Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, các ngân hàng đẩy mạnh phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường ngân hàng. Trong đó, hoạt động thẻ ngày càng được thúc đẩy và được áp dụng rộng rãi.
* Tại Trung Quốc: Trong công tác quản lý hoạt động thẻ ngân hàng, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) đã ban hành bộ tiêu chuẩn đối với thẻ Chip, đồng thời quy định kế hoạch chuyển đổi từu thẻ từ sang thẻ Chip. Ngoài ra, PBOC cũng phối hợp với Bộ Công an để bảo đảm an toàn, an ninh thanh toán thẻ, đưa ra các quy định cụ thể như: ATM thuộc địa phương nào thì công an địa phương đó phối hợp với các tổ chức cung ứng ATM/POS bảo vệ. Việc lắp đặt ATM phải có ý kiến của công an địa phương về địa điểm để đảm bảo an toàn hoạt động... Xây dựng được bộ tiêu chuẩn đối với các máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động thanh toán thẻ, có đơn vị kiểm định ATM, POS trước khi đưa vào sử dụng;
* Tại Hàn Quốc: Nhờ nền kinh tế và trình độ công nghệ phát triển nên Chính phủ đã tạo dựng được một hành lang pháp lý quản lý thông tin cá nhân, thông tin khách hàng rất minh bạch và khoa học nên việc phê duyệt phát hành thẻ tín dụng cũng như các khoản vay cá nhân khác tại thị trường Hàn Quốc rất thuận lợi. Trung tâm thông tin tín dụng của Hàn Quốc (Korea Credit Bureau) được thành lập từ năm 2002 để cung cấp các dữ liệu cho các ngân hàng và tổ chức phát hành thẻ. Bên cạnh đó, Hàn Quốc cũng đã phát triển được hệ thống thông tin cá nhân điện tử đầy đủ, chính xác, được cập nhật liên tục, các tổ chức phát hành thẻ có thể truy cập, lấy thông tin để đánh giá và cấp tín dụng cho khách hàng. Ngoài ra, tổ chức phát hành thẻ cũng có thể được truy cập hệ thống thông tin dữ liệu xuất nhập cảnh để tra cứu hoạt động xuất nhập cảnh của chủ thẻ, qua đó phát hiện và xử lý các giao dịch giả mạo phát sinh, hạn chế rủi ro trong hoạt động thẻ.
* Tại Nhật Bản: Trung tâm hệ thống thông tin ngành tài chính Nhật Bản (FISC) đưa ra quy trình quản lý hoạt động thẻ từ khâu phát hành, lưu trữ đến giao nhận thẻ và giám sát các giao dịch trên tài khoản thẻ. Một số khâu của quá trình quản lý thẻ bao gồm: (i) Tuân thủ đầy đủ quy trình về phát hành, lưu trữ, hủy thẻ; (ii) Chỉ định một người chịu trách nhiệm và một nhân viên phụ trách phát hành thẻ; (iii) Khi số định danh cá nhân được in trên thẻ phát hành, nhân viên ngân hàng phải quản lý thẻ được phát hành và các thông tin trên thẻ một cách nghiêm ngặt; (iv) Sau khi phát hành thẻ, ngân hàng cần kiểm tra các thông tin trên thẻ, trường hợp khi phát hành thẻ yêu cầu đăng ký số định danh cá nhân, ngân hàng cần tránh để rò rỉ thông tin số định danh cá nhân của khách hàng; (v) Lưu trữ thẻ đúng cách ( đối với các thẻ không sử dụng, chờ người nhận, chờ bị hủy) trong két hoặc tủ có khóa; lập và lưu danh sách các thẻ không sử dụng; (vi) Việc giao thẻ cho khách hàng phải được thực hiện qua thư hoặc qua cổng thông tin thích hợp khác để có bằng chứng về việc gửi thẻ; hồ sơ gửi phải được ghi lại để kiểm soát; (vii) Đối với các thẻ không sử dụng được do lỗi trong quá trình sản xuất hoặc thay đổi thiết kế và đối với các thẻ được phát hành từ lâu hoặc đối với các thẻ đã bị đóng tài khoản, cần xây dựng quy trình hủy thẻ.
Ngoài việc xây dựng quy trình chặt chẽ trong quản lý thẻ, FISC cũng đề cao công tác cảnh báo tới khách hàng về rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sử dụng thẻ, từ đó giúp khách chủ động ứng phó với những rủi ro có thể xảy ra khi sử dụng thẻ.
Đối với các ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ, FISC yêu cầu thiết lập và duy trì các quy trình ứng phó thích hợp trong trường hợp có sự cố hoặc thảm họa. Cuối cùng, cần phân định rõ trách nhiệm của các bên tham gia khi xảy ra lỗi trong quá trình hoạt động thẻ.
Võ Hương – Cục II, TTGSNH