Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Một số điểm nổi bật của Nghị định 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

13/07/2018 23:56:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành và có hiệu lực từ 01/7/2018 đây là Luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng về Nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Theo đó, cơ chế bồi thường đã có nhiều sửa đổi như mở rộng các đối tượng được bồi thường, các trường hợp được bồi thường, thời hiệu bồi thường, cơ chế bồi thường… theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại. Để cụ thể hóa các quy định của Luật, ngày 15/05/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có hiệu lực vào ngày 01/7/2018 (sau đây gọi là Nghị định).

Nghị định được bố cục gồm 06 Chương và 37 Điều, theo đó tập trung quy định chi tiết các nội dung được Luật giao, bao gồm: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; Khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại được bồi thường; Xác định các chi phí khác được bồi thường; Xác minh thiệt hại; Chủ động phục hồi danh dự; Trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai; Đăng báo xin lỗi và cải chính công khai; Xác định mức hoàn trả, giảm mức hoàn trả; Thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả; Xử lý tiền đã hoàn trả, trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp văn bản làm căn cứ bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường. Có thể nói điểm nhấn quan trọng nhất của Nghị định là lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật về bồi thường, những quy định của Luật được cụ thể hóa một cách chi tiết, đầy đủ và là cơ sở quan trọng cho việc áp dụng pháp luật được thuận lợi và thống nhất hơn.

Trong phạm vi nội dung của bài viết, xin được giới thiệu một số nội dung nổi bật của Nghị định, như sau:

1. Về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:

Về nguyên tắc xác định giá đối với tài sản bị xâm phạm: Việc xác định giá đối với tài sản bị xâm phạm luôn là vấn đề khó khăn đối với các cơ quan chức năng trong thời gian qua, bởi giá thị trường luôn biến động, đặc biệt có sự khác biệt rất lớn giữa các thị trường như giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền. Khắc phục những bất cập này, Nghị định quy định về cách xác định giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn, kỹ thuật, tác dụng và chất lượng trên thị trường là giá giao dịch phổ biến trung bình trên thị trường của 03 tài sản đó do 03 cơ sở kinh doanh khác nhau trên thị trường cung cấp. Quy định “thị trường” để làm cơ sở xác định “giá thị trường” là thị trường cấp huyện nơi phát sinh thiệt hại thực tế. Trường hợp thị trường cấp huyện nơi phát sinh thiệt hại thực tế không có tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và chất lượng thì thị trường là thị trường cấp huyện gần nhất với nơi phát sinh thiệt hại thực tế trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Về xác định mức độ hao mòn của tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng, trích khấu hao tài sản cố định.

Xác định giá thị trường để sửa chữa, khôi phục lại tài sản bị hư hỏng là giá giao dịch phổ biến trung bình trên thị trường cấp huyện để sửa chữa, khôi phục lại tài sản do 03 cơ sở dịch vụ sửa chữa, khôi phục khác nhau trên thị trường cung cấp. Trường hợp không xác định được giá thị trường thì cơ quan giải quyết bồi thường xác định.

Xác định mức giá thuê trung bình 01 tháng của động sản cùng loại hoặc có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và chất lượng là mức giá thuê trung bình 01 tháng của 03 tài sản đó do 03 cơ sở khác nhau cho thuê trên thị trường cung cấp. Mức giá thuê trung bình 01 tháng đối với bất động sản là mức giá thuê trung bình của 03 bất động sản cùng loại, cùng chất lượng do 03 cơ sở khác nhau cho thuê trên thị trường cung cấp.

Với cách quy định cụ thể tại Nghị định sẽ là cơ sở để việc xác định mức bồi thường được áp dụng thống nhất, thủ tục bồi thường được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi.

2. Về khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại: 

Về nguyên tắc, khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại được bồi thường được tính từ ngày phát sinh thiệt hại thực tế cho đến khi chấm dứt thiệt hại theo quy định của Luật. Đối với một số trường hợp đến thời điểm thụ lý, giải quyết mà thiệt hại chưa chấm dứt và cũng không xác định được thời điểm chấm dứt thiệt hại thì khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại tính đến thời điểm thụ lý, giải quyết. Như vậy, với cách xác định khoảng thời gian này, quyền lợi của người bị thiệt hại được đảm bảo tối đa và việc áp dụng pháp luật sẽ trở nên thống nhất.

Trên cơ sở nguyên tắc này, Nghị định quy định cách tính khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại cho từng trường hợp cụ thể:

- Khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm như: tài sản bị phát mại, bị mất, bị tạm giữ, thu giữ, kê biên, tịch thu trái pháp luật.

- Khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút trong các trường hợp như: người bị thiệt hại bị áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, tạm giữ người theo thủ tục hành chính; Trong trường hợp công chức từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật; Trong trường hợp bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự.

- Khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại về vật chất trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoặc suy giảm khả năng lao động. Khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết và thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm;

- Khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại về tinh thần.

3. Xác định các chi phí khác được bồi thường

Vấn đề xác định các chi phí khác được bồi thường là vấn đề bị bỏ ngỏ từ trước tới nay, theo đó, trong nhiều năm qua, trong nhiều vụ việc người bị thiệt hại đã yêu cầu bồi thường thiệt hại là các chi phí ăn, ở, đi lại, in ấn trong quá trình bồi thường...Tuy nhiên, thiệt hại này của họ không được bồi thường do Luật năm 2009 không quy định là một loại thiệt hại được bồi thường. Việc bồi thường chi phí khác chỉ được hướng dẫn tại một văn bản của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, tuy nhiên chỉ thu hẹp tại phạm vi các hoạt động tố tụng hình sự. Để khắc phục khoảng trống pháp lý này, Luật năm 2017 bổ sung nội dung này và được cụ thể hóa tại Nghị định. Theo đó, Nghị định đã quy định cụ thể việc xác định thiệt hại là các chi phí khác được bồi thường, bao gồm: các chi phí thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, in ấn tài liệu, gửi đơn thư chỉ được bồi thường trong trường hợp người yêu cầu bồi thường khiếu nại, tố cáo, tham gia tố tụng hoặc yêu cầu bồi thường đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật; Việc bồi thường các chi phí thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, in ấn tài liệu, gửi đơn thư tương ứng với số lần khiếu nại, tố cáo, tham gia tố tụng và yêu cầu bồi thường và khoảng thời gian giữa các lần. Đây là quy định hoàn toàn phù hợp với thực tế, đảm bảo cho người dân được bồi thường về các chi phí kinh tế khác cho việc theo đuổi quá trình bồi thường mà trên thực tế những chi phí này tốn một khoản kinh tế không nhỏ đặc biệt trong những trường hợp thủ tục yêu cầu bồi thường kéo dài.

4. Về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường:

Thứ nhất, liên quan đến vấn đề thụ lý hồ sơ, Nghị định quy định về trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thụ lý hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến trong trường hợp người yêu cầu bồi thường đã nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường đến Sở Tư pháp trong thời hiệu yêu cầu bồi thường nhưng tại thời điểm nhận hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến mà thời hiệu yêu cầu bồi thường đã hết.

Thứ hai, liên quan đến cách thức xác minh thiệt hại, Nghị định quy định việc xác minh thiệt hại được thực hiện theo một hoặc một số cách thức: (i) Xác định các thiệt hại được Nhà nước bồi thường trong văn bản yêu cầu bồi thường; (ii)Yêu cầu người yêu cầu bồi thường, cá nhân, tổ chức có liên quan cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường; (iii) Tổ chức trao đổi ý kiến trực tiếp giữa người yêu cầu bồi thường với cá nhân, tổ chức có liên quan. Việc tổ chức trao đổi ý kiến phải được lập thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của cá nhân, tổ chức tham gia; (iv) Đề nghị giám định các tài liệu, chứng cứ mà người yêu cầu bồi thường đưa ra trong hồ sơ trong trường hợp có căn cứ cho rằng các tài liệu, chứng cứ đó là giả mạo hoặc trong trường hợp cần thiết khác; (v) Xem xét, đánh giá hiện trạng tài sản tại nơi có tài sản bị thiệt hại; (vi) Lấy ý kiến bằng văn bản của cá nhân, tổ chức có liên quan về thiệt hại và mức bồi thường mà người yêu cầu bồi thường yêu cầu trong hồ sơ; (vii) Định giá tài sản, giám định thiệt hại; (viii) Trường hợp một trong các thiệt hại mà người yêu cầu bồi thường đã cung cấp tài liệu, chứng cứ đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật thì người giải quyết bồi thường tiến hành xác minh tại chỗ đối với thiệt hại đó. Bên cạnh đó, Nghị định quy định cụ thể về các loại tài liệu, chứng cứ làm căn cứ xác minh thiệt hại đối với từng loại thiệt hại cụ thể như các tài liệu chứng cứ liên quan đến quyền sở hữu, khai thác tài sản; trả tiền lương; tiền công; chứng cứ liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, bị giữ, bị kỷ luật…Với việc cụ thể hóa chi tiết đến từng tài liệu, thủ tục giúp người dân thực hiện dễ dàng, không bị lúng túng vì trên thực tế nhiều người dân không biết phải cung cấp những tài liệu gì để chứng minh, nhờ vậy mà thủ tục giải quyết bồi thường sẽ trở nên nhanh chóng.

Thứ ba, về định giá tài sản, giám định thiệt hại, Nghị định quy định cụ thể các trường hợp xác minh thiệt hại được thực hiện thông qua định giá tài sản và các trường hợp xác minh thiệt hại thông qua giám định thiệt hại. Việc định giá tài sản được tiến hành trong 2 trường hợp: (i) không xác định được giá thị trường; (ii) Không có tài sản cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và chất lượng với tài sản bị thiệt hại trên thị trường hoặc có sự thay đổi về hiện trạng của tài sản bị thiệt hại tại thời điểm xác minh so với ngày phát sinh thiệt hại thực tế. Việc giám định tài sản được thực hiện trong 2 trường hợp: (i) khi không có sự thống nhất giữa người yêu cầu bồi thường và cơ quan giải quyết bồi thường; (ii) khi chưa có kết quả giám định của cơ quan có thẩm quyền về mức độ sức khỏe bị tổn hại. Đồng thời quy định trình tự, thủ tục cấp và bổ sung kinh phí bảo đảm cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại trong trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường còn dự toán quản lý hành chính được cấp có thẩm quyền giao và trong trường hợp không còn đủ dự toán quản lý hành chính được cấp có thẩm quyền giao.

Về lấy ý kiến của cá nhân, tổ chức có liên quan về thiệt hại, mức bồi thường quy định tại, Nghị định quy định một số cá nhân, tổ chức mà người giải quyết bồi thường có thể lấy ý kiến bằng văn bản về thiệt hại, mức bồi thường và các trường hợp mà người giải quyết bồi thường lấy ý kiến bằng văn bản của cá nhân, tổ chức có liên quan về thiệt hại, mức bồi thường; đồng thời quy định thời hạn trả lời của cá nhân, tổ chức được lấy ý kiến. Bên cạnh đó, Nghị định còn quy định về tham gia xác minh thiệt hại trong các trường hợp được coi là vụ việc phức tạp quy định tại khoản 4 Điều 45 của Luật; quy định thời hạn cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm cử đại diện tham gia vào việc xác minh thiệt hại; phân định trách nhiệm giữa Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính với Sở Tư pháp, Sở Tài chính trong việc tham gia xác minh thiệt hại; đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan được mời tham gia xác minh thiệt hại.

5. Về phục hồi danh dự:

Đây là một nội dung mà Luật năm 2017 đã có sự sửa đổi toàn diện, theo đó, quy định rõ các hình thức phục hồi danh dự tương ứng với từng đối tượng được bồi thường. Trên cơ sở này, Nghị định dành 04 Điều khoản hướng dẫn chi tiết. Liên quan đến phục hồi danh dự, Nghị định quy định hai hình thức sau: Trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai; Đăng báo xin lỗi và cải chính công khai.

Nghị định quy định cụ thể nội dung chính của thông báo bằng văn bản về việc Nhà nước tổ chức phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại. Đồng thời, Nghị định cũng quy định thời hạn người bị thiệt hại có ý kiến trả lời và hậu quả pháp lý của việc không trả lời thông báo phục hồi danh dự.

Nghị định quy định các thành phần mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm mời tham gia buổi trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai, gồm: (i) Người bị thiệt hại, người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật dân sự; (ii) Đại diện lãnh đạo cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; đại diện lãnh đạo cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan trong trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau cùng gây thiệt hại; (iii) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại; (iv) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ hoặc chồng, cha, mẹ bên vợ hoặc bên chồng, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại; (v) Người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại (nếu có), người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại (nếu có); (vi) Đại diện cơ quan, tổ chức nơi người bị thiệt hại làm việc, học tập (nếu có); đại diện tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp mà người bị thiệt hại là thành viên (nếu có); (vii) Đại diện cơ quan báo chí; (viii) Các thành phần khác mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thấy cần thiết. Đồng thời, Nghị định cũng quy định những thành phần bắt buộc phải có mặt trong buổi trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai mà nếu thiếu một trong các thành phần đó thì không tổ chức được buổi xin lỗi trực tiếp và cải chính công khai. Ngoài ra, Nghị định còn quy định trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại trong việc tổ chức xin lỗi và cải chính công khai và quy định trình tự, thủ tục cụ thể tiến hành tại buổi xin lỗi và cải chính công khai để bảo đảm cho việc xin lỗi thể hiện trách nhiệm cao của Nhà nước đối với những mất mát của người bị thiệt hại.   

Bên cạnh đó Nghị định quy định cụ thể các nội dung chính của văn bản xin lỗi và cải chính công khai gồm: (i) Tên cơ quan, nơi đặt trụ sở của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; (ii) Họ và tên, chức vụ, chức danh của người trình bày văn bản xin lỗi và cải chính công khai; (iii) Họ và tên, địa chỉ của người bị thiệt hại; (iv) Các cơ quan nhà nước liên quan đến việc gây thiệt hại; (v) Tóm tắt hành vi gây thiệt hại, nguyên nhân dẫn đến việc gây thiệt hại cho người bị thiệt hại; (vi) Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại đã thấy được đầy đủ những sai phạm và hậu quả của sai phạm do người thi hành công vụ thuộc thẩm quyền quản lý của mình gây ra; (vii) Thay mặt Nhà nước, đại diện lãnh đạo cơ quan xin lỗi người bị thiệt hại, gia đình, người thân của người bị thiệt hại, cơ quan (nếu có) của người người bị thiệt hại và nhân dân; mong muốn người bị thiệt hại chấp nhận lời xin lỗi và cam kết xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật người.

Điều đáng lưu ý là đối với hình thức đăng báo xin lỗi và cải chính công khai nội dung phải được đăng ở vị trí trang trọng trên trang chính của tờ báo.

Có thể nói đây là điểm mới rất tiến bộ của Nghị định trong việc đảm bảo quyền lợi ích của người bị thiệt hại. Lần đầu tiên tại một văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ những nội dung về phục hồi danh dự được quy định chi tiết, cụ thể và đặc biệt lưu ý đến những nội dung thể hiện trách nhiệm của cơ quan gây thiệt hại cũng như đảm bảo sự phục hồi danh dự được đạt kết quả tốt nhất. Đây là một trong những nội dung thể hiện rõ nhất việc đảm bảo quyền con người theo quy định của Hiến pháp 2013, những quy định này góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của cơ quan nhà nước cũng như cán bộ trong việc thi hành công vụ.

6. Về trách nhiệm hoàn trả 

Về mức hoàn trả, Nghị định quy định về cách xác định lương của người thi hành công vụ gây thiệt hại để hoàn trả làm căn cứ xác định mức hoàn trả và được tính là lương cơ sở nhân với hệ số theo ngạch, bậc theo quy định của pháp luật tại thời điểm có quyết định hoàn trả. Trường hợp tại thời điểm có quyết định hoàn trả, người thi hành công vụ gây thiệt hại đã nghỉ việc tại cơ quan nhà nước thì việc xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại căn cứ vào lương của người đó tại thời điểm trước khi nghỉ việc; Đồng thời, Nghị định cũng quy định xác định các mức hoàn trả của người thi hành công vụ tương ứng với các mức cụ thể của số tiền Nhà nước đã bồi thường và mức độ lỗi của người thi hành công vụ gây thiệt hại.Về cơ bản, trong trường hợp có lỗi cố ý gây thiêt hại nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì người thi hành công vụ phải hoàn trả tối đa 50% số tiền mà Nhà nước phải bồi thường. Nghị định cũng quy định về các trường hợp giảm mức hoàn trả trong những trường hợp “hoàn cảnh kinh tế khó khăn”.

Về Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả, Nghị định quy định thời hạn hoàn thành việc thành lập Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả. Thành phần Hội đồng bao gồm đại diện lãnh đạo cơ quan đã chi trả tiền bồi thường là Chủ tịch Hội đồng và các thành viên sau đây: (i) Đại diện lãnh đạo các cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại trong trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan khác nhau cùng gây thiệt hại; (ii) Đại diện Công đoàn cơ sở của cơ quan đã chi trả tiền bồi thường. Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan khác nhau gây thiệt hại thì phải có đại diện Công đoàn cơ sở của các cơ quan đó; (iii) Đại diện cơ quan đã ban hành văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không có nội dung xác định lỗi của người thi hành công vụ; (iv) Đại diện cơ quan, tổ chức đang trực tiếp quản lý, sử dụng, trả lương cho người thi hành công vụ gây thiệt hại trong trường hợp người đó đã chuyển sang cơ quan, tổ chức khác; (v) Đại diện cơ quan bảo hiểm xã hội đang chi trả lương hưu cho người thi hành công vụ trong trường hợp người đó đã nghỉ hưu; (vi) Các thành phần khác mà cơ quan đã chi trả tiền bồi thường thấy cần thiết.

Hội đồng chỉ họp khi có ít nhất 2/3 tổng số thành viên Hội đồng theo quyết định thành lập có mặt và Hội đồng làm việc theo nguyên tắc thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Trong quá trình thảo luận và quyết định, các thành viên Hội đồng phải khách quan, dân chủ và tuân theo quy định của pháp luật. Hội đồng có các nhiệm vụ: (i) Xác định những người thi hành công vụ gây thiệt hại trên cơ sở nội dung văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường và hồ sơ giải quyết công việc liên quan đến việc thi hành công vụ gây thiệt hại; (ii) Đánh giá, xác định mức độ lỗi của người thi hành công vụ gây thiệt hại trên cơ sở nội dung văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường và (iii) Xác định trách nhiệm hoàn trả và mức hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại thì phải được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu kín và phải được trên 50% tổng số thành viên Hội đồng theo quyết định thành lập đồng ý.

Về trách nhiệm và phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước, Nghị định phân định trách nhiệm xác định cơ quan giải quyết bồi thường giữa Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp trong trường hợp không có sự thống nhất về cơ quan giải quyết bồi thường và trong trường hợp cơ quan nhà nước bị giải thể theo quyết định của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời quy định thủ tục xác định cơ quan giải quyết bồi thường; Nghị định quy định Sở Tư pháp xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp chỉ có một cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và trong trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan cùng gây thiệt hại. Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi ngay hồ sơ đến cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền để xác định cơ quan giải quyết bồi thường.

Bên cạnh đó Nghị định cũng quy định cụ thể về công tác thanh tra, kiểm tra, báo cáo thống kê để đảm bảo việc áp dụng các quy định được khả thi, thống nhất.   

Với những điểm nổi bật như trên, Nghị định được ban hành và có hiệu lực cùng thời điểm với Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017 góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi thường của nhà nước, đảm bảo cho các quy định của Luật được nhanh chóng đi vào cuộc sống, khả thi hơn. Quyền lợi của người bị thiệt hại được đảm bảo kịp thời, chính xác và cho thấy rõ thiện chí của Nhà nước trong việc thực hiện trách nhiệm của mình với việc bồi thường những thiệt hại gây ra cả về mặt vật chất và tinh thần. Những quy định chặt chẽ này đòi hỏi các cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ phải có ý thức trách nhiệm hơn với các quyết định của mình để đảm bảo quyền con người, quyền và lợi ích chính đáng cho công dân.

Vụ Pháp Chế   

 

1

 

  • aA
  • Categories:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
OTHER NEWS
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
10/2/26
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
2/2/26
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
5/1/28
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
10/1/27
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
7/1/27
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
3/1/27
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
2/1/27
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
9/1/26
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
8/1/26
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
6/12/26
Showing 1 to 10 of 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready