Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Tạp chí Ngân hàng

Thực trạng sử dụng tin điện tài chính và lộ trình đề xuất áp dụng chuẩn tin điện tài chính quốc tế ISO 20022 tại thị trường Việt Nam (số 20)

24/11/2017 16:10:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Thực trạng sử dụng tin điện tài chính và lộ trình đề xuất áp dụng chuẩn tin điện tài chính quốc tế ISO 20022 tại thị trường Việt Nam

ThS. Nghiêm Thanh Sơn, ThS. Lê Anh Dũng, Lê Chí Hiếu1

 

Nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu, triển khai áp dụng chuẩn ISO 20022 trong hệ thống tài chính - ngân hàng ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện một cuộc điều tra khảo sát về thực trạng sử dụng tin điện tài chính và khả năng áp dụng chuẩn ISO 20022 tại Việt Nam trên quy mô toàn hệ thống ngân hàng1. Đợt khảo sát này đã mang lại một góc nhìn toàn cảnh đối với tình hình sử dụng tin điện tài chính ở một số hệ thống thanh toán quan trọng tại thị trường Việt Nam; đồng thời, cũng ghi nhận những nhu cầu, mong muốn của các thành viên trên thị trường trong việc áp dụng chuẩn tin điện tài chính quốc tế ISO 20022 tại Việt Nam.

 

1. Thực trạng sử dụng tin điện trong các hệ thống thanh toán quan trọng tại Việt Nam

Kết quả khảo sát thực hiện hồi đầu năm 2017 cho thấy, trung bình mỗi ngân hàng tại Việt Nam đang duy trì từ 2 đến 3 định dạng tin điện để trao đổi thông tin, dữ liệu với các hệ thống thanh toán khác nhau phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ đa dạng của ngân hàng như thanh toán liên ngân hàng, chuyển mạch thanh toán thẻ, thanh toán chứng khoán,thu nộp ngân sách…

Một số định dạng tin điện được sử dụng phổ biến trong các hệ thống thanh toán quan trọng của Việt Nam hiện nay gồm:

 

STT

Tên hệ thống

Định dạng tin điện đang sử dụng

1

Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng

Định dạng tin điện được phát triển riêng cho hệ thống (proprietory format).

2

Hệ thống thanh toán bù trừ chứng khoán của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD)

Định dạng tin điện do VSD xây dựng (dựa trên ngôn ngữ XML) hoặc định dạng theo chuẩn tin điện ngành chứng khoán ISO 15022 (hiện đang áp dụng với số ít các công ty chứng khoán và một tổ chức tín dụng duy nhất).

3

Hệ thống chuyển mạch, bù trừ giao dịch thẻ/ giao dịch thanh toán bán lẻ của Công ty Cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (NAPAS)

Định dạng tin điện theo chuẩn ISO 8583 đối với các giao dịch thẻ.

4

Hệ thống xử lý nghiệp vụ của Kho Bạc Nhà nước (KBNN)/ Tổng Cục Hải quan/ Tổng cục thuế

Định dạng tin điện được xây dựng dựa trên các quy chuẩn được quy định tại các Thông tư liên quan của Bộ Tài Chính.

 

1.1. Thực trạng sử dụng tin điện tại hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH)

Định dạng tin điện của hệ thống TTĐTLNH là định dạng trao đổi dữ liệu do NHNN xây dựng, phát triển và ban hành cho các tổ chức tín dụng sử dụng lần đầu tiên khi bắt đầu triển khai Hệ thống thanh toán liên ngân hàng giai đoạn 1 vào năm 2002. Sau 5 lần được chỉnh sửa, nâng cấp, tin điện của hệ thống thanh toán liên ngân hàng đã dần hoàn chỉnh hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu trao đổi dữ liệu cho các thành viên tham gia. Phiên bản gần nhất là phiên bản chuẩn tin điện 2.3 được ban hành vào tháng 10/2016 và hiện đang được sử dụng trong hệ thống TTĐTLNH. Kể từ khi ra đời cho tới nay, định dạng tin điện của hệ thống TTĐTLNH đã góp phần không nhỏ trong việc truyền tải thông tin, dữ liệu thanh toán chính xác, an toàn và nhanh chóng. Tuy nhiên, do đã được phát triển trên nền tảng tin điện cũ (cách đây khoảng 15 năm) nên hiện nay, tin điện hệ thống TTĐTLNH đã bộc lộ một số hạn chế nhất định trong bối cảnh hoạt động thanh toán ngày một phức tạp; nhu cầu trao đổi thông tin, dữ liệu ngày càng lớn; và nhu cầu kết nối liên thông với các tiêu chuẩn, định dạng hệ thống khác (bao gồm cả trong nước và ngoài nước) ngày một tăng cao.

Kết quả từ cuộc điều tra khảo sát cho thấy, 64,7% số lượng các tổ chức tín dụng quy mô lớn (với tổng tài sản trên 100 nghìn tỷ đồng) là những tổ chức sở hữu hệ thống thanh toán với lượng giao dịch hàng ngày lớn cho rằng, tin điện hiện hành của TTĐTLNH chưa đáp ứng đủ nhu cầu về mặt thông tin, dữ liệu cho đơn vị và cần phải được nâng cấp thêm, đặc biệt về số lượng ký tự của trường nội dung để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu nội dung cho các giao dịch thu nộp ngân sách của Tổng cục Thuế, Kho bạc Nhà nước hay Tổng cục Hải quan… Trong khi đó, chỉ những tổ chức tín dụng quy mô nhỏ với khối lượng giao dịch trong ngày thấp (chiếm 21,7% tổng số các tổ chức tín dụng tham gia khảo sát) cho rằng, tin điện hiện hành của TTĐTLNH đã đáp ứng đủ nhu cầu giao dịch của đơn vị mình.

Qua đó, có thể thấy rằng, chuẩn tin điện riêng biệt TTĐTLNH hiện nay chưa thể đáp ứng hầu hết nhu cầu về thông tin, dữ liệu cho các giao dịch liên ngân hàng, đặc biệt là các giao dịch đòi hỏi có lượng thông tin, dữ liệu lớn, có chiều sâu. Với vai trò là hệ thống thanh toán trọng yếu của quốc gia trong bối cảnh nghiệp vụ thanh toán trong nền kinh tế ngày càng phát triển và nhu cầu liên thông kết nối với các hệ thống thanh toán trong nước, cũng như hệ thống thanh toán tổng tức thời tại quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới đang dần trở thành xu thế, thì việc nâng cấp chuẩn tin điện cho hệ thống thanh toán quốc gia TTĐTLNH theo hướng áp dụng một chuẩn tin điện chung có phạm vi toàn cầu như chuẩn tin điện tài chính quốc tế ISO 20022 (sau đây gọi tắt là chuẩn ISO 20022) tại thời điểm hiện tại là rất cấp thiết và nên được ưu tiên thực hiện. Điều này, còn có ý nghĩa rất lớn đối với những tổ chức tín dụng đang có kế hoạch đầu tư nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi hay hạ tầng công nghệ thông tin khi có định hướng rõ ràng từ cơ quan quản lý về sử dụng chuẩn tin điện ISO 20022, giúp tiết kiệm chi phí do không phải chỉnh sửa hệ thống khi NHNN đưa vào áp dụng chuẩn tin điện này trong thực tế.

1.2. Thực trạng sử dụng tin điện tại hệ thống thanh toán bù trừ của Trung tâm lưu ký chứng khoán (VSD)

Hệ thống bù trừ, thanh toán chứng khoán của VSD hiện đang duy trì tồn tại hai định dạng tin điện gồm: định dạng tin điện do VSD tự xây dựng (dựa trên nền tảng XML) và gần đây nhất là chuẩn tin điện ISO 15022 (chuẩn ISO 15022), chuẩn tin điện cơ sở cho việc xây dựng, phát triển tiêu chuẩn ISO 20022 sau.

Chuẩn ISO 15022 đã chính thức được sử dụng trên cổng giao tiếp trực tuyến của VSD từ tháng 7/2015 sau một thời gian nghiên cứu, đánh giá của VSD về các lợi ích và khả năng áp dụng tiêu chuẩn này tại Việt Nam. Một số thành viên của VSD đã bắt đầu kiểm thử hệ thống với VSD bằng chuẩn ISO 15022 từ tháng 9/2016. Theo định hướng trong thời gian tới, VSD dự kiến sẽ áp dụng toàn bộ tiêu chuẩn ISO 15022 đối với tất cả các thành viên của hệ thống vào năm 2018 và tiêu chuẩn ISO 15022 sẽ trở thành tiêu chuẩn trao đổi thông tin duy nhất giữa VSD và các tổ chức thành viên kể từ sau giai đoạn này.

Trong lĩnh vực ngân hàng, có rất ít ngân hàng hiện đang kết nối với VSD bằng chuẩn ISO 15022, đa phần các ngân hàng khác hiện chưa có kết nối trực tiếp với VSD mà thông qua các công ty chứng khoán trực thuộc ngân hàng để kết nối. Nhiều tổ chức tín dụng tại Việt Nam (chủ yếu thực hiện chức năng lưu ký chứng khoán) vẫn đang thực hiện trao đổi dữ liệu với VSD bằng phương thức thủ công/bán tự động như email, fax và chứng từ giấy do số lượng các giao dịch còn ít, tính chất giao dịch không quá gấp. Qua khảo sát cho thấy, hiện nay, chỉ có 7 tổ chức tín dụng có kết nối với VSD, chiếm 11,5% trên tổng số tổ chức tín dụng được khảo sát. Điều này, cũng dễ hiểu do giao dịch chứng khoán tại các tổ chức tín dụng là chưa nhiều, mà đa phần các ngân hàng đều chỉ thực hiện chức năng lưu ký. Cũng vì lý do này, hiện nay, các ngân hàng đều cho rằng, tin điện của VSD đã đáp ứng các yêu cầu về thông tin, dữ liệu cũng như nghiệp vụ của đơn vị mình.

Từ kết quả khảo sát có thể thấy rằng, về cơ bản, các tổ chức tín dụng tại Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nhu cầu trong việc trao đổi dữ liệu thông tin điện tử đối với các giao dịch chứng khoán; đồng thời, thông tin, dữ liệu chứng khoán hiện cũng đã được chuẩn hóa theo một tiêu chuẩn hiện đại nhất trong lĩnh vực chứng khoán thời điểm hiện nay là tiêu chuẩn ISO 15022. Chính vì vậy, trước mắt, hệ thống thanh toán bù trừ của VSD cũng chưa cấp thiết phải áp dụng ngay một tiêu chuẩn như tiêu chuẩn ISO 20022 tại thời điểm hiện tại do khả năng tương thích giữa chuẩn tin điện ISO 20022 và chuẩn ISO 15022 là khá cao.

1.3. Thực trạng sử dụng tin điện tại hệ thống chuyển mạch, bù trừ giao dịch thẻ của NAPAS

Nhằm đáp ứng nhu cầu kết nối, truyền tải dữ liệu với các thành viên trong giao dịch bù trừ, chuyển mạch thẻ, hiện nay, Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (NAPAS) hiện đang sử dụng định dạng tin điện theo chuẩn ISO 8583, một tiêu chuẩn chuyên áp dụng trong lĩnh vực thẻ trên toàn cầu.

Chuẩn tin điện ISO 8583 được ra đời từ năm 1987, với mục đích hỗ trợ các mã hóa các thông tin như số thẻ, giá trị giao dịch thẻ và các thông tin liên quan khác và truyền tải tới một hệ thống xử lý giao dịch có thể giải mã các thông tin kể trên thành các cấu phần dữ liệu riêng biệt để xử lý, hỗ trợ cho việc truyền tải nội dung thông tin giao dịch thẻ giữa các tổ chức khác nhau.

Hiện nay, chuẩn tin điện ISO 8583 có 3 phiên bản gồm ISO 8583:1987; ISO 8583: 1993 và ISO 8583:2003. Tuy nhiên, phiên bản hiện đang sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới là phiên bản ISO 8583:1987, phiên bản này hiện vẫn được các công ty thẻ quốc tế như Visa và MasterCard sử dụng vì tính ổn định của tiêu chuẩn này trong suốt thời gian dài hoạt động. Tại Việt Nam, phiên bản năm1987 của chuẩn ISO 8583 cũng là phiên bản được NAPAS và hầu hết các tổ chức phát hành thẻ đang được sử dụng để trao đổi dữ liệu lẫn nhau.

Những kết nối truyền tải dữ liệu của tổ chức tín dụng với NAPAS qua tin điện ISO 8583 hiện chủ yếu phục vụ cho việc chuyển mạch, bù trừ giao dịch thẻ. Số liệu khảo sát cho thấy, 85,7% trong tổng số các tổ chức tín dụng có kết nối, trao đổi dữ liệu với NAPAS (đa phần là các tổ chức tín dụng lớn có lượng thẻ phát hành và mạng lưới ATM/POS rộng khắp) cho rằng, tin điện NAPAS đã đáp ứng yêu cầu về dữ liệu thông tin và nghiệp vụ cho đơn vị mình. Bởi vậy, trong khi các tổ chức thẻ quốc tế toàn cầu như VISA, MasterCard vẫn đang áp dụng theo tiêu chuẩn này thì việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 cho các giao dịch thẻ tại thời điểm hiện tại là chưa cấp thiết. Trong tương lai, căn cứ vào tình hình triển khai thực tế trong nước và trên thế giới, việc áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 cho các giao dịch thẻ cũng cần được nghiên cứu, triển khai áp dụng vào thời điểm phù hợp.

1.4. Thực trạng sử dụng tin điện tại hệ thống xử lý nghiệp vụ của Kho bạc Nhà nước/Tổng cục Hải quan/Tổng cục Thuế

Các hệ thống xử lý nghiệp vụ của Kho bạc Nhà nước/Tổng cục Hải quan/Tổng cục Thuế (các đơn vị thu chi ngân sách) hiện đang sử dụng ba loại tin điện khác nhau, được từng cơ quan trên xây dựng để hỗ trợ cho việc trao đổi thông tin dữ liệu giữa các cơ quan này với các tổ chức tín dụng, bảo đảm tuân thủ theo các quy tắc và quy trình trao đổi thông tin, dữ liệu quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tài chính như:

- Thông tư 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước;

- Thông tư 85/2011/TT-BTC ngày 17/06/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn quy trình tổ chức phối hợp thu ngân sách nhà nước giữa Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và các ngân hàng thương mại;

- Thông tư 184/2015/TT-BTC ngày 17/11/2015 của Bộ Tài chính quy định thủ tục về kê khai, bảo lãnh tiền thuế, thu nộp tiền thuế, tiền nộp chậm, tiền phạt, tiền phí, lệ phí, các khoản thu khác, đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;

- Thông tư 126/2014/TT-BTC ngày 28/8/2014 của Bộ Tài chính quy định về một số thủ tục về kê khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Tại thời điểm hiện nay, các tin điện Kho bạc Nhà nước/Tổng cục Hải quan/Tổng cục Thuế thường gắn với các giao dịch thu ngân sách nhà nước do các tổ chức tín dụng thực hiện để truyền tải qua hệ thống TTĐTLNH tới đơn vị nhận là các đơn vị thu chi ngân sách. Những nội dung trên các tin điện của Kho bạc Nhà nước/Tổng cục Hải quan/Tổng cục Thuế thường rất chi tiết và tuân thủ theo đúng các quy định về trao đổi thông tin của Bộ Tài chính (đặc biệt là các tin điện của Kho bạc Nhà nước). Tuy nhiên, khi được chuyển qua hệ thống TTĐTLNH, những nội dung này không được thể hiện đầy đủ trên trường nội dung của tin điện TTĐTLNH (do giới hạn về trường tin điện nội dung tối đa là 210 ký tự). Điều này, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình thanh toán tự động thông suốt của các ngân hàng; đồng thời, có thể gây ra các rủi ro, sai sót trong việc truyền tải dữ liệu thông tin giữa KBNN và khách hàng. Bởi vậy, nhiều ngân hàng cho rằng, sự không đồng nhất giữa nội dung tin điện của Kho bạc Nhà nước/Tổng cục Hải quan/Tổng cục Thuế và hệ thống TTĐTLNH đã ảnh hưởng tới công tác thu chi ngân sách tại các ngân hàng thương mại, cũng như không đáp ứng đầy đủ nhu cầu về trao đổi thông tin thu chi ngân sách cho khách hàng và các đơn vị thu chi ngân sách. Tương tự như tin điện của hệ thống TTĐTLNH, các tin điện trao đổi dữ liệu của KBNN/Tổng cục Hải quan/Tổng cục Thuế hiện cũng không tuân theo một tiêu chuẩn quốc tế mà được tự đơn vị chủ trì xây dựng. Điều này, cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc truyền tải dữ liệu giữa các bên, gây khó khăn trong việc thanh toán các giao dịch ngân sách nhà nước. Hiện nay, để giải quyết khó khăn trong việc truyền thông tin dữ liệu trong công tác thu ngân sách, NHNN đã đề xuất với Bộ Tài chính xây dựng giải pháp triển khai chuyển tiền thu ngân sách nhà nước theo mã hóa đơn, ID. Theo đó, các thông tin cụ thể về ngân sách nhà nước sẽ được trao đổi đính kèm lệnh thanh toán liên ngân hàng giữa Bộ Tài chính và NHNN. Việc triển khai giải pháp này, sẽ phụ thuộc vào nhu cầu của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ là giải pháp tình thế và phục vụ cho duy nhất mục đích chuyển tiền thu ngân sách nhà nước, không phục vụ cho các mục đích truyền tải dữ liệu khác của Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan.

Do đó, về lâu dài, Bộ Tài chính cũng nên xem xét áp dụng chuẩn ISO 20022 cho tin điện của các đơn vị này nhằm tận dụng ưu điểm của chuẩn ISO 20022 là khả năng truyền tải lượng thông tin dồi dào, có chiều sâu, giúp quá trình thanh toán các khoản dịch vụ công được thông suốt và tránh được các rủi ro về sai lệch thông tin trong tương lai.

 

2. Khả năng áp dụng chuẩn ISO 20022 từ góc nhìn của các ngân hàng tại Việt Nam

Việc duy trì nhiều chuẩn, định dạng tin điện như hiện nay tại Việt Nam đang gây tốn kém chi phí về nhân lực, kết nối, vận hành... cho các tổ chức, đặc biệt trong bối cảnh quy mô giao dịch và độ phức tạp của nghiệp vụ ngày càng tăng. Bên cạnh đó, thực trạng “đa chuẩn” này còn dẫn tới sự không đồng nhất về thông tin, dữ liệu, tiềm ẩn rủi ro sai sót, nhầm lẫn trong quá trình tác nghiệp và gây khó khăn trong đối chiếu, xử lý tra soát. Chính điều này đã thúc đẩy nhu cầu về việc áp dụng một định dạng tin điện chung mang tính tiêu chuẩn quốc tế như chuẩn tin điện ISO 20022 trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường Việt Nam đang hướng tới liên thông, liên kết với các hệ thống thanh toán khác trong khu vực.

Số liệu khảo sát gần đây nhất của NHNN cho thấy, hiện nay, có 82% số lượng các tổ chức tín dụng cho rằng, cần thiết phải có một chuẩn tin điện chung với khả năng liên thông với tất cả các định dạng tin điện hiện hành tại Việt Nam hiện nay (62,3% các tổ chức tín dụng cho rằng điều này là cần thiết và 19,7% các tổ chức tín dụng cho rằng điều này là rất cần thiết). Hiện chỉ có 18% các tổ chức tín dụng (bao gồm 11 chi nhánh ngân hàng nước ngoài) là các tổ chức chưa có nhiều giao dịch, chỉ có 1-2 định dạng tin điện trong hệ thống đánh giá việc áp dụng một chuẩn tin điện chung là chưa cần thiết cho thị trường Việt Nam (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 1 – Mức độ cần thiết áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 tại thị trường Việt Nam

 

 

Theo đánh giá từ các ngân hàng, hầu hết các tổ chức tín dụng tại Việt Nam (98,4%) đều có khả năng chỉnh sửa/nâng cấp hệ thống để áp dụng chuẩn tin điện mang tính quốc tế như chuẩn ISO 20022. Tuy nhiên, mỗi đơn vị đều cần một khoảng thời gian nhất định để có thể áp dụng hoàn toàn tiêu chuẩn này cho đơn vị mình (trung bình, các tổ chức tín dụng mất từ
2 - 3 năm để có thể hoàn thiện hệ thống tương thích hoàn toàn với tiêu chuẩn ISO 20022). Chính vì vậy, để đảm bảo khả năng các đơn vị tại Việt Nam có thể triển khai áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 đồng nhất, cần thiết phải có một giai đoạn chuyển đổi cho phép hệ thống của các tổ chức tín dụng có thời gian nâng cấp/chỉnh sửa nhằm đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu về chuẩn tin điện ISO 20022. (Biểu đồ 2)

Biểu đồ 2 – Lượng thời gian cần thiết để các đơn vị có thể chuyển đổi hệ thống nhằm đáp ứng hoàn toàn chuẩn tin điện ISO 20022 (sau khi hệ thống TTĐTLNH và ACH hoàn thiện)

 

Thông qua đợt khảo sát, các ngân hàng cũng đã bày tỏ mong muốn tới các cơ quan quản lý về cách thức triển khai tiêu chuẩn này tại Việt Nam. Theo đó, hầu hết các ngân hàng (82%) đều muốn việc áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 triển khai theo hướng “cuốn chiếu” theo từng mảng kinh doanh với thứ tự ưu tiên khác nhau (thanh toán, thẻ, chứng khoán...). Trong đó, thanh toán là lĩnh vực được hầu hết các tổ chức tín dụng tại Việt Nam lựa chọn nên ưu tiên áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 trước mắt do sự cần thiết và tính quan trọng của lĩnh vực này trong hoạt động ngân hàng, cũng như trong tổng thể nền kinh tế. Việc áp dụng chuẩn ISO 20022 trong lĩnh vực thanh toán sẽ giúp giảm bớt các rủi ro trong thanh toán, hướng đến thanh toán xuyên suốt, đẩy nhanh tốc độ xử lý, giảm thiểu sai sót, góp phần hỗ trợ cho sự phát triển dịch vụ ngân hàng nói riêng và tổng thể nền kinh tế Việt Nam nói chung. (Biểu đồ 3)

Biểu đồ 3 – Mức độ ưu tiên của các mảng kinh doanh khi áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 theo nhận định của các tổ chức tín dụng

 

Tuy nhiên, một khó khăn đáng được quan tâm trong việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 tại Việt Nam hiện nay là mức độ nhận thức đối với chuẩn ISO 20022 tại Việt Nam chưa cao. Số liệu khảo sát cho thấy, đa phần các tổ chức tín dụng hiện nay đều chưa có nhiều thông tin, hiểu biết sâu sắc đối với tiêu chuẩn này, trong đó có tới 78,7% đơn vị mới biết sơ qua và 18,0% đơn vị chưa biết gì. Phần lớn các tổ chức tín dụng này đều mới chỉ biết đến chuẩn tin điện ISO 20022 thông qua các buổi hội thảo trong nước và một số tài liệu hoặc bài nghiên cứu trên mạng Internet. Điều này đã đặt ra nhu cầu cần thiết trong việc phổ biến các thông tin, kiến thức liên quan về tiêu chuẩn này trong thời gian tới không chỉ hướng tới cấp độ lãnh đạo các đơn vị, mà còn tới cấp độ nhân viên hỗ trợ triển khai trong hệ thống các ngân hàng nhằm mang lại cho các tổ chức tín dụng một góc nhìn toàn cảnh, có chiều sâu, rộng hơn đối với chuẩn ISO 20022 cũng như lợi ích của tiêu chuẩn này có thể hỗ trợ cho các tổ chức, tạo ra sự đồng nhất trong việc triển khai tiêu chuẩn này trên phạm vi toàn thị trường.

 

3. Đề xuất lộ trình áp dụng chuẩn ISO 20022 tại Việt Nam

Từ những phân tích về thực trạng sử dụng tin điện tài chính tại các tổ chức tín dụng hiện nay cũng như đánh giá, nhìn nhận về khả năng áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 trên thị trường Việt Nam từ phía thành viên thị trường cho thấy, việc áp dụng chuẩn ISO 20022 với thị trường Việt Nam nên bắt đầu từ các cơ sở hạ tầng thanh toán quan trọng như hệ thống TTĐTLNH và hệ thống thanh toán bù trừ tự động (ACH), tạo nền tảng cho các tổ chức thành viên của hai hệ thống này từng bước chuyển đổi sang chuẩn ISO 20022 trong tương lai theo cách thức có định hướng, có trật tự.

- Đối với hệ thống TTĐTLNH: Do hệ thống TTĐTLNH đã được xây dựng từ lâu và đang trong quá trình nâng cấp/chỉnh sửa, đáp ứng với nhu cầu của thị trường nên thời điểm phù hợp nhất để áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 vào hệ thống này nên gắn với thời điểm hệ thống TTĐTLNH được nâng cấp “lớn” trong giai đoạn 3 (dự kiến năm 2020).

- Đối với hệ thống thanh toán bù trừ tự động (ACH): Do hệ thống đang trong quá trình thiết kế, phát triển bởi NAPAS nên thời gian phù hợp để áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 đối với hệ thống này nên gắn với thời điểm xây dựng mới hệ thống, đảm bảo hệ thống khi vận hành có khả năng xử lý được các tin điện theo chuẩn ISO 20022 (dự kiến năm 2018).

Về lâu dài, việc áp dụng chuẩn tin điện vào hai cơ sở hạ tầng thanh toán này sẽ không chỉ là cơ sở cho các thành viên của hai hệ thống trên (chủ yếu là ngân hàng thương mại) áp dụng theo tiêu chuẩn ISO 20022, mà đây cũng sẽ là cơ sở giúp các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam dần tiếp cận với chuẩn tin điện ISO 20022 và có thể tự xây dựng riêng hệ thống để hỗ trợ cho việc trao đổi dữ liệu giữa doanh nghiệp và tổ chức tín dụng, hướng tới giao dịch thanh toán tự động thông suốt (STP), thuận lợi từ doanh nghiệp tới doanh nghiệp (B2B) bởi tiêu chuẩn ISO 20022 cũng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng doanh nghiệp khi đưa vào áp dụng.

Về tổng thể, toàn bộ lộ trình triển khai chuẩn ISO 20022 vào hệ thống TTĐTLNH tại Việt Nam sẽ được thực hiện như sau: (Hình 1)

Để lộ trình trên đạt được hiệu quả cao nhất khi triển khai trong thực tiễn, nhóm nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị, giải pháp sau:

(1) Đối với Chính phủ:

Chỉ đạo Bộ Tài chính chủ động nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 đối với hệ thống Kho bạc Nhà nước, Thuế, Hải quan và phối hợp chặt chẽ với NHNN trong việc áp dụng chuẩn tin điện tài chính ISO 20022, hướng tới liên thông các hệ thống trong ngành tài chính - ngân hàng trước mắt là trong thị trường nội địa và hướng tới là liên thông với các hệ thống thanh toán quốc tế, đặc biệt là trong khu vực ASEAN theo định hướng mục tiêu Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2025.

(2) Đối với NHNN:

- Thành lập Ban Chỉ đạo/Nhóm thường trực chịu trách nhiệm chỉ đạo, triển khai áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 tại thị trường Việt Nam.

- Tổ chức hội thảo, tọa đàm với sự tham gia của Hiệp hội Ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một số tổ chức quốc tế như SWIFT, World Bank, ADB cho các thành viên trong thị trường nhằm: (i) Nâng cao nhận thức, hiểu biết cho thị trường về tiêu chuẩn ISO 20022; (ii) Công bố về lộ trình triển khai áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 cho hệ thống TTĐTLNH tại Việt Nam; (iii) Xây dựng, hoàn thiện Bản đặc tả kỹ thuật tin điện của hệ thống TTĐTLNH theo tiêu chuẩn ISO 20022; (iv) Tham vấn các chuyên gia nước ngoài đối với việc xây dựng Bản đặc tả kỹ thuật và Bộ công cụ chuyển đổi.

- Xây dựng và tổ chức tập huấn cho các thành viên trong hệ thống TTĐTLNH về Bộ công cụ chuyển đổi chuẩn tin điện phục vụ cho nhu cầu trao đổi thông tin, dữ liệu giữa tin điện hệ thống TTĐTLNH theo tiêu chuẩn ISO 20022 với hệ thống nội bộ của các đơn vị thành viên trong hệ thống.

- Thiết lập đầu mối chuyên giải đáp các vấn đề thắc mắc về kỹ thuật trước và trong suốt quá trình chuyển đổi; đồng thời, ghi nhận những khó khăn, vướng mắc của đơn vị trong quá trình triển khai.

- Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, hỗ trợ các đơn vị thành viên hệ thống TTĐTLNH trong quá trình chuyển đổi để đảm bảo việc chuyển đổi thuận lợi, đúng hạn.

(3) Đối với Bộ Tài chính:

- Chỉ đạo Kho bạc Nhà nước, Trung tâm lưu ký chứng khoán chủ động nghiên cứu về tiêu chuẩn ISO 20022 và khả năng áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 đối với các hệ thống của hai đơn vị nêu trên; đồng thời, tích cực phối hợp với NHNN nghiên cứu, xây dựng lộ trình cụ thể trong việc áp dụng tiêu chuẩn tài chính quốc tế ISO 20022 cho các hệ thống thanh toán chứng khoán và hệ thống Kho bạc Nhà nước sau khi hoàn thiện việc áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022 vào hệ thống TTĐTLNH tại NHNN.

- Phối hợp với NHNN trong việc xây dựng, hoàn thiện Đặc tả kỹ thuật tin điện TTĐTLNH theo tiêu chuẩn ISO 20022, đảm bảo việc kết nối, trao đổi dữ liệu được đồng bộ thông suốt giữa tin điện hệ thống TTĐTLNH với tin điện của Trung tâm lưu ký chứng khoán và Kho bạc Nhà nước; đồng thời, cũng phối hợp với NHNN trong việc xây dựng Bộ công cụ chuyển đổi định dạng tin điện phục vụ cho nhu cầu trao đổi thông tin, dữ liệu giữa tin điện hệ thống TTĐTLNH theo tiêu chuẩn ISO 20022 với hệ thống nội bộ của Trung tâm lưu ký chứng khoán và các cơ quan thu ngân sách gồm Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Kho bạc Nhà nước.

(4) Đối với Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (NAPAS):

- Xây dựng Bộ chuyển đổi cho tin điện của hệ thống ACH, giúp các đơn vị thành viên trong hệ thống dễ dàng chuyển đổi định dạng tin điện trong giai đoạn hệ thống TTĐTLNH chưa áp dụng chuẩn tin điện ISO 20022.

- Thiết lập đầu mối giải đáp các vấn đề thắc mắc về kỹ thuật cho các đơn vị thành viên trước và sau khi triển khai chuẩn tin điện ISO 20022 với hệ thống ACH.

- Tích cực tham gia các buổi hội thảo, tập huấn do NHNN tổ chức về chuẩn tin điện ISO 20022; chủ động trao đổi thảo luận với các thành viên để việc triển khai áp dụng ISO 20022 tại hai cơ sở hạ tầng thanh toán (hệ thống TTĐTLNH và hệ thống ACH) được hiệu quả và
đồng bộ.

(5) Đối với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam:

- Phối hợp với NHNN và NAPAS triển khai tập huấn cho các thành viên về việc triển khai tiêu chuẩn ISO 20022 đối với hệ thống TTĐTLNH và ACH.

- Phối hợp với NHNN và NAPAS tìm hiểu các khó khăn, vướng mắc tại từng thành viên trong quá trình triển khai để kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục phù hợp, đảm bảo việc triển khai toàn diện, đúng tiến độ.

- Tuyên truyền, phổ biến, hỗ trợ các thành viên về chuẩn ISO 20022 và việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn này tại thị trường Việt Nam.

(6) Đối với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI):

Khuyến khích các thành viên là doanh nghiệp lớn, có hoạt động xuất nhập khẩu phạm vi hoạt động tại nhiều quốc gia nghiên cứu về tiêu chuẩn ISO 20022 và lợi ích, khả năng hỗ trợ đối với doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc mở rộng triển khai áp dụng tiêu chuẩn này tới các doanh nghiệp trong tương lai.

(7) Đối với các ngân hàng thương mại:

- Chủ động nghiên cứu, tập huấn, nâng cao kiến thức về chuẩn tin điện tài chính quốc tế ISO 20022 và các yêu cầu kỹ thuật đặt ra đối với chuẩn tin điện nêu trên để kịp thời chỉnh sửa hệ thống sẵn sàng cho việc chuyển đổi trong thời gian sắp tới.

- Thường xuyên cập nhật về các thông tin liên quan đến kế hoạch triển khai chuẩn tin điện ISO 20022 tại thị trường Việt Nam để xây dựng riêng lộ trình cụ thể sửa đổi/nâng cấp hệ thống nội bộ của tổ chức, đáp ứng nhu cầu chuyển đổi trong thời gian tới (bao gồm cả việc lập kế hoạch tài chính, sử dụng nhân lực và đầu tư cơ sở hạ tầng của tổ chức).

- Chủ động phân tích, đánh giá tình hình để sớm phản ánh kịp thời với NHNN những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022, để cùng tìm phương án tháo gỡ kịp thời.

- Khuyến khích các ngân hàng tự trao đổi thành lập nhóm các ngân hàng nòng cốt thực hiện việc chuyển đổi áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 tại Việt Nam. Nhóm này ngoài việc sẽ tiên phong trong việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022, cũng sẽ là đầu mối đề xuất với cơ quan quản lý các phương thức triển khai áp dụng trên thị trường.

- Tích cực hưởng ứng, tham gia đầy đủ các hoạt động đào tạo, tập huấn của NHNN và NAPAS tổ chức trong việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 20022 đối với hệ thống TTĐTLNH và hệ thống ACH.

1Số lượng phiếu khảo sát phát ra trong đợt khảo sát là 83 phiếu; số phiếu khảo sát thu về có thông tin phản hồi đầy đủ là 64 (trong đó, bao gồm 61 phiếu khảo sát từ các tổ chức tín dụng, 3 phiếu khảo sát từ Kho bạc Nhà nước, Trung tâm lưu ký chứng khoán (VSD) và Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (NAPAS)).

 

 

1 Vụ Thanh toán, NHNN


  • aA
  • Categories:
  • Tạp chí Ngân hàng
OTHER NEWS
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
04/11/2026
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
04/06/2026
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
04/10/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
03/07/2027
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
03/04/2027
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
03/04/2027
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
03/04/2027
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
03/06/2026
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
03/06/2026
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
03/06/2026
Showing 1 to 10 of 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready