Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Năm 2018: Điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng tiếp tục góp phần nâng hạn tín nhiệm quốc gia

02/01/2019 22:26:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Nhờ các yếu tố vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát chặt chẽ, môi trường kinh doanh được cải thiện mà Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế uy tín nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, cải thiện hình ảnh trong mắt các nhà đầu tư quốc tế. Moody’s nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từ B1 lên Ba3 với triển vọng thay đổi từ ổn định sang tích cực vào ngày 11/8/2018. Fitch nâng xếp hạng nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ (IDR) của Việt Nam từ mức BB- lên mức BB với triển vọng ổn định. Trong những thành công trên có đóng góp quan trọng của điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và những kết quả trong hoạt động ngân hàng năm 2018.

Trong bối cảnh tình hình kinh tế chính trị thế giới năm 2018 có nhiều thách thức và biến động bất thường, NHNN đã chủ động, linh hoạt điều hành CSTT, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát (dưới 4%) và hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý, qua đó thu được những kết quả tích cực.

Năm 2018: Mặt bằng lãi suất, tỷ giá ổn định - Tín dụng tăng trưởng hiệu quả

NHNN đã điều hành chính sách lãi suất một cách một cách linh hoạt, phù hợp với các cân đối vĩ mô và diễn biến thị trường, giữ mặt bằng lãi suất tương đối ổn định để tạo điều kiện đảm bảo nguồn vốn cho kinh doanh sản xuất, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngay từ đầu năm, một số NHTM đã giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên. Từ đó đến cuối năm, NHNN đã điều hành để giữ mặt bằng lãi suất trong nước tương đối ổn định trong bối cảnh Mỹ tăng lãi suất, mặt bằng lãi suất thế giới tăng lên do các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.

Các chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng tăng phù hợp với mục tiêu, cơ cấu tín dụng theo đồng tiền diễn biến phù hợp với chủ trương chống Đô-la hóa của Chính phủ, chuyển dần từ quan hệ gửi-vay sang quan hệ mua-bán ngoại tệ, tín dụng đối với hầu hết các lĩnh vực ưu tiên tăng cao hơn tín dụng chung và tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro có xu hướng chậm lại.

Trên thị trường ngoại tệ, dù có nhiều áp lực từ thị trường quốc tế nhưng tỷ giá trong nước vẫn tương đối ổn định, đặc biệt khi so với mức độ mất giá của các đồng tiền mới nổi và đang phát triển, thanh khoản thị trường vẫn đảm bảo, các giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt, các nhu cầu mua ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời và NHNN mua ròng ngoại tệ, bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước (DTNHNN). Về giải pháp điều hành tỷ giá, cụ thể, những tháng đầu năm, khi cung cầu ngoại tệ khá thuận lợi, NHNN tranh thủ mua ngoại tệ bổ sung Dự trữ ngoại hối nhà nước (DTNHNN). Đặc biệt, từ 7/2/2018, NHNN bắt đầu niêm yết tỷ giá mua kỳ hạn 3 tháng để trì hoãn việc đưa tiền đồng ra mua ngoại tệ, góp phần kiểm soát nguồn tiền cung ứng, hỗ trợ kiểm soát lạm phát, trong khi vẫn mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại tệ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Từ tháng 6, thị trường ngoại tệ chịu các áp lực từ diễn biến tiêu cực trên thế giới và tâm lý nhà đầu tư trong nước. NHNN đã kịp thời điều hành đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định thị trường, đảm bảo các giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt.

Về điều hành tín dụng, NHNN đã có nhiều chỉ đạo, giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh (SXKD), tăng cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế như chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm; mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, hiệu quả, tập trung vốn vào các lĩnh vực SXKD, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro; kiên định các giải pháp chính sách để giảm dần tín dụng ngoại tệ phù hợp với chủ trương chống Đô-la hóa của Chính phủ, chuyển dần từ quan hệ gửi – vay ngoại tệ sang quan hệ mua – bán ngoại tệ.

Nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, trong công tác cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện kinh doanh. Kết quả xếp hạng chỉ số cải cách hành chính (Par Index) trong 3 năm liên tiếp (2015, 2016, 2017), NHNN tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu trong số 19 Bộ, ngành.

Lãi suất ổn định cùng các chính sách hỗ trợ về vốn, việc cắt giảm thủ tục hành chính đã tạo điều kiện cho người dân doanh nghiệp tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, trong đó có vốn tín dụng. Nhờ đó đảm bảo nguồn vốn cho kinh doanh sản xuất, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Với những nỗ lực của ngành Ngân hàng trong việc cải thiện tích cực môi trường kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đóng góp quan trọng vào việc cải thiện môi trường kinh doanh nói chung, hỗ trợ doanh nghiệp, người dân trong tiếp cận vốn và các dịch vụ ngân hàng, chỉ số “Tiếp cận tín dụng” của Việt Nam trong những năm qua được đánh giá cao, đặc biệt trong năm 2018 đã được Ngân hàng Thế giới (WB) xếp hạng 29/190, tăng 3 bậc và đứng thứ 4 trong ASEAN.

Chuyến biến tích cực trong tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu

Qua hơn 1 năm triển khai Quyết định 1058 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu và triển khai Nghị quyết 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, sự chỉ đạo quyết liệt của NHNN, nỗ lực của các TCTD, công tác tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu có những chuyển biến tích cực.

Năng lực tài chính của các TCTD được củng cố, vốn điều lệ tăng dần; chất lượng quản trị điều hành của các TCTD từng bước được nâng cao để tiệm cận với thông lệ quốc tế; hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ, đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động được chú trọng, tăng cường. Việc phân cấp, ủy quyền được thực hiện minh bạch, độc lập với trách nhiệm rõ ràng; công tác quản trị rủi ro tập trung vào các rủi ro trọng yếu bước đầu đem lại hiệu quả, chiến lược kinh doanh bước đầu phù hợp với văn hóa rủi ro và khẩu vị rủi ro; vai trò kiểm tra, đánh giá độc lập của Ban kiểm soát, kiểm toán nội bộ được phát huy, coi trọng. Tính minh bạch trong hoạt động tín dụng cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh đã góp phần quan trọng giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các TCTD. Công tác thanh tra, giám sát được tăng cường đã góp phần ngăn chặn, phát hiện và xử lý kiên quyết các rủi ro, tồn tại và sai phạm của TCTD, thúc đẩy các TCTD triển khai tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu nghiêm túc, có hiệu quả. Tỷ lệ nợ xấu giảm so với cuối năm 2017.

Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển

Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2018, Ngành Ngân hàng là một trong những ngành chủ động đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong quản lý và kinh doanh. Sự chủ động này đã tạo ra một nền tảng vững chắc và những lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh mới, khi kinh tế số phát triển, xu thế thanh toán điện tử tăng nhanh, trung tâm kinh tế thế giới dịch chuyển dần từ Tây sang Đông.

Để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức từ CMCN 4.0 nhằm thích ứng, phát triển bền vững trong kỷ nguyên 4.0, ngành ngân hàng Việt Nam đã và đang tăng cường đổi mới sáng tạo trong nội bộ tổ chức và thúc đẩy đổi mới từ bên ngoài thông qua tăng cường hợp tác Fintech, tạo dựng hệ sinh thái số theo hướng mở, tăng cường thu thập, khai thác dữ liệu khách hàng, đồng thời hoàn thiện về hành lang pháp lý cho sự phát triển ngân hàng số...

Trong thời gian qua, hoạt động TTKDTM trong nền kinh tế chuyển biến theo chiều hướng tích cực, cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ TTKDTM, nhất là thanh toán điện tử, tiếp tục được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả; công tác đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống TTKDTM tiếp tục được chú trọng và tăng cường; các dịch vụ, phương tiện thanh toán điện tử được phát triển mạnh và đa dạng với nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, an toàn, tiện lợi, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Bên cạnh đó, công tác truyền thông được NHNN đặc biệt chú trọng, với việc phối hợp sản xuất các chương trình truyền hình, chương trình giáo dục tài chính như “Tiền khéo tiền khôn”, “Những đưa trẻ thông thái”... qua đó nâng cao kiến thức, giảm thiểu rủi ro cho khách hàng khi tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính ngân hàng, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng, thúc đẩy TTKDTM.

Có thể nói, với những kết quả trong điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng năm 2018, cùng các yếu tố vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát chặt chẽ, môi trường kinh doanh được cải thiện mà Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế uy tín nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, cải thiện hình ảnh trong mắt các nhà đầu tư quốc tế. Moody’s nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từ B1 lên Ba3 với triển vọng thay đổi từ ổn định sang tích cực vào ngày 11/8/2018. Fitch nâng xếp hạng nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ (IDR) của Việt Nam từ mức BB- lên mức BB với triển vọng ổn định.

Cơ hội – thách thức đối với điều hành CSTT năm 2019

Năm 2019, kinh tế thế giới dự kiến diễn biến khó lường với những thuận lợi và khó khăn đan xen. Kinh tế thế giới nhiều khả năng tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá của năm 2018, theo đó IMF (10/2018) dự báo kinh tế thế giới 2019 là 3,7%. Tuy nhiên, rủi ro có xu hướng tăng trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung chưa tìm được giải pháp, dự báo tăng trưởng của Mỹ và Trung Quốc là hai đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam bị điều chỉnh giảm; thương mại toàn cầu cũng được dự báo tăng chậm lại.1 Thị trường hàng hóa thế giới tiềm ẩn những diễn biến khó lường khi giá dầu biến động mạnh, giá lương thực thực phẩm thế giới dự báo tăng, lạm phát thế giới cũng được dự báo tăng trên các khu vực.2 Điều kiện tiền tệ trên thế giới dự kiến vẫn trong xu thế thắt chặt, trong đó Fed tiếp tục tăng lãi suất và ECB chấm dứt gói mua tài sản, kéo theo xu hướng tăng lãi suất tại nhiều nước nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Dòng vốn tiếp tục biến động phức tạp, căng thẳng thương mại giữa các nước lớn còn tiềm ẩn nhiều diễn biến khó lường, ảnh hưởng đến tâm lý đầu tư kinh doanh, gián đoạn các chuỗi cung ứng toàn cầu, tác động đến dòng chu chuyển thương mại và động lực cạnh tranh. Thị trường tài chính, tiền tệ thế giới chuyển sang điều kiện cân bằng mới “chặt chẽ” hơn giai đoạn trước đòi hỏi điều hành CSTT của NHNN năm 2019 cần được xác định phù hợp với bối cảnh mới nhằm đảm bảo sự ổn định hài hòa giữa kinh tế vĩ mô với các thị trường nội tệ, ngoại tệ.

Ở trong nước, nền kinh tế đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đối mặt với các khó khăn thách thức. Điểm thuận lợi lớn là tăng trưởng kinh tế vẫn tiếp tục đà hồi phục vững chắc trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định. Kỳ vọng vào lạm phát ở mức thấp được neo giữ ngày càng vững; rủi ro vĩ mô giảm mạnh. Niềm tin của nhà đầu tư đối với kinh tế trong nước được củng cố khi Chính phủ chỉ đạo sát sao, đẩy mạnh cải cách, phát triển kinh tế tư nhân, chú trọng tăng trưởng bền vững. Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung tiềm ẩn những rủi ro đối với hoạt động xuất khẩu nhưng hứa hẹn những cơ hội, cùng với việc Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2019, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ từ các cơ quan, doanh nghiệp trong nước để tận dụng cơ hội, mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu. Với nền tăng trưởng cao năm 2018, Quốc hội và Chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2019 ở mức khoảng 6,6-6,8% và đây vẫn là mức tăng trưởng cao so với các nước trong khu vực. Các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng năm 2019 của Việt Nam từ 6,5-7,0% gồm IMF (10/2018): 6,5%; ADB (9/2018): 6,8%; WB (7/2018): 6,8%; EIU (8/2018): 6,9%; ANZ (8/2018): 7,0%; Standard Chartered (10/2018): 6,9%.

Về kiểm soát lạm phát, có những yếu tố thuận lợi để kiểm soát lạm phát năm 2019 theo mục tiêu đặt ra là: (i) Kỳ vọng lạm phát ổn định và được neo quanh mức 4% do thành công của Chính phủ trong việc kiểm soát lạm phát những năm qua; (ii) Chính phủ điều hành sát sao giúp quan hệ cung cầu trong nền kinh tế đối với các hàng hóa quan trọng, thiết yếu được giữ ổn định, cân bằng; không có những cú sốc đột biến, không xảy ra tình trạng thiếu hàng, sốt giá; (iii) Các Bộ, ngành phối hợp chặt chẽ theo chỉ đạo của Chính phủ trong việc điều chỉnh các loại giá Nhà nước quản lý (điện, y tế, giáo dục), đảm bảo không gây tác động tiêu cực lên kỳ vọng lạm phát và kiểm soát lạm phát tổng thể theo mục tiêu đặt ra; (iv) Giá năng lượng, lương thực có khả năng ổn định hơn trong năm 2019 sau khi đã tăng mạnh trong năm 2018 do nguồn cung có chiều hướng cải thiện (IMF dự báo giá dầu năm 2019 giảm nhẹ 0,9% so với năm 2018; giá thực phẩm trong nước cũng có khả năng ổn định nhờ đẩy mạnh tái đàn chăn nuôi lợn trong năm 2018). Mặc dù vậy, diễn biến khó lường của giá dầu thế giới, giá lương thực thực phẩm trong nước, xu hướng tăng lạm phát trên thế giới, đặc biệt là việc điều chỉnh tăng thuế môi trường đối với các mặt hàng xăng, dầu, than sẽ tăng từ ngày 1/1/2019 cũng tạo ra thách thức đối với việc kiểm soát lạm phát.

Định hướng điều hành CSTT năm 2019 và chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

Trên cơ sở những thành công trong năm 2018, phân tích yếu tố thuận lợi và khó khăn trong năm 2019, NHNN tiếp tục định hướng điều hành chung là Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh và tăng trưởng. Tiếp tục điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt, phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường tiền tệ và yêu cầu quản lý; ổn định thị trường ngoại tệ; tăng trưởng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát việc cho vay bằng ngoại tệ; tăng dự trữ ngoại hối nhà nước khi có điều kiện thuận lợi.

Cụ thể: Về điều hành lãi suất, trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, NHNN tiếp tục thực hiện linh hoạt các giải pháp về lãi suất, kết hợp đồng bộ với các công cụ CSTT khác nhằm ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong điều hành tỷ giá, NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với tình hình thị trường tài chính, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ, sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp và phối hợp chặt chẽ, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ khác để ổn định thị trường ngoại tệ.

Đối với tín dụng, NHNN điều hành các giải pháp tín dụng nhằm kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của nền kinh tế. Tiếp tục tăng cường triển khai các giải pháp hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng có hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Kiên định kiểm soát cho vay bằng ngoại tệ, giảm dần và có lộ trình phù hợp.

Về định hướng điều hành nghiệp vụ thị trường mở: Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục theo dõi sát tình hình vốn khả dụng của các TCTD, diễn biến thị trường tiền tệ, ngoại hối để điều hành chủ động, linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở nhằm đảm bảo thanh khoản cho hệ thống, ổn định thị trường tiền tệ, góp phần kiểm soát tiền tệ, hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Về định hướng điều hành tái cấp vốn và dự trữ bắt buộc: Thực hiện tái cấp vốn cho TCTD với khối lượng, lãi suất và thời hạn hợp lý để hỗ trợ thanh khoản, cho vay theo các chương trình đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hỗ trợ cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Điều hành công cụ dự trữ bắt buộc đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ khác.

Trong công tác tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu, NHNN xác định mục tiêu: Tiếp tục triển khai và giám sát chặt chẽ việc thực hiện cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Đồng thời, kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng gắn với tăng cường xử lý nợ xấu theo nguyên tắc thị trường; hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các TCTD. Việc xử lý nợ xấu phải gắn với việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng của các TCTD; phát huy vai trò của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) trong việc xử lý nợ xấu để bảo đảm duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, bền vững (dưới 3% tổng dư nợ)…

Trong hoạt động thanh toán, NHNN tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách phát triển TTKDTM, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng được yêu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán của người dân; Triển khai có hiệu quả Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016, và triển khai Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với việc thu phí các dịch vụ công như điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 241/QĐ-TTg ngày 23/02/2018; Đẩy mạnh thanh toán thẻ qua các thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán (POS); áp dụng các công nghệ, phương thức thanh toán hiện đại như mã phản hồi nhanh (QR code), mã hóa thông tin thẻ, thanh toán di động, thanh toán phi tiếp xúc; Triển khai các mô hình thanh toán tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa gắn với việc xây dựng và triển khai Chiến lược Quốc gia về Tài chính Toàn diện tại Việt Nam; Thúc đẩy thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ...

Mới đây, ngày 8/8/2018, Chính phủ đã ban hành Quyết định số Quyết định 986/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đối với NHNN, chiến lược đạt ra mục tiêu hiện đại hóa NHNN Việt Nam theo hướng: Có mô hình tổ chức hợp lý và cơ chế vận hành đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có đầy đủ vị thế pháp lý và trách nhiệm giải trình; thực hiện mục tiêu ưu tiên là kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng bền vững; đảm bảo an toàn, lành mạnh hệ thống các TCTD, giữ vai trò chủ chốt bảo đảm ổn định tài chính; thực thi vai trò giám sát hệ thống thanh toán, là trung tâm thanh toán và quyết toán cho các hệ thống thanh toán và hệ thống giao dịch tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế. Chiến lược đặt mục tiêu tăng dần tính độc lập, chủ động và trách nhiệm giải trình của NHNN về mục tiêu điều hành CSTT, kiểm soát lạm phát ở mức phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững…

Còn đối với các TCTD, Chiến lược có đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 các ngân hàng thương mại (NHTM) cơ bản có mức vốn tự có theo chuẩn mực Basel II; có ít nhất từ 1 – 2 NHTM nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực Châu Á.Giai đoạn 2021 – 2025: Nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh, tăng sự minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế tốt trong quản trị và trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Phần đấu đến cuối năm 2025 có ít nhất từ 2-3 ngân hàng thương mại nằm trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á...

 

Phương Linh

 

 

 

 

 

 

 

   

 

1 Theo dự báo của IMF (10/2018), thương mại toàn cầu năm 2018-2019 lần lượt ở mức 4,2% và 4,0% (2017: 5,2%) - giảm 0,6 và 0,5 điểm phần trăm so với dự báo tháng 7/2018.

2 World Bank dự báo giá lương thực thực phẩm tăng 1,4% trong năm 2019 và duy trì tốc độ tăng tới 2025. IMF (10/2018) dự báo bình quân lạm phát tổng thể tại các nước phát triển sẽ tăng từ mức 1,7% năm 2017 lên 2% năm 2018 và 1,9% năm 2019; bình quân các nước mới nổi và đang phát triển tăng từ mức 4,3% năm 2017 lên 5,0% năm 2018 và 5,2% năm 2019.

1

 

  • aA
  • Categories:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
OTHER NEWS
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
10/2/26
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
2/2/26
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
5/1/28
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
10/1/27
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
7/1/27
ECB duy trì lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và bất ổn toàn cầu gia tăng
3/1/27
Thông tư số 77/2025/TT-NHNN: Tăng cường phòng vệ chủ động trước rủi ro công nghệ cao
2/1/27
WB: Việt Nam bứt phá mạnh mẽ về dịch vụ tài chính và sự linh hoạt môi trường kinh doanh
9/1/26
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
8/1/26
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
6/12/26
Showing 1 to 10 of 2043
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready