Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Tạp chí Ngân hàng

Bàn về chủ thể giao kết hợp đồng tài chính theo quy định mới (số 22)

11/12/2017 20:40:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Bàn về chủ thể giao kết hợp đồng tài chính theo quy định mới

TS. Bùi Đức Giang1

 

Một trong các điều kiện để một hợp đồng có hiệu lực là chủ thể hợp đồng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập. Các quy định pháp luật về việc xác định chủ thể giao kết hợp đồng vẫn còn chưa thực sự rõ ràng và vẫn đặt ra không ít khó khăn trong thực tế, bao gồm cả trong quan hệ tín dụng. Bài viết tập trung phân tích cách tiếp cận của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 (Bộ luật dân sự) và một số văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành liên quan đến vấn đề này.

Nguyên tắc chung

Điều 1, Bộ luật dân sự quy định “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”. Điều luật này dường như ngầm định việc chỉ có cá nhân hoặc pháp nhân mới được coi là chủ thể trong một quan hệ dân sự nhất định. Do quan hệ hợp đồng được hiểu là một loại quan hệ dân sự nên dường như chủ thể giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng tài chính nói riêng phải là cá nhân hoặc pháp nhân.

Trên tinh thần này, khoản 1, Điều 101, Bộ luật dân sự nêu rõ “Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết”. Như vậy, theo điều luật này, hộ gia đình và tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân nên về nguyên tắc sẽ không được đứng tên là một bên trong các hợp đồng
tài chính.

Tuy vậy, khoản 2, Điều 101, Bộ luật dân sự mở ra một ngoại lệ, theo đó “Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai”. Điều này, có nghĩa là việc xác định hộ gia đình sử dụng đất có tư cách pháp nhân hay không sẽ được thực hiện trên cơ sở các quy định của Luật đất đai.

Khoản 5, Điều 2, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Thông tư 39) định nghĩa “Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác […] là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn […], bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân”. Theo tinh thần của điều luật này, khi vay vốn đáp ứng nhu cầu vốn của hộ kinh doanh1, doanh nghiệp tư nhân, thì chủ thể đứng tên trên hợp đồng vay (thỏa thuận cho vay) phải là cá nhân là chủ hộ kinh doanh hay chủ doanh nghiệp tư nhân.

Doanh nghiệp tư nhân

Như nêu ở trên, theo khoản 5, Điều 2, Thông tư 39, tổ chức tín dụng chỉ được cho chủ doanh nghiệp tư nhân (DNTN) vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của DNTN, chứ không được giao kết hợp đồng trực tiếp với DNTN. Nói cách khác, theo tinh thần của thông tư này, DNTN không được đứng tên là một bên trong hợp đồng vay ký với tổ chức tín dụng. Quy định này gián tiếp khẳng định DNTN không có tư cách pháp nhân, do đó không thể nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách
độc lập.

Tuy vậy, vấn đề đặt ra là liệu có phải DNTN thực sự không có tư cách pháp nhân? Về điểm này có thể thấy còn có sự không thống nhất trong cách tiếp cận của các văn bản pháp luật có liên quan.

Thực vậy, một số quy định đi theo hướng không công nhận tư cách pháp nhân cho DNTN.

Chẳng hạn, khoản 1, Điều 183, Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 (Luật doanh nghiệp) quy định chủ DNTN “tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”; trong khi đó, một trong các tiêu chí để một tổ chức được công nhận là pháp nhân theo Điều 74, Bộ luật dân sự là tổ chức đó “tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình”.

Thêm vào đó, Luật doanh nghiệp chỉ nói đến tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của DNTN hay vốn đầu tư của chủ DNTN chứ không hề đề cập tới việc DNTN có tài sản thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của mình. Điều này có vẻ không giúp DNTN thỏa mãn được tiêu chí “có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác” nêu tại Điều 74, Bộ luật dân sự.

Hơn nữa,  khoản 3, Điều 185, Luật doanh nghiệp chỉ rõ chủ DNTN (chứ không phải chính DNTN) là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước trọng tài hoặc tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp.

Cuối cùng, nếu như Luật doanh nghiệp nêu rõ công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hay công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì các điều về DNTN của văn bản này lại không có một quy định tương tự như vậy.

Tuy nhiên, vẫn có các cơ sở pháp lý ngay chính trong Bộ luật dân sự cũng như Luật doanh nghiệp để bảo vệ cho quan điểm ngược lại.

Thực vậy, khoản 2, Điều 75, Bộ luật dân sự quy định “Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác”. Điều 1, Luật doanh nghiệp nêu rõ doanh nghiệp bao gồm “công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân”. Đọc kết hợp hai điều luật này dễ thấy, DNTN dường như là một pháp nhân thương mại.

Tương tự, khoản 2, Điều 187, Luật doanh nghiệp nhắc tới “các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác” của DNTN, tức là gián tiếp công nhận việc DNTN được tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập làm phát sinh các nghĩa vụ này.

Khoản 4, Điều 185, Luật doanh nghiệp còn quy định “Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”. Do theo quy định của Điều 134, Bộ luật dân sự, người được đại diện chỉ có thể là cá nhân hay pháp nhân, nên điều luật này dường như ngầm định DNTN là pháp nhân.

Như vậy, Bộ luật dân sự và Luật doanh nghiệp vẫn còn tiếp cận theo kiểu “nước đôi” đối với trường hợp DNTN và đây thực sự là một điều đáng tiếc bởi hiệu lực của hợp đồng có thể không được công nhận do vấn đề chủ thể và điều này, có thể gây thiệt hại cho một (hay các) bên trong quan hệ hợp đồng.

Cái khó đặt ra đối với tổ chức tín dụng liên quan đến việc xác định chủ thể hợp đồng bảo đảm bằng bất động sản, bởi lẽ pháp luật đất đai hiện hành vẫn công nhận DNTN (là một loại tổ chức kinh tế) là người sử dụng đất, tức là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vẫn được cấp cho DNTN. Chính vì thế, theo lẽ thông thường, tổ chức tín dụng chỉ được ký hợp đồng bảo đảm với DNTN chứ không thể ký với chủ DNTN. Nói cách khác, hợp đồng bảo đảm này sẽ trở thành hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba. Dễ thấy có sự nghịch lý ở đây bởi về bản chất, rõ ràng là chỉ có một chủ thể hợp đồng nhưng để phù hợp với Thông tư 39 và pháp luật đất đai thì chủ thể đứng tên là bên vay trong hợp đồng vay và chủ thể đứng tên là bên bảo đảm trong hợp đồng bảo đảm lại khác nhau. Cho đến thời điểm hiện tại, rất nhiều ngân hàng và cơ quan đăng ký đất đai còn bối rối trước vấn đề này.

Hộ gia đình sử dụng đất

Theo khoản 29, Điều 3, Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 (Luật đất đai), “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”. Luật đất đai coi hộ gia đình là “người sử dụng đất” (khoản 2, Điều 5) và quy định hộ gia đình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Giấy chứng nhận) (Điều 100).

Theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 5, Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, được bổ sung, sửa đổi năm 2015, thông tin về người sử dụng đất là hộ gia đình sử dụng đất được ghi như sau: [“Hộ ông” (hoặc “Hộ bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số của giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình […]; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Trường hợp chủ hộ gia đình hay người đại diện khác của hộ gia đình có vợ hoặc chồng cùng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi cả họ tên, năm sinh của người vợ hoặc chồng đó].

Theo khoản 1, Điều 64, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Nghị định 43), hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên. Khoản 5, Điều 14, Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 27/01/2015 quy định chi tiết một số điều của Nghị định 43 chỉ rõ “Người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự quy định tại Khoản 1 Điều 64 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP chỉ được thực hiện việc ký hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi đã được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản và văn bản đó đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật”. Cần lưu ý là các điều luật này dường như chỉ đề cập đến việc ai có quyền ký tên vào hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình. Nói cách khác, dường như hộ gia đình sử dụng đất vẫn được thừa nhận là chủ thể của các hợp đồng, giao dịch này.

Tuy nhiên, nếu đọc kết hợp các quy định này với khoản 5, Điều 2, Thông tư 39 nêu ở trên, dễ thấy hộ gia đình sử dụng đất không thể đứng tên là chủ thể trên hợp đồng vay mà chỉ có thể là chủ thể giao kết hợp đồng thế chấp bất động sản mà thôi.

Trong thực tế, trước sự chưa rõ ràng của khái niệm “hộ gia đình sử dụng đất” và để thống nhất về mặt chủ thể giữa hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp, một số tổ chức tín dụng thường yêu cầu bên thế chấp thực hiện đăng ký biến động chia tách quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của hộ gia đình và sau đó, ký hợp đồng thế chấp với cá nhân đứng tên trên Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, cách làm này cũng ít nhiều tiềm tàng rủi ro liên quan đến việc xác định số thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất.

Chi nhánh công ty

Vấn đề đứng tên hợp đồng vẫn còn ít nhiều gây tranh cãi trong trường hợp chi nhánh công ty, bao gồm cả chi nhánh của các tổ chức tín dụng.

Thật vậy cả Luật doanh nghiệp và Bộ luật dân sự đều khẳng định, chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp và do đó, không có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, khoản 6, Điều 84, Bộ luật dân sự lại chính thức cho phép chi nhánh được quyền xác lập hợp đồng. Có thể hiểu tinh thần của điều luật này là chi nhánh là người đại diện của doanh nghiệp. Tuy vậy, theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật dân sự, người đại diện chỉ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Chính vì thế, nếu không có tư cách pháp nhân, chi nhánh không thể đại diện cho doanh nghiệp để xác lập hợp đồng.

Do quy định pháp luật còn chưa thực sự rõ ràng như vậy, trong thực tế doanh nghiệp vẫn còn khá băn khoăn không biết nên ghi chủ thể hợp đồng là công ty hay là chi nhánh công ty. Một số cơ quan nhà nước cũng vẫn còn lúng túng trong vấn đề này. Trong thực tế, đã xảy ra trường hợp chi nhánh một công ty ký hợp đồng thuê đất với UBND một tỉnh nọ nhưng đến khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, cán bộ văn phòng đăng ký đất đai mới phát hiện ra việc pháp luật đất đai không có quy định được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho chi nhánh công ty. Chính vì vậy, để hợp thức hóa giao dịch, các bên đã phải ký thỏa thuận chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng thuê đất đã ký, theo đó UBND tỉnh, chi nhánh và công ty đồng ý để quyền và nghĩa vụ của chi nhánh được chuyển giao cho công ty.

Thực ra, giải pháp cho vấn đề này đã ít nhiều được nêu trong khoản 5, Điều 84, Bộ luật dân sự. Theo đó, người đứng đầu chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền. Như vậy, nếu muốn chi nhánh tham gia vào giao dịch, cách làm phù hợp nhất sẽ là người đại diện theo pháp luật của công ty ủy quyền cho người đứng đầu chi nhánh ký hợp đồng với các bên thứ ba. Nói cách khác, chủ thể của hợp đồng vẫn phải là công ty còn người đứng đầu chi nhánh hoặc người được người đứng đầu chi nhánh ủy quyền lại hợp lệ sẽ ký tên trên hợp đồng. Với giải pháp này có thể gặp khó khăn trong việc sử dụng con dấu nếu công ty có nhiều chi nhánh. Tuy vậy, theo quy định tại Điều 44, Luật doanh nghiệp, về nguyên tắc, việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của điều lệ công ty và con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng dấu. Nói cách khác, điều lệ của công ty và/hoặc hợp đồng tài chính có thể quy định việc sử dụng con dấu của chi nhánh (chứ không phải con dấu của công ty) trong các hợp đồng này.

Có thể thấy, còn có khá nhiều khoảng trống hay hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể giao kết hợp đồng. Đây là một điều thực sự đáng tiếc nhất là trong bối cảnh hợp đồng tài chính có thể bị tuyên vô hiệu do lỗi về chủ thể. Việc sớm khắc phục các bất cập này là điều cần thiết để góp phần khơi thông tín dụng.

 

 

1Theo khoản 1, Điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp ngày 14 tháng 9 năm 2015, “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”.

 

1 Đại học Paris 2, Pháp


  • aA
  • Categories:
  • Tạp chí Ngân hàng
OTHER NEWS
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
04/11/2026
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
04/06/2026
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
04/10/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
03/07/2027
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
03/04/2027
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
03/04/2027
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
03/04/2027
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
03/06/2026
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
03/06/2026
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
03/06/2026
Showing 1 to 10 of 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready