Trong báo cáo cập nhật của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) về triển vọng kinh tế toàn cầu, các chuyên gia nhận định, xu thế toàn cầu hóa đã thay đổi cách thức khuyếch tán và chuyển giao công nghệ, trong đó thương mại và đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) đóng vai trò quan trọng.
Các chuyên gia đã nghiên cứu cách thức và quá trình đổi mới công nghệ, khả năng khuyếch tán công nghệ giữa các nước, quá trình đổi mới công nghệ tại các nước phát triển và mới nổi, cạnh tranh quốc tế về đổi mới và chuyển giao công nghệ. Qua đó đề xuất một số giải pháp chính sách thích hợp, với mục tiêu là thúc đẩy và thu hút sự tham gia của các đối tác trong quá trình lan tỏa công nghệ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, toàn cầu hóa đã đẩy nhanh quá trình lan tỏa công nghệ xuyên biên giới, góp phần khai thác tiềm năng tăng trưởng giữa các nước. Quá trình chia sẻ công nghệ được tiến hành thông qua nhiều kênh khác nhau, bao gồm việc sử dụng các bằng sáng chế và giao lưu thương mại quốc tế. Theo đó, khuyếch tán công nghệ có thể khuyến khích đổi mới, nhưng cũng có thể tác động trực tiếp thông qua phương thức đơn giản là chấp nhận công nghệ hiện tại. Ngoài ra, cạnh tranh quốc tế cũng là động lực để đổi mới và tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài.
Trong giai đoạn 2004-2014, công nghệ nước ngoài đóng góp khoảng 0,7 điểm phần trăm vào năng suất lao động hàng năm (hoặc 40% tăng trưởng năng suất trong lĩnh vực kinh tế mà nhóm chuyên gia tiến hành khảo sát, nghiên cứu), cao hơn hẳn so với mức đóng góp 0,4 điểm phần trăm trong giai đoạn 1995-2003. Do tác động của các dòng công nghệ và kỹ thuật đến các ngành công nghiệp tại các nước mới nổi cao hơn nhiều so với vào các nước phát triển, nên các nước mới nổi sử dụng phần lớn kiến thức nước ngoài hiện nay, năng suất lao động vì thế cũng tăng nhanh. Trái lại, khả năng đóng góp của kỹ thuật và công nghệ nước ngoài vào năng suất lao động có xu hướng chậm dần, do vai trò của nhóm G5 giảm dần và sự thiếu vắng về khả năng cải thiện các hoạt động sử dụng kiến thức nước ngoài trong tương lai.
Nhờ tăng cường sử dụng kiến thức và công nghệ có sẵn, các nước mới nổi đã thúc đẩy các hoạt động đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất lao động. Đáng chú ý, quá trình lan tỏa công nghệ đã phần nào bù đắp tốc độ đổi mới công nghệ (vốn đang chậm dần trong những năm gần đây). Nỗ lực chuyển giao công nghệ đã giúp các nước mới nổi tăng năng suất lao động và cải thiện thu nhập, đóng góp trung bình 40% vào kết quả tăng năng suất lao động trong nền kinh tế. Quá trình chuyển giao công nghệ không chỉ diễn ra theo kênh trực tiếp, mà còn thông qua hoạt động hợp tác giữa các đối tác công nghệ.
Trong giai đoạn 1995-2014, Mỹ, Nhật Bản, CHLB Đức, CH Pháp, và Vương quốc Anh (nhóm G5), chiếm khoảng ¾ các dòng sáng chế công nghệ quốc tế, đồng thời đứng đầu thế giới về chi tiêu trong hoạt động nghiên cứu và phát triển. Với những lý do này, nhóm G5 được coi là đại diện cho lĩnh vực công nghệ toàn cầu và là nguồn gốc cơ bản khuyếch tán công nghệ trên thế giới, nền tảng kiến thức và công nghệ vẫn tập trung tại một vài nước công nghiệp hàng đầu.
Tuy nhiên, điều này không nghĩa là những nước phát triển khác và các nước mới nổi không đóng góp gì cho tiến bộ công nghệ toàn cầu. Trong những năm gần đây, Hàn Quốc và Trung Quốc đã cùng với nhóm G5 đứng đầu thế giới về đầu tư nghiên cứu phát triển và số lượng bằng sáng chế áp dụng trong nhiều khu vực kinh tế. Trong tương lai, Hàn Quốc và Trung Quốc có tiềm năng trở thành địa chỉ quan trọng về các dòng công nghệ và kỹ thuật toàn cầu.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các dòng công nghệ và kỹ thuật mang tính địa phương, do những rào cản ảnh hưởng đến khả năng khuyếch tán công nghệ như rào cản địa lý, ngôn ngữ, sự khác biệt về công nghệ. Những rào cản này có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến khả năng khuyếch tán công nghệ, do nó cản trở các hoạt động chuyển giao công nghệ như thương mại, FDI, và di dân - những kênh chuyển giao quan trọng về công nghệ và kỹ thuật.
Từ đầu thế kỷ XXI này, xu hướng phát triển các bằng sáng chế bắt đầu chậm lại, ảnh hưởng đến khả năng tăng năng suất lao động. Trong đó, hai giả thuyết đưa ra bao gồm, tác động của đổi mới công nghệ thông tin và truyền thông mờ nhạt dần, tiến bộ về lĩnh vực số hóa, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, và học máy giảm thấp trong những năm gần đây sau khi được giới thiệu và áp dụng trong thực tế do phải có thời gian trước khi mang lại lợi ích thực tế.
Trong khi khả năng hình thành kiến thức và công nghệ mới có dấu hiệu chậm lại, tiến bộ và sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông trong những năm gần đây được cho là những yếu tố quan trọng hỗ trợ công nghệ phát triển nhanh hơn, thể hiện qua hoạt động sao chép công nghệ và những ngôi sao công nghệ mới. Điều này ghi nhận những chuyển biến tích cực về khả năng khuyếch tán công nghệ, góp phần thúc đẩy các yếu tố năng suất lao động trong tương lai.
Tại báo cáo này, các chuyên gia cũng nhấn mạnh những tác động tích cực của toàn cầu hóa, và những chính sách liên quan đến khả năng chia sẻ lợi ích của toàn cầu hóa đến các tầng lớp dân cư. Để khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ khai thác công nghệ đạt được, các nước cần có chính sách để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp như điều chỉnh hệ thống thuế nhằm phân phối lại thu nhập giữa các nhóm xã hội.
Về tổng thể, các nước cần có chính sách cải thiện khả năng kết nối các dòng công nghệ thông qua các chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu, FDI, giao lưu thương mại, v.v. Điều này đòi hỏi phải nới lỏng các rào cản đối với FDI, dỡ bỏ các rào cản thương mại, xây dựng kết cấu hạ tầng cần thiết, nâng cao khả năng tiếp nhận công nghệ. Trong đó, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu, không chỉ góp phần nâng cao năng lực công nghệ, mà còn tối đa hóa khả năng hấp thụ công nghệ hiện hành.
Xuân Thanh (Nguồn: IMF tháng 4/2017)