Trong năm năm vừa qua, số lượng thẻ ATM tăng trưởng vượt xa số lượng máy ATM, dẫn đến tỷ lệ thẻ/máy ATM đăng gần gấp đôi.Các dịp Lễ, Tết là giai đoạn tất bật và căng thẳng của các ngân hàng để chuẩn bị tiền mặt đáp ứng nhu cầu rút tiền từ máy ATM nhưng vẫn không đáp ứng được hết nhu cầu của người dân.Các ngân hàng nên chọn giải pháp nào để giải bài toán này?
Trong năm năm vừa qua, số lượng thẻ ATM tăng trưởng vượt xa số lượng máy ATM, dẫn đến tỷ lệ thẻ/máy ATM đăng gần gấp đôi.Các dịp Lễ, Tết là giai đoạn tất bật và căng thẳng của các ngân hàng để chuẩn bị tiền mặt đáp ứng nhu cầu rút tiền từ máy ATM nhưng vẫn không đáp ứng được hết nhu cầu của người dân.Các ngân hàng nên chọn giải pháp nào để giải bài toán này?
Thẻ ATM: cần một góc nhìn mới
Thẻ ATM chỉ là phương tiện để ngân hàng xác định đúng chủ thẻ khi giao dịch trên các thiết bị tự động, bao gồm ATM (máy giao dịch tự động), POS (máy thanh toán thẻ), kiok banking (máy giao dịch thanh toán), v.v..Tuy nhiên, do lịch sử ra đời gắn liền với mục đích rút tiền từ máy ATM nên suy nghĩ “thẻ ATM chỉ dùng để rút tiền” vẫn là suy nghĩ phổ biến. Và nếu giới hạn suy nghĩ thẻ ATM chỉ giao dịch trên máy ATM, ta sẽ thấy một sự bế tắc khi mà tốc độ phát triển thẻ ATM quá nhanh so với số lượng máy ATM. Theo báo cáo của Hội thẻ ngân hàng Việt Nam, tính đến tháng 10/2014, trên thị trường Việt Namđã có 50 tổ chức phát hành thẻ với số lượng trên 77,3 triệu thẻ đã được phát hành, gần 15.900 máy ATM và trên 164.000 POS/EDC đã được lắp đặt và sử dụng. Tính ra, mỗi máy ATM đang phục vụ cho khoảng 5000 thẻ ATM. So với năm 2012, theo thống kê của Hội thẻ ngân hàng Việt Nam, tỷ lệ số thẻ/ATM ở Việt Nam là 2.800 thẻ/ATM, trong cùng thời kỳ này, so với các nước lân cận như Thái Lan, tỷ lệ này là 532.
Theo thống kê của Hội thẻ ngân hàng cách đây 5 năm, tính đến cuối năm 2009, số lượng ATM của toàn thị trường là 9.723 ATM, nghĩa là hơn 2/3 ATM hiện nay có trên 5 năm sử dụng nên nguy cơ hỏng hóc sẽ cao hơn. Tuy nhiên, cũng cần một sự thông cảm cho các ngân hàng bởi chi phí đầu tư và vận hành ATM là khá lớn, gồm chi phí mua máy móc, bảo trì hệ thống, tiếp quỹ, thuê mặt bằng đặt máy.. Thêm vào đó, những năm qua, ngành ngân hàng gặp nhiều khó khăn nên mức độ quan tâm đầu tư vào máy ATM cũng giảm đáng kể.Vậy nên, giải bài toán rút tiền từ ATM sẽ không thể giải quyết được nếu chỉ trông chờ các ngân hàng đầu tư vào hệ thống máy ATM.
Rút tiền từ máy POS: tại sao không?
Giải pháp “chữa cháy” cho ATM trong mùa cuối nămđã và đang được một số ngân hàng áp dụng đối với các đơn vị chi lương lớn là cử nhân viênngân hàng đem tiền mặt đến đơn vị cần chi lương,sử dụng máy POS để cà thẻ ATM và đưa tiền mặt cho người rút tiền. Giải pháp này khá phiền toái cho chủ thẻ vì mất nhiều thời gian xếp hàng chờ.
Trong khi đó, mạng lưới bán lẻ hiện đại ở Việt Nam đang có sự thay đổi nhanh chóng.Theo Bộ Công Thương, tính đến hết năm 2013, Việt Nam có khoản 700 siêu thị, 125 trung tâm thương mại. Và đến năm 2020, cả nước sẽ có khoảng 1.200 - 1.300 siêu thị, 180 trung tâm thương mại. Theo thống kê, trong giai đoạn tháng 1 đến hết tháng 9 năm 2014, mỗi tháng có khoảng 12 siêu thị/cửa hàng tiện lợi mới được khai trương với rất nhiều tên tuổi lớn: Satrafoods, Coopfood, Guardian, Big C, Lotte, New Chợ... Các hệ thống bán lẻ này đều trang bị máy thanh toán thẻ để đem lại tiện ích cho người tiêu dùng và đã dần tạo được thói quen thanh toán thẻ của một bộ phận lớn chủ thẻ.
Một chức năng đáng kể của máy thanh toán thẻ (POS) chưa được phổ biến ở Việt Nam là chức năng ứng tiền mặt.Giao dịch ứng tiền mặt tại các điểm bán lẻ không phải là loại hình giao dịch mới trên thế giới. Đi sang nhiều nước phát triển, ta sẽ thấy loại hình dịch vụ này khá phổ biến, đặc biệt tại các đô thị có giá cả mặt bằng đắt đỏ. Khi cần tiền mặt, chủ thẻ có thể đến các điểm chấp nhận thẻ như siêu thị, tiệm thuốc tây hay quán café, quẹt thẻ trên máy POS và thu ngân sẽ ứng tiền mặt cho chủ thẻ sau khi trừ tiền từ tài khoản ngân hàng của chủ thẻ. Điểm lợi cho điểm chấp nhận thẻ là giảm lượng tiền mặt tại két tiền và được hưởng phí cung cấp dịch vụ ứng tiền mặt.Với chủ thẻ, họ có sự tiện lợi trong việc rút tiền mặt hơn so với việc đi tìm máy ATM. Về phía nhà nước, tiện ích này sẽ tạo thói quen cho chủ thẻ ATM sử dụng thẻ nhiều hơn trên máy POS, qua đó, giảm dần việc sử dụng tiền mặt.
Với mạng lưới bán lẻ,ta cũng không giới hạn ở các siêu thị, trung tâm thương mại mà còn là mạng lưới cây xăng, mạng lưới bưu điện, mạng lưới cửa hiệu, mạng lưới xe taxi, tiệm thuốc tây, các quán cafe... những nơi thường xuyên có nhiều tiền mặt. Nên cơ hội để cung cấp dịch vụ ứng tiền cho chủ thẻ qua máy POS là rất lớn. Chỉ cần mỗi điểm giao dịch này có sẵn tiền mặt và chấp nhận tham gia cung ứng dịch vụ rút tiền thì bài toán quá tải ở thẻ ATM có thể được giải quyết nhanh chóng mà không tốn thêm bất cứ chi phí đầu tư vào ATM. Quy trình rút tiền từ POS rất đơn giản và có thể phổ biến nhanh chóng. Các vấn đề rủi ro trong quá trình, tôi tin là hoàn toàn giám sát được bằng nhiều biện pháp kỹ thuật hỗ trợ: nhắn tin báo biến động số dư, camera ghi hình giao dịch,..
Về mặt công nghệ, sự phát triển của công nghệ POS không dây (kết nối qua GSM hoặc 3G/Wifi) đã cho phép việc giao dịch trở nên tiện dụng.Thậm chí, thế hệ POS di động (mPOS) chỉ là một thiết bị đọc thẻ có thể gắn với điện thoại thông minh (smart phone) để thực hiện giao dịch dễ dàng.
Theo thống kê của Hiệp hội thẻ ngân hàng, tính đến cuối năm 2009, có khoảng 36 ngàn POS thì đến tháng 10/2014, thị trường đang có khoảng 160 ngàn POS, tăng gần 4 lần trong vòng 5 năm. Theo mục tiêu của ngân hàng nhà nước, đến cuối năm 2015, cả nước sẽ có 250.000 điểm chấp nhận thẻ.Sự phát triển của công nghệ POS không dây (sử dụng mạng 3G hoặc GPRS) và POS di động (mPOS) sẽ giúp mục tiêu 250.000 POS có thể đạt được. Và mạng lưới POS này sẽ đóng vai trò rất quan trọng để giúp câu chuyện rút tiền mặt trở nên đơn giản cho cả chủ thẻ và Ngân hàng.
Tóm lại, việc giải bài toán rút tiền bằng thẻ ATM hoàn toàn có thể giải được bằng công nghệ và tính sẵn sàng của mạng lưới bán lẻ. Vấn đề còn lại là sự chủ động và quyết tâm của các ngân hàng!
(Cnth theo Tạp chí thnh)