Ngày 28/01/2022, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) công bố thống kê hoạt động ngân hàng qua biên giới và chỉ số thanh khoản tính đến cuối quý III/2021.
Trong quý III/2021, trái quyền ngân hàng qua biên giới tăng 228 tỷ USD so với quý trước, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trái quyển của các định chế tài chính phi ngân hàng chiếm trên 50% mức tăng này. Các định chế phi ngân hàng tại Mỹ tăng lượng vốn cho các chi nhánh tại Mỹ và mở rộng trái quyền đối với khu vực chính thức bằng cách tăng cường nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ và dự trữ Tại Ngân hàng Trung ương Mỹ (Fed). Trái quyền ngân hàng qua biên giới tại các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs) giảm nhẹ so với quý trước, do dòng vốn vào Trung Quốc giảm. Trong khi đó, trái quyền đối với Mỹ Latinh, châu Phi và Trung Đông có dấu hiệu tăng nhẹ. Về chỉ số thanh khoản toàn cầu (GLIs), tín dụng ngoại tệ dưới dạng USD tăng mạnh tại EMDEs do các ngân hàng chiến lược toàn cầu mở rộng cho vay. Lần đầu tiên kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, tín dụng ngoại tệ dưới dạng USD và EUR vượt tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nước.
Trái quyền qua biên giới tăng, nhất là tại Mỹ
Thống kê ngân hàng trong nước (LBS) của BIS cho thấy, trái quyền qua biên giới của các ngân hàng chiến lược toàn cầu tăng 228 tỷ USD lên 35 nghìn tỷ USD trong quý III/2021, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước. Trên 50% mức tăng này là trái quyền của các định chế tài chính phi ngân hàng (NBFIs), với mức tăng 119 tỷ USD. Trái quyền đối với những ngân hàng khác (ngoài hệ thống) và doanh nghiệp phi tài chính cũng mở rộng, với mức tăng lần lượt 71 tỷ USD và 55 tỷ USD. Trong khi đó, trái quyền nội bộ giảm 4 tỷ USD.
Trái quyền EUR giảm 76 tỷ USD, do trái quyển nội bộ giảm tại các quốc gia hàng đầu châu Âu. Trái quyền EUR đối với những khu vực khác tăng, chủ yếu là trái quyền đối với NBFIs và những ngân hàng khác. Trong khi đó, trái quyền dưới dạng USD tăng tới 293 tỷ USD, chủ yếu là trái quyền nội bộ (tăng 128 tỷ USD) và cho vay bên ngoài khu vực tài chính (tăng 83 tỷ USD), và NBFIs (tăng 74 tỷ USD).
Phần lớn mức tăng trên đây là cho vay tại Mỹ (tăng 268 tỷ USD, và tăng 9% so với cùng kỳ năm trước). Trong đó, trái quyền nội bộ tại Mỹ tăng 143 tỷ USD) và các ngân hàng bên ngoài nước Mỹ giót vốn cho các chi nhánh đang hoạt động tại Mỹ. Thống kê ngân hàng hợp nhất (CBS) của BIS cho thấy, trái quyền của các ngân hàng bên ngoài nước Mỹ đối với khu vực chính thức tại Mỹ tăng 215 tỷ USD lên 2,7 nghìn tỷ USD, bao gồm cả dự trữ tại Fed.
Đến cuối quý III/2021, trái quyền đối với khu vực chính thức tại Mỹ chiếm 36% mức tăng trái quyền đối với quốc gia này, tăng cao so với tỷ trọng 31% vào cuối năm 2019. Trong số này, một vài ngân hàng chủ chốt mở rộng trái quyền hợp nhất đối với khu vực chính thức tại Mỹ. Các ngân hàng Mỹ cũng ghi nhận kết quả mở rộng tương tự, với giá trị trái quyền đối với khu vực chính thức lên tới 4,6 nghìn tỷ USD, tăng 67% so với cuối năm 2019. Xu hướng này gia tăng, khi Fed cắt giảm chương trình mua trái phiếu.
Trái quyền đối với EMDEs giảm, do dòng vốn vào Trung Quốc giảm
Trong quý III/2021, trái quyền ngân hàng đối với EMDEs giảm nhẹ 7 tỷ USD so với quý trước, nhưng vẫn tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, nhờ trái quyền đối với châu Á - Thái Bình Dương, châu Phi, và Trung Đông (cùng tăng 5% so với cùng kỳ năm trước). Trái lại, tín dụng tại Mỹ Latinh và châu Âu lần lượt giảm 4% và 1% so với cùng kỳ năm trước.
Trái quyền đối với EMDEs giảm trong quý III là do tín dụng tại châu Á - Thái Bình Dương giảm 23 tỷ U. Cụ thể là, trái quyền đối châu Á - Thái Bình Dương giảm 23 tỷ USD, và đối với Trung Quốc giảm 26 tỷ USD. Các ngân hàng tại Hồng Kông và Macao báo cáo mức cắt giảm rất lớn (-17 tỷ USD) tại Trung Quốc, sau khi tăng 46 tỷ USD trong hai quý trước đó tại đại lục này. Tại những quốc gia khác trong khu vực, trái quyền đối với Đài Bắc giảm 6 tỷ USD, trong khi tăng 5 tỷ USD đối với Hàn Quốc và 4 tỷ USD đối với Ấn Độ.
Trái lại, trái quyền đối với Mỹ Latinh tăng 12 tỷ USD trong quý III/2021, lần đầu tiên kể từ quý I/2020, với mức tăng đáng kể tại Brazil (7 tỷ USD), Chilê (4 tỷ USD), và Côlômbia (4 tỷ USD). Trong số này, các ngân hàng tại Mỹ, Luxembourg, và Panama là chủ nợ chính.
Trái quyền đối với châu Phi và Trung Đông tiếp tục tăng 6 tỷ USD, mặc dù thấp hơn so với trước đây, trong khi giảm 2 tỷ USD tại các nước mới nổi châu Âu. Các ngân hàng báo cáo tăng trái quyền đối với Eswatini, Liberia, và Arập Xêút (cùng tăng 2 tỷ USD), nhưng giảm tại CH Nam Phi và Qatar (cùng giảm 2 tỷ USD). Đối với Nam Phi, đây là quý thứ 10 ghi nhận xu hướng giảm liên tiếp. Trong số các nước mới nổi châu Âu, trái quyền đối với Croatia và Ba Lan giảm tổng cộng 3 tỷ USD.
Chỉ số thanh khoản toàn cầu (GLIs) tính đến cuối quý III/2021
Chỉ số này bao gồm cho vay khu vực phi tài chính và đầu tư trên thị trường trái phiếu, tập trung vào tín dụng ngoại tệ mạnh đối với người không cư trú.
Trong quý III/2021, tín dụng ngoại tệ dưới dạng USD, EUR, JPY chỉ tăng nhẹ. Trong đó, dư nợ cho vay USD bên ngoài nước Mỹ đạt 13,4 nghìn tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Dư nợ EUR bên ngoài khu vực đồng euro lên mức 3,7 nghìn tỷ EUR (4,3 nghìn tỷ USD), tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Trái lại, dư nợ JPY bên ngoài Nhật Bản tiếp tục giảm xuống 46 nghìn tỷ yên (0,4 nghìn tỷ USD), giảm 6% so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý III/2021, tín dụng ngân hàng dưới dạng USD và EUR tăng trở lại, trong khi cho vay trên thị trường trái phiếu dưới dạng hai đồng tiền này tiếp tục mở rộng. Trong đó, tín dụng ngân hàng đối với người không cư trú tăng tốc, lên lần lượt 5% và 2% so với cùng kỳ năm trước. Trong cùng thời gian, trái phiếu phát hành dưới dạng USD và EUR tăng mạnh (lần lượt 7% và 12% so với cùng kỳ năm trước). Trái lại, trái phiếu phát hành dưới dạng JPY tiếp tục giảm 2% so với cùng kỳ năm trước, nhưng vẫn thấp hơn mức sụt giảm tín dụng ngân hàng (-9%).
Lần đầu tiên kể từ đầu năm 2020, cho vay USD và EUR vượt tốc độ cho vay trong nước dưới dạng hai đồng tiền này. Tín dụng USD và EUR đối với người không cư trú tăng tốc, trong khi tín dụng JPY vẫn yếu ớt, kể cả đối với người không cư trú và công dân Nhật Bản.
Tín dụng ngoại tệ vào EMDEs tiếp tục tăng mạnh. Trong đó, dư nợ USD lên đến 4,2 nghìn tỷ USD, dư nợ EUR đạt 0,8 nghìn tỷ EUR, phản ánh xu hướng mở rộng tại tất cả các khu vực, ngoại trừ tín dụng EUR tại Mỹ Latinh (giảm 4% so với cùng kỳ năm trước). Tín dụng dưới dạng JPY đối với EMDEs tiếp tục giảm, đưa tổng dư nợ xuống 7 nghìn tỷ JPY (62 tỷ USD).
So với các nước phát triển, thị trường trái phiếu các EMDE tiếp tục lệ thuộc vào USD. Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, dư nợ chứng khoán phát hành dưới dạng USD tăng dần và đã chiếm 50% nợ chứng khoán. Trước đây, tỷ trọng này đạt được vào năm 2003, khi các ngân hàng nước ngoài mở rộng cho vay và vượt xa nguồn vốn trái phiếu trong nước, và xu hướng này mở rộng tại tất cả EMDEs. Trong đó, Mỹ Latinh và Caribê lệ thuộc nhiều nhất (chiếm gần 69% tín dụng USD trên thị trường trái phiếu). Tại các EMDE châu Âu, tín dụng USD chiếm 51% (214 tỷ USD) trong tổng dư nợ cho vay trên thị trường trái phiếu. Tại châu Phi và Trung Đông, tài chính trái phiếu ghi nhận xu hướng tăng liên tiếp từ năm 2016, và đã chiếm gần 50% tổng dư nợ. Tại EMDEs châu Á, tín dụng ngân hàng dưới dạng USD chiếm 63% tổng dư nợ USD. Tuy nhiên, tỷ trọng trái phiếu và dư nợ tiếp tục tăng, với tổng dư nợ lên đến 588 tỷ USD, chiếm 37% dư nợ USD.
Hoàng Thế Thỏa (Nguồn: BIS tháng 01/2022)