QUỐC HỘI KHÓA XIV ỦY BAN KINH TẾ
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2017 |
BÁO CÁO TÓM TẮT
thẩm tra đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội năm 2017; dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018
Thực hiện phân công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thay mặt Thường trực Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Kinh tế xin báo cáo Quốc hội một số nội dung chính như sau:
PHẦN I
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI
VỀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017
1. Về thực hiện mục tiêu tổng quát theo Nghị quyết của Quốc hội
Đa số ý kiến nhất trí với đánh giá của Chính phủ về việc bảo đảm mục tiêu tổng quát theo Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017. Về cơ bản, các giải pháp điều hành chính sách kinh tế vĩ mô đã được kiên trì thực thi đúng hướng và phù hợp diễn biến thị trường, nền kinh tế duy trì được ổn định, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, dần thiết lập nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, thể hiện sự quyết tâm, cố gắng rất lớn trong chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước, góp phần củng cố niềm tin, tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội.
Tuy nhiên, việc thực hiện nội dung cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế một cách thực chất còn chậm, chưa đạt yêu cầu đề ra, giải quyết yếu kém của một số doanh nghiệp nhà nước còn chậm. Chất lượng tăng trưởng chưa được cải thiện, chỉ số thu nhập quốc dân (GNI) ngày càng giảm; tăng xuất khẩu vẫn phụ thuộc phần lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thiếu tính bền vững; chất lượng cuộc sống người dân có cải thiện nhưng chưa rõ ràng.
2. Về kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu
(1) Về tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước thực hiện đạt 6,7%: Nhiều ý kiến cho rằng, đây vẫn là thách thức lớn do những nhóm yếu tố tạo đà tăng trưởng trong 9 tháng đầu năm 2017 gồm tiêu dùng của người dân, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo hiện không còn nhiều dư địa, tăng trưởng của ngành nông nghiệp tiềm ẩn rủi ro, các yếu tố khác như khai khoáng, giải ngân vốn đầu tư công dự báo giảm so với năm 2016. Do vậy, Chính phủ cần rà soát, đánh giá các khó khăn và phân tích rõ hơn các yếu tố, nguồn lực để bảo đảm đạt được mức tăng trưởng 6,7%.
(2) Về tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội lên tới 33,42% GDP: Đây là mức cao, một mặt thể hiện tính tích cực nhưng mặt khác thể hiện công tác dự báo khi xây dựng kế hoạch cũng chưa chính xác làm hạn chế trong việc cân đối nguồn lực. Trong khi số chuyển nguồn năm 2016 sang 2017 khá lớn; nguồn vốn đầu tư công giải ngân chậm nhưng tăng trưởng GDP vẫn đạt kế hoạch thì cần phải giám sát chặt chẽ việc giải ngân nguồn vốn đầu tư công trong những tháng còn lại nhằm bảo đảm việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhà nước cũng như chất lượng dự án, công trình, tránh việc dồn vốn, co kéo giải ngân hết theo kế hoạch năm nhưng không đạt chất lượng, không bảo đảm hiệu quả.
(3) Về một số chỉ tiêu liên quan đến lĩnh vực lao động, giải quyết việc làm, y tế và môi trường: nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại về tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm đối với lao động trẻ, có chuyên môn kỹ thuật. Chưa giải quyết dứt điểm tình trạng chủ sở hữu doanh nghiệp bỏ trốn, chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội, tiền lương của người lao động; một số địa phương lo vỡ quỹ bảo hiểm y tế do chi trả vượt kế hoạch... Cần đánh giá đúng thực chất chỉ tiêu tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường và tỷ lệ che phủ rừng trong bối cảnh xảy ra các vụ phá rừng nghiêm trọng ở một số địa phương thời gian vừa qua.
3. Đánh giá về thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết của Quốc hội
Trong 9 tháng đầu năm 2017, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp về thị trường, tín dụng... góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tích cực triển khai các giải pháp tạo chuyển biến về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, loại bỏ các rào cản bất hợp lý, tăng tính đối thoại giữa Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương với cộng đồng doanh nghiệp đã tiếp tục tạo ra những tín hiệu tích cực; thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ tăng cường quản lý tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm các vi phạm; xây dựng, triển khai hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm các chương trình mục tiêu về phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn; nâng cao hiệu quả, hiệu lực nền hành chính công và tăng cường kỷ luật, kỷ cương, công khai, minh bạch đối với bộ máy thực thi công vụ. Một số vụ án tồn đọng đã được giải quyết dứt điểm, các vụ trọng án được khám phá nhanh, đạt kết quả cao được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Việc xử lý các sai phạm đã được chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả, trong đó đã xử lý nghiêm một số cán bộ cao cấp và công khai kết luận.
Công tác quốc phòng, an ninh luôn được chú trọng và quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có sự phối hợp chặt chẽ xử lý các tình huống giữa quốc phòng, an ninh và ngoại giao.
Tuy nhiên, thực trạng kinh tế- xã hội cũng bộc lộ một số hạn chế, yếu kém cần tiếp tục quan tâm giải quyết, cụ thể là:
Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng ở mức dưới 3% nhưng thực chất nợ xấu toàn nền kinh tế vẫn còn ở mức cao. Tiến độ tổ chức lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập; sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn trong những ngành Nhà nước không cần nắm giữ chưa đạt yêu cầu đề ra. Một số vụ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đặt ra vấn đề về tiêu chí xác định lựa chọn cổ đông chiến lược và định giá giá trị doanh nghiệp, giá trị quyền sử dụng đất. Một số cơ chế, chính sách còn bất cập, điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp. Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng lên nhưng các doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và chờ giải thể có xu hướng tăng cao. Việc lập, phê duyệt, phân giao vốn chưa được quán triệt đầy đủ và tuân thủ nghiêm túc dẫn đến tiến độ thực hiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn còn rất chậm, ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả của các dự án, công trình.
Việc các nhà đầu tư nước ngoài dịch chuyển dòng vốn và mở rộng quy mô sản xuất tại Việt Nam là tín hiệu tích cực nhưng nếu không được thẩm định, kiểm soát kỹ cũng kéo theo sự chuyển dịch công nghệ lạc hậu, kém thân thiện môi trường vào nước ta, đồng thời đặt ra những khó khăn, thách thức đối với các thành phần kinh tế khác về năng lực cạnh tranh, kể cả tác động chèn lấn sự phát triển mà chưa tạo ra tác động lan toả, thúc đẩy liên kết để cùng phát triển.
Các dự án BOT giao thông bên cạnh các đóng góp quan trọng cho nền kinh tế nhưng dư luận xã hội cũng bày tỏ sự không hài lòng về một số khâu trong quá trình triển khai dự án như chỉ định thầu, các nhà đầu tư chưa bảo đảm năng lực, chất lượng một số công trình kém, mức giá dịch vụ, thời gian thu phí và việc đặt các trạm thu phí BOT chưa hợp lý tại các tuyến quốc lộ.
Tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động khai thác khoáng sản tại các địa phương diễn ra hết sức phức tạp nhưng chưa kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý. Việc khai thác trái phép các loại tài nguyên như vàng, cát, sỏi... làm thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách, ảnh hưởng xấu đến môi trường, an ninh trật tự xã hội. Tình trạng cháy rừng, phá rừng nghiêm trọng, tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển, mất trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp gây bức xúc, lo lắng trong nhân dân.
Tình trạng di cư, nhất là di cư tự do tại một số khu vực như ở Tây Nguyên vẫn có chiều hướng phức tạp làm thay đổi cơ cấu, phân bố dân cư, lao động và gây nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội về nhà ở, nước sạch, giáo dục, y tế, việc làm và trật tự an toàn xã hội do thiếu nguồn lực để giải quyết.
Chất lượng khám chữa bệnh tuyến y tế cơ sở chưa cao, còn tình trạng buông lỏng quản lý, vi phạm các quy định về đấu thầu thuốc, y tế dự phòng (dịch sốt xuất huyết), bảo hiểm y tế bị lạm dụng, trục lợi ở nhiều cơ sở khám chữa bệnh. Chất lượng và an toàn thực phẩm, hàng hóa vẫn diễn biến phức tạp gây bức xúc trong dư luận xã hội. Đời sống người dân vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai còn khó khăn.
Tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm còn diễn biến phức tạp và nghiêm trọng hơn với sự xuất hiện của một số phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm tham nhũng, buôn lậu, ma túy, tội phạm sử dụng công nghệ cao gây bức xúc, lo lắng trong xã hội. Một số vụ việc, vụ án dư luận xã hội quan tâm chậm được xử lý. An toàn thông tin, an ninh mạng còn nhiều bất cập, còn tình trạng lợi dụng mạng xã hội đưa tin xấu, bôi nhọ, gây mất niềm tin trong nhân dân.
Quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đầu tư xây dựng, tài nguyên ở nhiều địa phương còn sơ hở, thiếu sót. Sai phạm, vi phạm kỷ luật của cán bộ, đảng viên trong tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ tại nhiều cơ quan, ban ngành, địa phương thiếu khách quan, minh bạch; tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn xảy ra ở một số nơi.
An ninh trật tự tại một số địa bàn còn diễn biến phức tạp, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia còn nhiều khó khăn. Tình hình khiếu nại, tố cáo tuy có giảm về số lượt, số đơn, số vụ việc nhưng tính chất và mức độ phức tạp lại tăng lên. Việc chấp hành Luật Thanh tra chưa nghiêm, nhất là đối với quy định về thời hạn công bố kết luận thanh tra, gây bức xúc trong dư luận và ảnh hướng tới uy tín của cơ quan quản lý nhà nước, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tình hình tai nạn giao thông vẫn diễn phức tạp, tình hình cháy nổ gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Ùn tắc giao thông, ngập úng tại một số thành phố lớn chưa có nhiều chuyển biến do thiếu liên kết giữa quy hoạch xây dựng và giao thông, bên cạnh đó là tình trạng chậm tiến độ của một số công trình giao thông đô thị trọng điểm.
Đối với những tháng còn lại của năm 2017, đa số ý kiến cho rằng, một loạt các giải pháp, chính sách đã đề ra phải được xem xét, điều chỉnh hợp lý hơn. Đây là cơ hội để đẩy mạnh thực hiện các chính sách với tầm nhìn trung và dài hạn. Bên cạnh đó, các giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn cần được quan tâm, đánh giá rõ hơn về chất lượng, tránh những rủi ro phát sinh tiêu cực như “bong bóng” trên thị trường chứng khoán, bất động sản và khả năng kiểm soát lạm phát trong các năm tiếp theo. Ngoài các vấn đề trên, những vấn đề xã hội rất lớn cần đánh giá cụ thể tình hình và có giải pháp từ sớm như vấn đề tiền ảo, biến tướng trong kinh doanh đa cấp; xử lý các hạn chế, yếu kém trong triển khai Nghị định số 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ về đóng tàu cá vỏ thép...
PHẦN II
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2018
1. Mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu chủ yếu
Về mục tiêu tổng quát: đề nghị phân tích những nội dung mới so với mục tiêu tổng quát của các năm trước; cần nhấn mạnh việc tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tập trung cho các mục tiêu trung hạn; tiếp tục cải thiện, bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bình đẳng.
Về hệ thống chỉ tiêu:
(1) Tính toán, rà soát lại khả năng hoàn thành các chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, từ đó xây dựng các chỉ tiêu phù hợp cho Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 trong tổng thể Kế hoạch 5 năm 2016-2020 và bảo đảm thực hiện được các cân đối lớn của nền kinh tế.
(2) Cần đánh giá rõ các yếu tố tăng trưởng nhất là chỉ tiêu tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 33-34% GDP (năm 2017, GDP ước đạt 6,7% trong khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 33,42% GDP) trong xu hướng, tình hình thế giới và trong nước có yếu tố thuận lợi hơn, bảo đảm tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu gắn với chất lượng, hiệu quả của chỉ tiêu GDP.
(3) Phân tích tính khả thi của chỉ tiêu tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu (tăng 7-8%) và tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu (dưới 3%) đều thấp hơn so với ước thực hiện năm 2017 trong khi dự báo thuận lợi cho xuất khẩu Việt Nam khi tận dụng tốt cơ hội của các hiệp định thương mại đã ký kết.
(4) Đề nghị rà soát, bảo đảm tính xác thực của chỉ tiêu tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, tỷ lệ che phủ rừng để phản ánh đúng thực trạng.
Đi kèm với 12 chỉ tiêu dự kiến trình Quốc hội xem xét, đề nghị báo cáo rõ thêm về các chỉ tiêu điều hành vĩ mô khác như tăng cung tiền M2, tăng trưởng tín dụng, định hướng điều hành lãi suất, tỷ giá, chính sách thuế... nhằm đưa ra thông điệp chính sách với tính ổn định tương đối làm cơ sở xây dựng kế hoạch đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.
2. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội năm 2018
Ủy ban Kinh tế đề nghị nhấn mạnh hơn một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:
(1) Quyết tâm siết chặt kỷ luật tài chính – ngân sách nhà nước, thực hiện ràng buộc ngân sách cứng, thẩm định chặt chẽ các dự án đầu tư; đẩy mạnh khoán chi hành chính, sử dụng xe công, đấu thầu, đặt hàng trong cung cấp dịch vụ công. Gỡ bỏ các rào cản, điều kiện đầu tư kinh doanh bất hợp lý, gây cản trở hoạt động của doanh nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm thời gian thực hiện thủ tục, cắt giảm chi phí giao dịch nhất là chi phí giao dịch không chính thức của doanh nghiệp và người dân.
(2) Gắn trách nhiệm giám sát, giải trình và nâng cao tính minh bạch nhằm kiểm soát hoạt động của hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp nhà nước. Triển khai kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, đánh giá độc lập đối với tất cả DNNN và vốn, tài sản của nhà nước tại doanh nghiệp để có phương án cơ cấu lại cụ thể cho từng doanh nghiệp. Theo dõi diễn biến của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán để kiểm soát, điều chỉnh kịp thời, tránh xảy ra tiêu cực đối với nền kinh tế. Thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp đúng tiến độ.
(3) Đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại nợ công và tăng cường kiểm soát, quản lý chặt chẽ nợ xây dựng cơ bản. Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách, tập trung chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, quản lý chặt chẽ bảo lãnh Chính phủ, vay về cho vay lại, đảm bảo sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả. Hoàn chỉnh các hồ sơ, công tác chuẩn bị các dự án đầu tư quy mô lớn để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức triển khai theo tiến độ, bảo đảm yêu cầu chất lượng, hiệu quả, bảo đảm kết nối giữa các vùng, miền, nhất là tại các khu vực trọng điểm.
(4) Có giải pháp phù hợp với các đối tác đang thâm hụt thương mại lớn với nước ta. Rà soát, đánh giá hiệu quả các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết với các nước, chủ động xây dựng các biện pháp phòng vệ thương mại, các hàng rào kỹ thuật phù hợp để tăng cường quản lý nhập khẩu, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong nước, ngăn cản nhập khẩu công nghệ lạc hậu. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra thị trường, xử lý kịp thời các hành vi gian lận thương mại, phát triển thị trường bán lẻ, xây dựng mạng lưới phân phối theo chuỗi giá trị cho các sản phẩm trong nước.
(5) Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ kịp thời cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ sớm ổn định đời sống và khôi phục sản xuất. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm soát việc bảo đảm tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.
(6) Tiếp tục triển khai về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh công tác kiểm định chất lượng giáo dục, bao gồm cả cơ sở đào tạo và chương trình đào tạo trên cơ sở đó thực hiện sắp xếp lại hệ thống giáo dục đại học. Tiếp tục thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển thị trường lao động một cách toàn diện.
(7) Chú trọng kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo đảm tuân thủ các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất và lưu hành sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn chất lượng đã công bố hoặc đã được chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy. Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của y tế cơ sở, y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh. Điều chỉnh giá dịch vụ y tế gắn với lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân, đồng thời với việc chống lạm dụng, trục lợi quỹ bảo hiểm y tế. Mở rộng độ bao phủ, nâng cao tỷ lệ bảo hiểm y tế toàn dân. Đẩy nhanh tiến độ đánh giá, thẩm định các huyện nghèo thuộc đối tượng của Chương trình 30a để đưa các huyện đã thoát nghèo ra khỏi danh sách đầu tư, tập trung nguồn lực cho các địa bàn trọng điểm lõi nghèo.
(8) Báo cáo trước Quốc hội về tổng kiểm tra trên phạm vi cả nước về các quyết định xử lý hành chính và việc áp dụng biện pháp tạm giam trong 3 năm 2014-2016. Rà soát, thống kê các vụ án, bị can đang bị tạm đình chỉ điều tra, phân tích về các trường hợp tạm đình chỉ, trong đó đặc biệt chú ý đến các vụ án sắp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, kịp thời làm rõ các vụ án có căn cứ phục hồi điều tra để điều tra kết luận vụ án. Chú ý đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ án tham nhũng, kinh tế, chức vụ nghiêm trọng; xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân gây thất thoát, lãng phí.
(9) Có chủ trương, đối sách phù hợp, nhất là các vấn đề biên giới, biển đảo, an ninh phi truyền thống, an ninh nông thôn, biên giới, các vùng nhạy cảm. Tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc gắn chặt với thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tăng cường quản lý nhà nước về báo chí, xử lý nghiêm các trường hợp đưa tin sai sự thật, thao túng, vi phạm pháp luật.
(10) Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại một cách có hiệu quả thông qua nắm bắt tình hình, dự báo diễn biến của khu vực và thế giới. Thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và Chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế.
Trên đây là Báo cáo tóm tắt thẩm tra đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017; dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, Ủy ban Kinh tế xin báo cáo Quốc hội xem xét, cho ý kiến./.
ỦY BAN KINH TẾ