không giống nhau, chẳng hạn các ngành công nghiệp nặng như khai khoáng, luyện kim, cơ khí sẽ có mức ảnh hưởng đến môi trường cao hơn so với các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, dịch vụ, du lịch… Để cung cấp các sản phẩm tài chính xanh, các ngân hàng thương mại cần lập chính sách cho các lĩnh vực cụ thể để tạo khung đánh giá môi trường cho các lĩnh vực nhạy cảm như công nghiệp luyện kim, xây dựng nhà ở, cơ khí, kim loại cơ bản và hóa chất, các ngành sản xuất và dịch vụ… Điều này sẽ giúp công tác thẩm định dự án vay, quản lý rủi ro trong quá trình vận hành dự án được thuận lợi, chính xác hơn.

- Nhân lực: Chất lượng đội ngũ nhân viên ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc thực thi những chiến lược phát triển bền vững của ngân hàng. Do vậy, chất lượng nguồn nhân lực không những đáp ứng các hoạt động kinh doanh truyền thống, mà đòi hỏi nhân viên ngân hàng cần phải hiểu rõ về vấn đề môi trường và năng lượng trong xét duyệt cho vay và có năng lực đánh giá được đầy đủ và chính xác những tác động đến môi trường và xã hội của các hoạt động kinh doanh của khách hàng.

 

6. Kiến nghị và kết luận

6.1. Kiến nghị

- Các giải pháp và kiến nghị đối với Quốc hội và Chính phủ

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo việc thực thi các cam kết của Việt Nam khi tham gia hội nhập, tạo môi trường cạnh tranh, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi và minh bạch của hệ thống tài chính. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho xử lý nợ xấu, tiếp tục hoàn thiện thị trường mua bán nợ huy động được sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, nhằm nhanh chóng xử lý tận gốc nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.

Thứ hai, hoàn thiện khung pháp lý về ổn định và phát triển lành mạnh hệ thống tài chính.

- Các giải pháp và kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

+ Xây dựng lộ trình và chính sách thực hiện ngân hàng bền vững: bao gồm tập trung vào việc xây dựng, quản lý chính sách, kết hợp đánh giá rủi ro môi trường và xã hội trong quản lý khách hàng; khởi tạo vấn đề môi trường trong hoạt động ngân hàng, xây dựng hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động ngân hàng, từng bước thực hiện hoạt động ngân hàng xanh và bền vững.

+ Thúc đẩy việc xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại đáp ứng các yêu cầu cung cấp và phát triển các dịch vụ mới.

+ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống giám sát tài chính quốc gia nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống tài chính phát triển ổn định, lành mạnh và hiệu quả.

+ Các tiêu chuẩn để đánh giá mức độ bền vững của ngân hàng: xây dựng các tiêu chuẩn để đánh giá ngân hàng bền vững và có những chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các ngân hàng bền vững hoạt động có hiệu quả.

+ Các chính sách nâng cao nhận thức và khuyến khích khách hàng đầu tư vào ngân hàng bền vững.

+ Xây dựng các quy định nhằm tăng cường liên kết quốc tế về hoạt động đầu tư vào các dự án xanh nhằm tận dụng kinh nghiệm quản lý và thực hành ngân hàng xanh của các tập đoàn tài chính lớn.

- Các giải pháp và kiến nghị đối với ngân hàng thương mại

Để thực hiện phát triển bền vững, ngoài việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế như Basel, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện các hệ thống đánh giá rủi ro về môi trường và xã hội trong việc xét duyệt cho vay, trong hoạt động đầu tư và mở rộng sản phẩm, dịch vụ. Vì khi có hệ thống này, các ngân hàng sẽ đánh giá và đo lường, phân loại chính xác, đầy đủ các mức độ rủi ro về môi trường, rủi ro về xã hội, từ đó, sẽ từ chối các dự án có rủi ro cao về môi trường và xã hội.

Chú trọng công tác đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ nhân viên ngân hàng. Đặc biệt là các vấn đề về quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong xét duyệt cho vay. Tạo niềm tin, uy tín và thương hiệu của ngân hàng với khách hàng, các nhà đầu tư.

Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng nhằm nâng cao và phát triển giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng, tạo nhiều tiện ích và thuận lợi và chú trọng an toàn thông tin cho khách hàng khi thực hiện giao dịch.

6.2. Kết luận

Hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam mới chỉ cung cấp bước đầu các sản phẩm tài chính xanh, việc cung cấp các sản phẩm này chủ yếu được thực hiện thông qua các liên kết quốc tế bằng việc thành lập quỹ tín dụng xanh. Để tiến tới cung cấp các sản phẩm xanh và hướng đến cung cấp sản phẩm ngân hàng bền vững, cần phải hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng lộ trình ngân hàng bền vững. Đặc biệt, phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội nhằm đảm bảo cân nhắc tính bền vững là một phần trong tất cả các quá trình ra quyết định của tổ chức tín dụng, bao gồm cả đánh giá tín dụng và phân tích danh mục đầu tư. Nó cho phép các ngân hàng xem xét khía cạnh môi trường, kinh tế và xã hội một cách toàn diện và tận dụng các cơ hội phát triển bền vững.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Indian Banks Association. (2014). Green Banking Innovations; Indian Banks’ Association. Retrieved from The Indian Banker:

2. Mishra D. K., Green Strategies:
Response of Indian Banks to Climate Change. The Ecoscan, Special Issue, 3: 345-348 (2013).

3. Bouma, J. J., Jeucken, M. and Klinkers, L. (2001) Sustainable Banking: The Greening of Finance, Sheffield, UK: Greenleaf Publishing.

4. Imeson, M. and Sim, A. (2013)
Sustainable Banking: Why helping
communities and saving the planet is good for business, SAS Institute Inc. World
Headquarters, Retrieved from http://www.sas.com/resources/whitepaper/wp_24356.pdf.

5. Jeucken, M. (2001), Sustainable Finance and Banking The Financial Sector and the Future of the Planet. Routledge.

6. Rebai, S., Azaiez, M. N., & Saidane, D. (2015). A multi-attribute utility model for
generating a sustainability index in the banking sector. Journal of Cleaner Production.

7. NatWest Group (1998), Environment Report 1997/98, NatWest, London (www.natwest.com).

8. https://www.db.com/cr/en/responsible-business/sustainable-products.htm.

9. Deutsche Bank (2015), Corporate Responsibility Report 2015.

10. Trần Trọng Phong và Thiều Thùy Hương (2016), Phát triển dòng tín dụng xanh trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang được “xanh hóa”, Tạp chí ngân hàng, Số 15/2016.

 

1 Học viện Ngân hàng

2 Khoa Kinh tế - du lịch, ĐH Quảng Bình


  • aA
  • Categories:
  • Tạp chí Ngân hàng
OTHER NEWS
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
04/11/2026
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
04/06/2026
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
04/10/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
03/07/2027
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
03/04/2027
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
03/04/2027
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
03/04/2027
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
03/06/2026
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
03/06/2026
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
03/06/2026
Showing 1 to 10 of 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready