Sau 6 tháng với các chỉ số kinh tế tích cực, nhiều tổ chức trong và ngoài nước điều chỉnh nâng triển vọng kinh tế trong năm 2022, đồng thời cảnh báo những rủi ro lớn phía trước.
Những áp lực phía sau kỳ vọng tăng trưởng cao
Đỗ Lê
Sau 6 tháng với các chỉ số kinh tế tích cực, nhiều tổ chức trong và ngoài nước điều chỉnh nâng triển vọng kinh tế trong năm 2022, đồng thời cảnh báo những rủi ro lớn phía trước.
Sẽ không bất ngờ nếu tăng trưởng GDP đạt 7%
Theo nhận định của Bộ phận Nghiên cứu toàn cầu HSBC trong báo cáo Vietnam At A Glance tháng 7/2022 vừa công bố ngày 6/7, với GDP quý II tăng trưởng ngoạn mục và đà phục hồi trên diện rộng đang diễn ra, tăng trưởng có thể đạt 8,7% trong quý III và 6,1% trong quý IV, qua đó đưa tăng trưởng GDP cả năm 2022 đạt mức 6,9% (dự báo trước đó của HSBC là 6,6%) và đây là mức tăng trưởng có khả năng đứng đầu toàn khu vực ASEAN trong năm nay.
TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV cũng dự báo, nền kinh tế sẽ tiếp tục đà phục hồi trong nửa cuối năm nay. Theo đó, ở kịch bản cơ sở, tăng trưởng GDP cả năm 2022 sẽ đạt trong khoảng 6,8-7,1% (tăng 1% so với dự báo đưa ra hồi tháng 4/2022). Ở kịch bản tích cực, tăng trưởng thậm chí có thể đạt 7,3-7,6%. Còn trong kịch bản tiêu cực, nếu rủi ro đều gia tăng trong khi Chương trình phục hồi chậm triển khai và các động lực tăng trưởng không được thúc đẩy mạnh mẽ, kinh tế năm 2022 dự báo chỉ tăng trưởng khoảng 6,3-6,6%.
Là tổ chức có những dự báo thận trọng nhất, nhưng Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong Báo cáo tham vấn Điều IV về Việt Nam vừa công bố ngày 5/7 nhận định, đà phục hồi kinh tế đang diễn ra ở Việt Nam. Ban Giám đốc Điều hành IMF dự báo, tăng trưởng GDP năm 2022 sẽ đạt 6% và tăng lên 7,2% năm 2023. Một điểm cần lưu ý là hoạt động tham vấn trước khi báo cáo Điều IV chính thức công bố được tiến hành vào giai đoạn đầu tháng 4/2022 - thời điểm mà thị trường lao động phục hồi còn chậm; tiêu dùng trong nước vẫn yếu và khu vực dịch vụ cũng chưa cho thấy sự phục hồi ấn tượng như đã thấy trong quý II vừa qua. Nói cách khác, nếu kịp cập nhật các diễn biến mới trong quý II thì rất có thể các dự báo của IMF còn khả quan hơn nhiều.
Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng tích cực của 6 tháng đầu năm, đặc biệt là quý II thì vẫn còn đó những rủi ro, thách thức rất lớn. “Khi phân tích kỹ hơn, một số thông điệp ẩn khác cũng đồng thời xuất hiện. Dù cho tăng trưởng toàn phần rất khả quan, cuộc khủng hoảng năng lượng đã bắt đầu ảnh hưởng đến tăng trưởng của Việt Nam”, Bộ phận Nghiên cứu toàn cầu HSBC cho biết.
Lấy ví dụ trong lĩnh vực du lịch, các chuyên gia HSBC cho rằng việc dỡ bỏ những hạn chế quan trọng trong nước và đối với quốc tế vào giữa tháng 3 đã giúp các lĩnh vực liên quan đến du lịch, đặc biệt là vận chuyển và lưu trú nhanh chóng khởi sắc trở lại. Tình trạng đông đúc, thậm chí tắc nghẽn ở các sân bay là minh chứng rõ nét cho điều này. Việt Nam đã vượt mức mục tiêu 60 triệu khách du lịch nội địa do Tổng Cục Du lịch Việt Nam đặt ra. Tuy nhiên, dù lượng khách nội địa cao, doanh thu du lịch chỉ đạt 11 tỷ USD, tương đương 66% mục tiêu. Trong khi đó với khách du lịch quốc tế, mặc dù hết quý II đã đón 0,6 triệu lượt, nhưng mục tiêu thu hút được 5 triệu lượt khách nước ngoài đến Việt Nam trong năm nay sẽ không dễ dàng bởi các dữ liệu trước đây (trước đại dịch Covid) cho thấy, khoảng 80% khách du lịch nước ngoài đến từ châu Á, với đại đa số là từ Trung Quốc đại lục, nhưng nguồn khách này đến nay chưa có nhiều cải thiện.
Hóa giải rủi ro, đẩy mạnh phục hồi
Bức tranh tăng trưởng tổng thể là tích cực, tuy nhiên theo HSBC ảnh hưởng từ giá năng lượng cao cũng đang ngày càng rõ ràng hơn. Một mặt, giá cả hàng hóa leo thang đã dẫn đến thâm hụt thương mại trong quý II/2022 và có thể khiến tình hình tài khoản vãng lai vốn không được khả quan sẽ còn trầm trọng hơn. Mặt khác, dù cho tiêu dùng gia đình đã phục hồi vững chắc, nhưng việc giá xăng dầu cao, giá lương thực thực phẩm cũng tăng sẽ có thể khiến túi tiền của người dân vơi đi nhiều, làm giảm tốc độ hồi phục có được thời gian qua. “Chúng tôi dự báo, lạm phát năm 2022 sẽ ở mức trung bình 3,5% - dù thấp hơn mức mục tiêu 4% - nhưng áp lực giá sẽ mạnh mẽ hơn trong nửa cuối năm 2022. Dự báo lạm phát có thể sẽ vượt qua mức 4% kể từ quý IV/2022 đến quý II/2023”, báo cáo của HSBC nêu với các dự báo cụ thể: CPI quý III này sẽ ở mức 3,6%; quý IV/2022 ở mức 5,6%, sau đó giảm dần về các mức 5,3% và 4,2% tương ứng vào quý I và quý II/2023.
Cùng quan điểm, TS. Cấn Văn Lực dự báo CPI 6 tháng cuối năm sẽ cao hơn nửa đầu năm và cả năm sẽ ở mức 3,8-4,2%. “Lạm phát có thể cao hơn mục tiêu 4%, song đây là mức chấp nhận được trong bối cảnh lạm phát toàn cầu tăng mạnh và Việt Nam cần ưu tiên phục hồi”, TS. Lực nhận định.
Chuyên gia này cũng chỉ ra bên cạnh áp lực lạm phát, còn một loạt khó khăn thách thức khác đang đặt ra như nguy cơ dịch Covid-19 tái bùng phát, khủng hoảng tại Ukraine phức tạp hơn, nguy cơ khủng hoảng năng lượng và lương thực gia tăng… Điều đó khiến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trở nên khó khăn hơn (sức cầu hàng hóa tiêu dùng của các thị trường giảm, nguy cơ đứt gãy nguồn cung có thể còn tiếp tục); một số cấu phần của Chương trình phục hồi triển khai còn chậm; giải ngân đầu tư công có cải thiện, song vẫn còn chậm, chưa đạt kỳ vọng.
Bởi vậy, để đạt được kịch bản cơ sở đã đưa ra, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV nêu ra 7 kiến nghị cần tập trung triển khai trong nửa cuối năm. Trong đó nhấn mạnh việc cần nhất quán thực hiện các mục tiêu, giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ cũng như thực thi đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả và nhanh chóng các nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến Chương trình phục hồi. Đồng thời, quyết liệt, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, nhất là đối với các dự án trọng điểm, có tính lan tỏa cao…
Đặc biệt, cần tiếp tục kiên trì mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, với chính sách tài khóa (CSTK) chặt chẽ, thích ứng và chính sách tiền tệ (CSTT) chủ động, linh hoạt và nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách, nhất là giữa CSTK, CSTT và chính sách vĩ mô khác.
Trong Báo cáo tham vấn Điều IV vừa ban hành, Ban Giám đốc Điều hành IMF cũng nhấn mạnh về sự cần thiết trong phối hợp giữa CSTK và CSTT. “Sự kết hợp chính sách nên duy trì khả năng thích ứng, điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với các diễn biến kinh tế, với CSTK đóng vai trò là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại rủi ro tăng trưởng đi xuống do áp lực lạm phát gia tăng. Các biện pháp tài khóa có mục tiêu hơn có thể giúp giảm bớt những đánh đổi mà CSTT phải đối mặt nếu xảy ra rủi ro “đình lạm”, Ban Giám đốc Điều hành IMF khuyến nghị, đồng thời hoan nghênh việc Chính phủ đang triển khai Chương trình phục hồi, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định rõ mục tiêu, hiệu quả chi tiêu, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiên định thực hiện là những yếu tố cốt lõi.
Với CSTT, báo cáo của IMF nhấn mạnh sự linh hoạt và cảnh giác với rủi ro lạm phát là những yếu tố cần ưu tiên hiện nay. Bên cạnh đó, việc giải quyết các khoản vay có vấn đề, bình thường hóa các quy định về giãn, hoãn nợ một cách kịp thời và giám sát chặt chẽ các rủi ro trong lĩnh vực bất động sản cũng rất quan trọng.