ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI Số: 894/BC-UBTVQH13 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 08 tháng 6 năm 2015 |
BÁO CÁO
Kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị
của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII
Ủy ban thường vụ Quốc hội trân trọng báo cáo Quốc hội kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 8 của Quốc hội, như sau:
Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, cử tri cả nước đã gửi đến Quốc hội 2.530 kiến nghị, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo tổng hợp, phân loại, xử lý để chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết 2.108 kiến nghị1. Nội dung kiến nghị đề cập đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó, tập trung vào các vấn đề như: rà soát quy hoạch nhà máy thuỷ điện và an toàn đập thủy điện, thuỷ lợi; cung cấp điện cho nông thôn, hải đảo, miền núi, minh bạch giá điện; giải quyết khó khăn trong sản xuất và đời sống của người dân tái định cư các công trình thủy điện; tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp và ngư dân việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng; xử lý trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc nợ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý hàng nhập lậu, hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng; thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, hỗ trợ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ nông sản và ưu đãi cho doanh nghiệp liên kết với nông dân để hợp tác phát triển; giải quyết khó khăn trong sản xuất và đời sống của ngư dân; đầu tư xây dựng, sửa chữa hạ tầng giao thông đường bộ, xử lý vi phạm an toàn giao thông; quản lý khai thác tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường; hoàn thiện chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; chính sách đối với người có công; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, bảo hiểm y tế; tăng cường đấu tranh, phòng chống tham nhũng, lãng phí nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài…
I. KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT, TRẢ LỜI CỦA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN
1. Kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền các cơ quan của Quốc hội
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội đã nghiên cứu, tiếp thu, giải quyết, trả lời 123 kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 8, trong đó, đã tập trung vào việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật; hoạt động giám sát và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội2.
- Về xây dựng pháp luật: tiếp thu kiến nghị của cử tri về xây dựng luật, pháp lệnh, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện 18 luật, 01 nghị quyết xem xét, thông qua và 12 dự án luật cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội, Quốc hội đã nghiên cứu để có những quy định mới hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu của thực tế cuộc sống. Đây là những văn bản pháp luật quan trọng nhằm cụ thể Hiến pháp năm 2013, hoàn thiện thể chế kinh tế, tổ chức bộ máy nhà nước, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế… mà cử tri và nhân dân cả nước quan tâm, kiến nghị. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật, đã quan tâm lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp, các nhà khoa học, hoạt động thực tiễn, các đối tượng chịu sự tác động của luật, chất lượng xây dựng luật được nâng lên…
- Về hoạt động giám sát: tiếp thu kiến nghị cử tri, Quốc hội đã tiến hành giám sát tối cao chuyên đề thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế trong lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng theo Nghị quyết của Quốc hội; xem xét Báo cáo việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn, Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 7; tiến hành chất vấn Thủ tướng Chính phủ, 4 vị Bộ trưởng và đã ra Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 8, yêu cầu các thành viên Chính phủ thực hiện có kết quả những cam kết, những điều đã hứa trước Quốc hội và cử tri cả nước; đồng thời yêu cầu các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, các ngành, các cấp tiếp tục có giải pháp tích cực giải quyết các kiến nghị cử tri gửi đến kỳ họp thứ 8.
Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đã xem xét các báo cáo của Chính phủ kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 và 4 năm 2011-2014; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015. Tổ chức giám sát chuyên đề “Kết quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ khi Việt Nam là thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO)” giám sát “Về tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật” “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh, giai đoạn 2004-2014” và “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về kết hợp phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn chiến lược (trọng tâm là các địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ)” tổ chức chất vấn đối với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.
Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đã tổ chức hoạt động giám sát chuyên đề về lĩnh vực thuộc Hội đồng, Ủy ban phụ trách; tiến hành tổ chức các phiên giải trình đối với một số Bộ trưởng, Trưởng ngành về một số nội dung nổi lên trong việc thi hành pháp luật mà cử tri quan tâm như: Phiên giải trình của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về tái cơ cấu ngành nông nghiệp: nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam. Các hoạt động giám sát đã được đẩy mạnh từ khâu chuẩn bị lựa chọn nội dung đến tổ chức tiến hành các hoạt động giám sát; nội dung kiến nghị thông qua hoạt động giám sát rõ ràng, cụ thể hơn để yêu cầu cơ quan chịu sự giám sát thực hiện và tổ chức giám sát việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị sau giám sát.
2. Kết quả tiếp thu, giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 8 của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ
Từ sau kỳ họp thứ 8 đến nay, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ đã nghiên cứu, tiếp thu, trả lời 1.943 kiến nghị của cử tri,3 đạt tỷ lệ 100%, trong đó:
- Có 498 kiến nghị, chiếm 25,63% đã được các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, tiếp thu, giải quyết4 như: ban hành nghị quyết về một số giải pháp về thuế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp; một số chính sách phát triển thủy sản; chính sách đặc thù về di dân tái định cư các dự án thủy điện; đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, nhất là giao thông nông thôn, các cầu dân sinh ở vùng khó khăn, miền núi; xây dựng nông thôn mới; về tiếp tục thực hiện và điều chỉnh nội dung dự án của Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014; quy định về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm và phương thức quản lý đối với các cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ; sửa đổi nâng mức hưởng bảo hiểm y tế cho một số đối tượng là thân nhân người có công với cách mạng; hướng dẫn về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón và vật liệu nổ công nghiệp; đầu tư, phát triển hạ tầng giao thông; cải cách kỳ thi tốt nghiệp PTTH; tinh giản biên chế cán bộ, công chức, viên chức;...
- Có 182 kiến nghị, chiếm 09,37% đang được các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, tiếp thu, giải quyết, như: xây dựng các văn bản hướng dẫn triển khai Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020; đề án cải cách chính sách tiền lương theo các Kết luận của Trung ương, chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn, cán bộ về công tác ở địa bàn khó khăn; đơn giản hoá thủ tục hành chính đối với việc cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường có quy mô nhỏ, khai thác ngắn hạn phục vụ công trình dân sinh tại địa phương;...
- Có 81 kiến nghị, chiếm 4,17% được các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp thu, sẽ giải quyết trong thời gian tới, như: quy định về lập đề cương, dự toán, tổ chức thực hiện, kiểm tra, thanh tra, nghiệm thu, thanh quyết toán đối với các nhiệm vụ, dự án thuộc nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; hướng dẫn chế độ ưu đãi đối với người sử dụng đất là người có công với cách mạng; rà soát lại các dự án đã thu hồi đất của người dân, nhưng không tổ chức triển khai thực hiện; quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trong việc hỗ trợ kinh phí đầu tư nâng cấp công trình hạ tầng tại địa phương;...
- Có 1.175 kiến nghị, chiếm 60,47% đã được các bộ, cơ quan ngang bộ giải trình, cung cấp thông tin với cử tri, như: chính sách phân bổ nguồn vốn đầu tư của Trung ương, vốn Trái phiếu Chính phủ cho các công trình ở địa phương; chính sách và quy định độ tuổi hưởng chế độ phụ cấp người cao tuổi; chế độ hưởng bảo hiểm y tế; về đầu tư hạ tầng cơ sở và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại hệ thống y tế cơ sở và danh mục thuốc cấp phát trong khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế; bình ổn giá sữa và một số mặt hàng thiết yếu, vật tư nông nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất nông nghiệp; thu mua lúa gạo tạm trữ và mở rộng tìm kiếm thị trường tiêu thụ lúa gạo; hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản;...
- Có 07 kiến nghị, chiếm 0,36% mà việc giải quyết cần phải có sự phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ với chính quyền địa phương, như: việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong các lĩnh vực như vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý thị trường, xử lý hàng nhập lậu, hàng cấm, hàng giả; công tác bảo vệ môi trường; về tuyên truyền, phổ biến phòng, chống dịch bệnh, phòng chống ma túy, tội phạm...
2. Kết quả tiếp thu, giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nhận được 32 kiến nghị của cử tri. Nội dung kiến nghị tập trung chủ yếu vào những vấn đề, như: đề nghị tiếp tục có các biện pháp nâng cao chất lượng truy tố, xét xử; đề nghị xử lý nghiêm minh những vụ án tham nhũng, đưa hối lộ và nhận hối lộ, buôn lậu... đẩy nhanh xét xử các vụ án tham nhũng liên quan đến ngành ngân hàng; thi hành án dân sự; tổ chức triển khai thực hiện Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, bổ nhiệm lại thẩm phán, kiểm sát viên và đào tạo bồi dưỡng công chức Tòa án, Viện kiểm sát. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo tổ chức khắc phục tình trạng vi phạm về thời hạn ra quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với người bị kết án tử hình đã có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Khoản 1, điều 258 Bộ luật Tố tụng hình sự; hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Hình sự.
Tòa án nhân dân tối cao đã nghiên cứu, tiếp thu, trả lời đầy đủ 23/23 kiến nghị của cử tri5, trong đó, đã xem xét, giải quyết 10/23 kiến nghị; đang giải quyết 09 kiến nghị và tiếp thu, giải quyết trong thời gian tới là 01 kiến nghị; có 03 kiến nghị đã thông tin, giải trình lại với cử tri.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nghiên cứu, tiếp thu, trả lời 09/09 kiến nghị của cử tri6, trong đó đã xem xét, giải quyết 4 kiến nghị; đang xem xét, giải quyết 02 kiến nghị; tiếp thu, giải quyết trong thời gian tới 02 và 01 kiến nghị đã được giải trình, cung cấp thông tin cho cử tri.
II. NHẬN XÉT VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT KIẾN NGHỊ CỦA CỬ TRI CỦA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN
1. Về ưu điểm
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Trưởng ngành đã xác định việc trả lời kiến nghị cử tri là trách nhiệm chính trị của mình trước cử tri và nhân dân cả nước; ngay sau khi nhận được kiến nghị cử tri đã khẩn trương nghiên cứu, tiếp thu, giải quyết, trả lời cử tri. Hầu hết các kiến nghị cử tri gửi đến kỳ họp thứ 8 Quốc khóa XIII đều được cơ quan có thẩm quyền trả lời, đạt tỉ lệ 100%, trong đó có bộ, ngành đã sớm nghiên cứu có văn bản trả lời ngay sau khi nhận được kiến nghị như: Ngân hàng Nhà nước, Giao thông vận tải. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công thương đã chỉ đạo Ngân hàng, Sở Công thương các tỉnh, thành phố cử cán bộ tham dự các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội để kịp thời tiếp thu, giải trình về những vấn đề cử tri kiến nghị. Các văn bản trả lời kiến nghị của cử tri đã đi thẳng vào nội dung cử tri quan tâm.
- Cùng với việc nghiên cứu ban hành chính sách để giải quyết kiến nghị của cử tri, Chính phủ đã tăng cường chỉ đạo; theo chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nước, các bộ, ngành đã khẩn trương tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, đề ra những giải pháp giải quyết kịp thời những vấn đề cử tri kiến nghị như: rà soát quy hoạch nhà máy thuỷ điện và an toàn đập thủy điện, thuỷ lợi; tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát tình hình buôn lậu, vi phạm chất lượng hàng hóa; kiểm tra xử lý tình hình lạm thu trong các cơ sở giáo dục công lập; kịp thời kiểm tra đánh giá kết quả triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ ngư dân đóng mới tàu vỏ thép, vỏ vật liệu mới. Việc giải quyết kiến nghị của cử tri liên quan đến Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã được Chính phủ tiếp thu, báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội để trình Quốc hội. Trên cơ sở kiến nghị của cử tri, báo cáo của Chính phủ, bảo đảm quyền lợi của người dân, Quốc hội đã xem xét một cách toàn diện, thận trọng, kỹ lưỡng, đã tiến hành thảo luận ở tổ, ở Hội trường về nội dung này. Nhiều Bộ trưởng, Trưởng ngành đã đi đến các địa phương kiểm tra thực tế một số nội dung cử tri kiến nghị và việc thực hiện những kết luận chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ, ngành mình về việc giải quyết kiến nghị của cử tri như: Ngân hàng Nhà nước, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…
- Trong quá trình giải quyết những kiến nghị cử tri đã có sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương để có những giải pháp giải quyết kịp thời về những nội dung liên quan đến trách nhiệm chung như công tác kiểm tra, rà soát các công trình thuỷ điện, quy định về một số chính sách phát triển thuỷ sản, kiểm tra, xử lý vệ sinh, an toàn thực phẩm...
- Cùng với việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 8, các bộ, ngành đã quan tâm, tiếp tục nghiên cứu, giải quyết những kiến nghị tại các kỳ họp trước7; đồng thời, tổ chức nghiên cứu, thực hiện kiến nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội về giải quyết kiến nghị của cử tri; việc giải trình, cung cấp thông tin đến cử tri đã sát hơn, cụ thể hơn từ đó chất lượng giải quyết có nhiều tiến bộ.
- Các Bộ trưởng, Trưởng ngành khi trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội tại Hội trường hoặc bằng văn bản đã kết hợp với việc trả lời giải quyết kiến nghị của cử tri.
2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
2.1. Tồn tại, hạn chế
- Một số cơ quan có thẩm quyền chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc tổ chức, chỉ đạo tiếp thu, giải quyết, trả lời cử tri, dẫn đến việc giải quyết trả lời còn chậm8. Việc phân định kiến nghị phải giải quyết và các kiến nghị giải trình cung cấp thông tin với cử tri còn chưa rõ ở hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Việc ban hành các chính sách pháp luật và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật, pháp lệnh, việc chỉ đạo điều hành còn chậm như: hướng dẫn về thành lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ của địa phương; về hướng dẫn áp dụng Điều 51 về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; khoản 2 Điều 172 tội phạm vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; Điều 248 tội đánh bạc; 249 tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc của Bộ luật Hình sự. Có văn bản được ban hành mới nhưng khi triển khai thực hiện đã phát sinh vướng mắc như Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản, trong đó có quy định về hỗ trợ lãi suất vốn vay để gia cố vỏ tàu, mua sắm thiết bị, ngư lưới cụ đối với chủ tàu đã có tàu công suất trên 400 CV; hỗ trợ lãi suất vốn vay để nâng cấp, đóng mới tàu bằng vật liệu mới...
- Trong việc phối hợp, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật thông qua kiến nghị của cử tri cũng vẫn còn những vấn đề nổi lên bức xúc trong đời sống kinh tế - xã hội chưa được tổ chức triển khai thực hiện một cách kịp thời như: thanh tra, xử lý vi phạm về tài nguyên môi trường; về xử lý tin nhắn rác...
- Có văn bản trả lời của cơ quan có thẩm quyền giải quyết chưa đi thẳng vào nội dung cử tri kiến nghị như: về phòng chống dịch bệnh; về giải quyết vốn cho các dự án của các địa phương… Việc cung cấp thông tin, giải trình cho cử tri có trường hợp chưa thực sự thấu đáo, chưa có tính thuyết phục, dẫn đến việc cử tri kiến nghị nhiều lần.
- Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền liên quan vẫn còn bất cập, trong khi có những kiến nghị mà việc giải quyết phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan.
2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
- Việc giải quyết kiến nghị cử tri là công việc thường xuyên nhưng các kiến nghị của cử tri nhiều, liên quan đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong khi phải xem xét, giải quyết, trả lời trong một thời gian ngắn, giữa hai kỳ họp Quốc hội nên rất khó khăn đối với cơ quan có thẩm quyền, nhất là những cơ quan nhận được nhiều kiến nghị. Cùng với đó, các quy định của pháp luật về giải quyết kiến nghị của cử tri chưa được rõ ràng, nhất là việc phân loại kiến nghị phải giải quyết và việc giải trình, thông tin cho cử tri; trình tự, thủ tục về giải quyết kiến nghị của cử tri chưa được quy định cụ thể mà chỉ mới đề cập trong Nghị quyết liên tịch số 525/2012/NQ-UBTVQH-ĐCTUBTƯMTTQVN ngày 27/9/2012 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về trách nhiệm và thời hạn giải quyết. Có kiến nghị của cử tri liên quan đến nhiều lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều bộ, ngành; có những kiến nghị việc giải quyết phải có lộ trình, thời gian và nguồn lực, việc xác định đúng thời hạn giải quyết còn khó khăn ...
- Một số ý kiến, kiến nghị về đầu tư các công trình phúc lợi cho địa phương; việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo; cải cách chế độ công vụ; chính sách tiền lương; nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước… Trong khi đó, việc giải quyết những vấn đề này cần phải có thời gian, nguồn lực, lộ trình cụ thể và sự thống nhất của nhiều bộ, ngành. Vì vậy, việc giải quyết chưa thể đáp ứng ngay được kiến nghị của cử tri và nhân dân.
3. Về kết quả giám sát một số nội dung cụ thể
3.1. Về giải quyết khó khăn trong sản xuất và đời sống của người dân tái định cư khi Nhà nước xây dựng các công trình thuỷ điện9:
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 18/02/2014 về Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết số 62/2013/NQ-QH13 của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện, Bộ Công thương đã có văn bản yêu cầu các bộ, ngành hữu quan xây dựng, ban hành Kế hoạch hành động; Ủy ban nhân dân, Sở Công thương các tỉnh, thành phố có dự án thủy điện tiến hành rà soát tình hình thực hiện các dự án thủy điện. Qua rà soát đã loại bỏ 439 dự án; xem xét thu hồi chủ trương đầu tư 47 dự án; không đưa vào quy hoạch 178 vị trí tiềm năng; gia hạn có thời hạn đối với 13 dự án.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 64/2014/QĐ-TTg ngày 18/11/2014 về Chính sách đặc thù về di dân, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện, trong đó đã quy định rõ công tác quy hoạch phải gắn với phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch chung và đảm bảo phù hợp với phong tục, tập quán của từng dân tộc; bố trí đất ở, đất sản xuất, nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất; các công trình cơ sở hạ tầng khu, điểm tái định cư, đảm bảo bền vững về môi trường sinh thái. Việc hỗ trợ lương thực được thực hiện đến khi hộ tái định cư được giao đủ đất sản xuất; lao động thuộc hộ tái định cư có nhu cầu chuyển đổi nghề được hỗ trợ lương thực đến khi người lao động được tổ chức, bố trí đào tạo hết một khóa học nghề. Đặc biệt, quyết định đã quy định chính sách hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho người dân sau tái định cư và giao Ủy ban nhân dân các tỉnh lập Dự án, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, Thủ tướng Chính phủ quyết định, nhằm tiếp tục hỗ trợ người dân sau tái định cư phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo.
Để giải quyết khó khăn cho người dân sau tái định cư một số dự án tái định cư thủy điện, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, chủ đầu tư dự án tiến hành rà soát, đánh giá những vấn đề liên quan đến đời sống của người dân khi Nhà nước thu hồi đất xây dựng các công trình thủy điện, để tiếp tục xem xét, giải quyết; đã trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh quy hoạch tổng thể di dân tái định cư công trình thủy diện Sơn La, dự án thủy điện Huội Quảng, Bản Chát (Lai Châu), Đề án ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà, thuộc công trình thủy điện Hòa Bình10; xem xét giải quyết vướng mắc về di dân, tái định cư thủy điện Tuyên Quang, Bản Vẽ, Hủa Na (Nghệ An), Đồng Nai 3, An Khê- Ka Năk (Gia Lai)...
Tuy đời sống của người dân tại các khu tái định cư các công trình thủy điện được cải thiện, nhưng nhìn chung vẫn còn rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo tại các khu tái định cư vẫn còn cao và cao hơn tỷ lệ hộ nghèo bình quân ở các địa phương như các hộ dân tái định cư thuộc thủy điện Bản Vẽ (Nghệ An) hơn 74% hộ nghèo, Plei Krong (Kon Tum) 65,13%, Khe Bố (Nghệ An) 60%, An Khê-Ka Năk (Gia Lai) 56%, Đăk Rinh (Quảng Ngãi) 49%, Huội Quảng (Lai Châu) 39,09%, Hòa Bình 36%... Thu nhập của người dân tái định cư chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhưng nhiều nơi còn thiếu đất canh tác, đất xấu, thiếu khả năng đầu tư thâm canh. Một bộ phận người dân tái định cư từng gắn bó với rừng và khai thác sản phẩm từ rừng là sinh kế cơ bản nhưng rừng ít nên giảm nguồn thu, đời sống vẫn khó khăn. Có bản với hơn 30 hộ dân, trên 100 nhân khẩu thuộc diện tái định cư tập trung nhưng ở lại nơi ở cũ, nay không thuộc diện quản lý của chính quyền địa phương nơi ở và nơi đi, không được đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nên rất khó khăn về sản xuất và đời sống (thuộc thủy điện Bản Vẽ, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An).
Việc thu hồi đất, giao đất sản xuất của một số dự án còn chậm, đất xấu, một số nơi chưa giao đủ đất nên người dân không có điều kiện phát triển sản xuất như dự án thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam), Lào Cai, Sơn La; công tác đào tạo nghề và chuyển đổi nghề nghiệp chưa hiệu quả, sau đào tạo người lao động khó tìm việc làm, tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề rất thấp; công tác chuyển đổi nghề và giải quyết việc làm cho người dân, nhất là đối với người dân bị mất đất sản xuất thiếu tính đa dạng, chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và phong tục, tập quán của người dân.
Mặc dù chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư các dự án thủy điện được quy định tại Quyết định 64/2014/QĐ-TTg có nhiều điểm mới đáp ứng tốt hơn yêu cầu của người dân khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó có quy định về hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho người dân sau tái định cư. Tuy vậy, các quy định này chỉ áp dụng đối với các trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 1 Điều 87 Luật Đất đai; các dự án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các dự án được quy định tại khoản 1 Điều 87 Luật Đất đai sử dụng vốn ODA nhưng không cam kết về khung chính sách bồi thường, còn các dự án thủy điện khác không được áp dụng theo quy định tại Quyết định này. Như vậy, là chưa bảo đảm sự công bằng trong việc thực hiện chính sách đối với người dân khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình thủy điện và cũng chưa hoàn toàn phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 62/2013/QH13 của Quốc hội11.
3.2. Về giải quyết khó khăn trong sản xuất và đời sống của ngư dân12:
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, tiếp thu kiến nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cùng với việc tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách, pháp luật đã ban hành, Chính phủ đã nghiên cứu, ban hành Nghị định 68/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch; Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản và dành khoản kinh phí 4.500 tỷ đồng hỗ trợ ngư dân đóng tàu đánh bắt xa bờ. Theo đó, Chính phủ đã quyết định kinh phí đầu tư hàng năm từ năm 2015 đến năm 2020 tăng tối thiểu gấp 2 lần so với giai đoạn 2011 – 2014, bảo đảm đẩy nhanh và hoàn thành dứt điểm các công trình, dự án theo quy định; tập trung ưu tiên xây dựng, nâng cấp công trình tại các đảo13 và một số tỉnh duyên hải Nam Trung bộ; bố trí vốn đầu tư xây các trung tâm nghề cá lớn gắn với ngư trường trọng điểm14.
Chính phủ đã ban hành chính sách tín dụng ưu đãi đối với ngư dân đóng tàu công suất lớn cả về thời hạn vay và lãi suất15. Đến nay, đã có 23/28 tỉnh, thành phố ven biển phê duyệt danh sách các chủ tàu đủ điều kiện vay vốn, với 818 tàu từ 400 CV trở lên, trong đó đóng mới 731 tàu, nâng cấp 87 tàu; đã cho vay để đóng mới, nâng cấp 52 tàu (48 tàu đóng mới và 04 tàu nâng cấp), với tổng số tiền 525 tỷ đồng; cho vay vốn lưu động đối với 89 khách hàng tại 07 tỉnh, với số tiền 24 tỷ đồng.
Về chính sách bảo hiểm, ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên; từ 70 đến 90% kinh phí mua bảo hiểm thân tàu, ngư lưới cụ, tùy theo công suất máy chính từ 90 CV trở lên. Đến nay, đã có 21/28 tỉnh, thành phố thực hiện bảo hiểm thân tàu, ngư lưới cụ, tai nạn thuyền viên16 với tổng số phí bảo hiểm là 46,286 tỷ đồng; tổng giá trị được bảo hiểm 2.983,687 tỷ đồng; số tàu trên 90 CV tham gia bảo hiểm là 1.837 chiếc; số thuyền viên được bảo hiểm là 23.604 người.
Thực hiện chính sách ưu đãi về thuế, trong đó, miễn thuế đối với thu nhập từ nuôi trồng, chế biến thủy sản; thu nhập của hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngư nghiệp ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; thu nhập của doanh nghiệp ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập từ hoạt động đánh bắt hải sản; miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của các thuyền viên, của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản xa bờ… miễn thuế tài nguyên đối với hải sản tự nhiên khai thác; miễn thuế môn bài đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở các hộ dân làng chài, dân sống trên sông nước, đầm phá di chuyển đến định cư tại các khu, điểm tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch và dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt…
Về chính sách đào tạo nguồn nhân lực, để hỗ trợ ngư dân nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu đánh bắt xa bờ, ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% chi phí đào tạo hướng dẫn thuyền viên vận hành tàu vỏ thép, tàu vỏ vật liệu mới; hướng dẫn kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới đối với tàu có tổng công suất máy chính từ 400 CV trở lên.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, qua khảo sát thực tế tại các địa phương cho thấy, hằng năm các tỉnh, thành phố ven biển đều tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về khai thác, đánh bắt hải sản, sử dụng trang thiết bị trên tàu, máy thông tin liên lạc, nhất là đào tạo, bồi dưỡng, cấp chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá cho ngư dân đi biển; trang bị kiến thức về Luật Thủy sản, Luật Biển Việt Nam, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và Bộ quy ước trong khu vực để ngư dân thực hiện. Đến nay có khoảng 86.540 ngư dân đã qua đào tạo, trong đó một số tỉnh có số lượng thuyền viên đã qua các lớp đào tạo có số lượng như Kiên Giang là 11.043 người, Bình Thuận là 9.433 người, Bà Rịa - Vũng Tàu là 6.784 người…
Để tạo sự hợp tác, tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả khai thác, bảo quản sản phẩm, giảm thiểu rủi ro, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tích cực chỉ đạo, theo đó các địa phương đã khuyến khích ngư dân tổ chức lại sản xuất theo hình thức tổ, đội đoàn kết. Đến nay, trên cả nước đã thành lập được 3.400 tổ đội và 64 nghiệp đoàn nghề cá ở hầu hết các tỉnh, thành phố ven biển. Việc tổ chức sản xuất theo hình thức tổ, đội đã mang lại hiệu quả thiết thực, sản lượng khai thác tăng từ 1,2-1,5 lần so với tàu đánh bắt đơn lẻ. Ngoài ra, còn hỗ trợ xử lý rủi ro, chia sẻ thông tin ngư trường, cứu hộ, cứu nạn…
Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 2010 đến nay, Nhà nước đã đầu tư 1.867.630 triệu đồng xây dựng, cải tạo 19 cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão, trong đó có 6 cảng cá, bến cá loại I và 16 khu neo đậu, tránh trú bão cấp vùng; các địa phương cũng đã tích cực huy động nguồn vốn để đầu tư cải tạo cảng cá, bến cá do địa phương quản lý, tiến hành nạo vét luồng lạch, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu thuyền tránh trú bão. Nhìn chung, cơ sở hạ tầng nghề cá đã được quan tâm đầu tư xây dựng, góp phần tích cực vào hoạt động khai thác thủy sản, giảm thiểu thiệt hại cho ngư dân…
Tuy vậy, việc đầu tư vốn xây dựng cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão chưa kịp thời, vẫn còn dàn trải, thiếu đồng bộ, hiệu quả đầu tư không cao, còn để xảy tình trạng tại nạn tàu thuyền do luồng lạch không được nạo vét thường xuyên như việc đầu tư cảng cá Lạch Vạn (Nghệ An), đã hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cửa Lạch Vạn lại chưa được khơi thông thường xuyên nên tàu thuyền ra, vào rất khó khăn, nhất là đối với tàu có công suất trên 90 CV; cảng cá và trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Sa Kỳ (Quảng Ngãi), vốn đầu tư 107 tỷ đồng nhưng đầu tư kéo dài đến nay đã 6 năm vẫn chưa hoàn thành; vũng neo đậu tàu thuyền đảo Lý Sơn với tổng số vốn đầu tư 401 tỷ đồng, sau 3 năm mới đầu tư 98,2 tỷ đồng. Kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng năm 2015 cho ngành thủy sản mới đạt tương đương với trung bình vốn đầu tư giai đoạn 2011-201417, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.
Việc xác định, giám định giá dự toán đóng tàu để làm cơ sở cho việc quy định mức vay còn gặp khó khăn nên triển khai thực hiện còn chậm; qui định nâng cấp tàu cá có công suất 400 CV trở lên phải thay máy mới thì mới được hỗ trợ lãi suất là chưa phù hợp thực tế, chưa khuyến khích ngư dân đầu tư trang thiết bị để nâng cao hiệu quả khai thác và bảo quản sản phẩm. Việc quy định vốn đối ứng quá cao đối với chủ tàu được vay vốn gây khó khăn cho ngư dân khi tiếp cận tín dụng ưu đãi...
Công tác triển khai thiết kế chi tiết đối với các tàu cụ thể theo 21 thiết kế mẫu đã được công bố chưa phù hợp với thực tế, ngư dân phải sửa đổi cho phù hợp với ngư trường, tập quán nhưng chi phí sửa đổi thiết kế chưa được hỗ trợ; chưa có thiết kế mẫu đối với các tàu vỏ vật liệu mới và vỏ gỗ.
Việc thành lập tổ, đội, hợp tác xã ở các địa phương còn chậm hoặc các tổ, đội đã có nhưng tổ chức hoạt động thiếu chặt chẽ; trình độ ngư dân còn nhiều hạn chế, nhưng chưa có chính sách thu hút học sinh phổ thông theo học các nghề về khai thác thủy, hải sản...; một số ngư dân là thành viên của nghiệp đoàn nghề cá chưa được quy định là đối tượng hỗ trợ; việc xác nhận tàu làm dịch vụ ở vùng biển xa bờ gặp nhiều khó khăn do một số tỉnh chưa có trạm bờ, thiết bị trên tàu để xác định vị trí tàu có hoạt động dịch vụ hậu cần ở vùng biển xa bờ...
3.3. Về Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới:
Tiếp thu kiến nghị của cử tri về khắc phục tình trạng chạy theo thành tích, huy động quá sức dân, bảo đảm các tiêu chí phù hợp với thực tiễn vùng sâu, vùng xa... tăng cường nguồn lực thực hiện hiệu quả mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã quyết định bổ sung cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là 15.000 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với giai đoạn 2011-2013; theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định giao vốn trái phiếu Chính phủ năm 2014 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; ban hành chỉ thị về tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, trong đó đã nêu rõ: Trong quá trình thực hiện, tuyệt đối không được yêu cầu dân đóng góp bắt buộc. Việc huy động đóng góp phải trên cơ sở khả năng đóng góp tự nguyện của dân tại từng địa bàn, trong mọi trường hợp, không được huy động quá sức dân.
Bên cạnh đó, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng nhiều chính sách nhằm huy động nguồn lực, tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới như: tăng cường vận động nguồn vốn của các tổ chức tài chính quốc tế; hướng dẫn nguồn vốn để lại ít nhất 70% cho xã đầu tư công trình tại xã từ ngân sách Trung ương hỗ trợ đất lúa, tín dụng ưu đãi, lồng ghép các chương trình, dự án... Đồng thời, ưu tiên nguồn lực cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, xã bãi ngang ven biển, các xã thuộc huyện nghèo vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long với mức đầu tư cao hơn ít nhất 2 lần so với các xã không ưu tiên khác. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tiến hành rà soát, đề xuất điều chỉnh, bổ sung một số tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới phù hợp với điều kiện thực tế của các địa phương, nhất là các vùng khó khăn, vùng đặc thù.
Đến nay, đã có 97% số xã phê duyệt quy hoạch nông thôn mới, 87% số xã phê duyệt đề án, trên 9.000 mô hình được đưa vào sản xuất, bình quân mỗi xã đạt 10 tiêu chí, tăng 5,38% tiêu chí/xã so với năm 2010 và tăng 2,13 tiêu chí so với năm 2013; có 785 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 8,8% và 4 đơn vị cấp huyện gồm: huyện Xuân Lộc và thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh có toàn bộ số xã đạt chuẩn nông thôn mới; không còn xã trắng tiêu chí. Tuy nhiên, việc thực hiện Chương trình có nơi, có lúc còn thiếu sâu sát, chưa thường xuyên, chặt chẽ; nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu; có nơi sử dụng nguồn vốn kém hiệu quả, để thất thoát; chưa chủ động huy động nguồn lực xã hội; một số tiêu chí chưa phù hợp với các vùng miền khác nhau, khó thực hiện; kết quả đạt được còn chưa đồng đều, có khoảng cách quá lớn giữa các địa phương và vùng miền; một số cơ chế đã ban hành chậm đi vào cuộc sống...
3.4. Về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông:
Tiếp thu kiến nghị của cử tri, trong thời gian qua Nhà nước đã dành nguồn vốn đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông kể cả đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không; đã tập trung cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1, nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch, nhiều cây cầu được xây dựng, trong đó đã quan tâm đề ra nhiều giải pháp để huy động nguồn lực đầu tư xây dựng cầu dân sinh ở các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Đến nay đã và đang triển khai xây dựng xây dựng 187 cầu treo dân sinh trên địa bàn 28 tỉnh, miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Đồng thời, để đảm bảo tiến độ, chất lượng, giá thành xây dựng, yêu cầu các chủ đầu tư tăng cường công tác quản lý thực hiện dự án; tổ chức kiểm tra định kỳ, đột suất để rà soát, chấn chỉnh, kịp thời giải quyết những khó khăn vướng mắc, nâng cao chất lượng công trình. Đối với công trình giao thông để xảy ra khuyết điểm về chất lượng, đã kịp thời chỉ đạo cơ quan chức năng, chủ đầu tư kiểm tra đánh giá đúng nguyên nhân, đề xuất giải pháp khắc phục.
Trong năm vừa qua, nhiều công trình dự án đã hoàn thành đưa vào khai thác, kịp thời phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Tuy vậy, trong quá trình tổ chức triển khai các dự án đường giao thông còn thiếu đồng bộ giữa trọng tải cầu và đường gây khó khăn cho vận chuyển hàng hóa của các doanh nghiệp; việc kết hợp khi thi công giữa các công trình giao thông với các công trình điện, nước; đường quốc lộ với đường dân sinh có nơi chưa đồng bộ, gây khó khăn cho sinh hoạt, đời sống của người dân.
Công tác bảo đảm an toàn giao thông đã có chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông đã giảm cả về số vụ, số người chết, và số người bị thương, nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, nhiều vụ tại nạn nghiêm trọng vẫn còn xảy ra, nhất là an toàn giao thông khu vực nông thôn, đường sắt, đòi hỏi Chính phủ, các ngành, các cấp phải tiếp tục có hành động quyết liệt, đề ra những giải pháp thiết thực, cụ thể, tiến hành đồng bộ để giảm thiểu tối đa tai nạn giao thông.
3.5. Về chính sách tín dụng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và người dân việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng:
Tiếp thu kiến nghị của cử tri, Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp bảo đảm kinh tế tăng trưởng, tạo sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu tín dụng, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ để phát triển. Đã ban hành nhiều văn bản, quyết liệt chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến điều kiện và thủ tục vay vốn như cơ cấu lại thời hạn trả nợ; cho phép các tổ chức tín dụng miễn, giảm lãi vay, không thu lãi quá hạn...; chỉ đạo các tổ chức tín dụng phối hợp chặt chẽ và làm việc với khách hàng để tháo gỡ khó khăn trong trường hợp nhiều tổ chức tín dụng cùng cho một khách hàng vay...
Đối với địa bàn nông thôn, đã rà soát tiết giảm tối đa thủ tục, giấy tờ; phối hợp triển khai nhiều chương trình tín dụng mới phù hợp hơn với đặc điểm, tình hình của các loại hình doanh nghiệp và của từng địa phương; ban hành các quy định tín dụng đối với một số đối tượng đặc thù với thủ tục cho vay đơn giản hơn18; điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn19; yêu cầu các tổ chức tín dụng thường xuyên xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các khoản cho vay cũ về mức lãi suất cho vay hiện hành; mở rộng cho vay đối với hộ nông dân không phải thế chấp tài sản; tích cực triển khai, áp dụng các chương trình tín dụng nông nghiệp đặc thù20. Tính đến cuối tháng 5/2015 ước đạt 798.000 tỷ đồng, tăng khoảng 7,17% so với 31/12/2014, chiếm khoảng 19,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Nếu so với cuối năm 2009 dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực này đã tăng gấp 2,5 lần.
Tuy nhiên, để tiếp tục hỗ trợ phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cần bổ sung đối tượng khách hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng nằm ngoài khu vực nông thôn được thụ hưởng chính sách; xem xét nâng mức cho vay không có tài sản bảo đảm và kéo dài thời hạn cho vay; quy định về phương thức cho vay lưu vụ phù hợp với cá nhân, hộ gia đình trong việc sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có tính mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm, hoặc hằng năm; khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất theo mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, cơ chế bảo hiểm, xử lý rủi ro...
III. KIẾN NGHỊ
Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết kiến nghị của cử tri, đáp ứng sự mong đợi của cử tri và nhân dân cả nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội kiến nghị về một số nội dung sau đây:
1. Chính phủ, các bộ, ngành có giải pháp cụ thể, kịp thời giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Quốc hội đã được Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban thường vụ Quốc hội tổng hợp báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thư 9. Đồng thời, tiếp tục rà soát các kiến nghị tại các kỳ họp trước đã được xác định là sẽ giải quyết để tập trung xem xét, xử lý, báo cáo Quốc hội và trả lời cử tri; kịp thời tiếp thu trong xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện những kiến nghị đã được giải quyết để bảo đảm tính thực thi; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu kiến nghị của cử tri và nhân dân.
2. Tiếp tục có những giải pháp quyết liệt, tạo chuyển biến quan trọng về giải quyết khó khăn trong sản xuất và đời sống của người dân tái định cư công trình thủy điện; của ngư dân, đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo và đưa ra những kiến nghị tại các kỳ họp trước của Quốc hội.
2.1. Tổ chức triển khai có hiệu quả Quyết định 64/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đặc thù di dân tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện; xem xét, giải quyết kiến nghị của cử tri về việc cho phép người dân tái định cư dự án thủy điện được thụ hưởng chính sách theo Quyết định này để bảo đảm sự công bằng và phù hợp với Nghị quyết 62/2013/QH13 của Quốc hội, đó là: “Tập trung hoàn thành trong năm 2014 việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án thủy điện và ban hành chính sách ổn định đời sống và sản xuất cho người dân tái định cư. Đẩy mạnh xây dựng, triển khai các đề án ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng tái định cư dự án thủy điện”. Tiếp tục quan tâm giải quyết đất sản xuất, đất ở, nguồn nước sản xuất, sinh hoạt cho người dân; chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm. Xem xét, có chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, dành một tỷ lệ phù hợp về thu thuế tài nguyên nước, thuế thu nhập doanh nghiệp để đầu tư trở lại; thực hiện tốt hơn chính sách tín dụng ưu đãi. Ưu tiên các hộ dân tham gia trồng bù rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng được sử dụng nguồn vốn từ chi trả dịch vụ môi trường rừng; lồng ghép đề án, chương trình mục tiêu quốc gia, tăng cường khuyến nông, khuyến ngư, đưa các mô hình sản xuất mới, giống mới để hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.
2.2. Tập trung ưu tiên bố trí vốn để hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm tại một số đảo, trung tâm nghề cá lớn; đầu tư xây dựng đồng bộ cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão, nạo vét luồng lạch; có chính sách thu hút các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá, đáp ứng yêu cầu hoạt động của các tàu từ công suất nhỏ đến công suất lớn. Tăng cường điều tra đánh giá trữ lượng nguồn lợi hải sản, điều hành sản xuất khai thác hải sản hợp lý trên cơ sở xem xét tổ chức lại sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Hướng dẫn, hỗ trợ ngư dân thành lập các đội tàu đánh bắt xa bờ; có chính sách tạo nguồn nhân lực về khai thác hải sản từ Đại học, Cao đẳng, Trung cấp đến đào tạo nghề cho người lao động, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Xem xét kiến nghị của cử tri, rà soát, đánh giá lại các quy định tại Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản; trong đó, xem xét nâng mức hỗ trợ, thời hạn cho vay đối với ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ; thực hiện tín dụng ưu đãi đối với các chủ tàu cá đã có tàu công suất 400 CV trở lên, chủ tàu đóng mới tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ vỏ vật liệu mới; nghiên cứu, hoàn thiện thiết kế mẫu tàu vỏ thép phù hợp với ngư trường, phong tục tập quán đánh bắt của người dân; xem xét có chính sách bảo hiểm đối với các thành viên của nghiệp đoàn nghề cá tham gia hoạt động khai thác hải sản, làm dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ... để sửa đổi bổ sung cho phù hợp, nhằm tiếp tục giải quyết khó khăn cho ngư dân.
3. Đề nghị Chính phủ nghiên cứu xây dựng và ban hành quy định về sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc giải quyết kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; những kiến nghị liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực để nâng cao hơn nữa chất lượng giải quyết.
Các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội tiếp tục đổi mới hoạt động tiếp xúc cử tri, tổng hợp kiến nghị của cử tri, quan tâm yêu cầu về thời gian, về nội dung kiến nghị và nghiên cứu, đánh giá việc giải quyết kiến nghị của cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử, báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội và thông tin đầy đủ đến cử tri.
Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tăng cường phối hợp với Ủy ban thường vụ Quốc hội trong hoạt động giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri; hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri và tổng hợp kiến nghị cử tri gửi Quốc hội.
Ủy ban thường vụ Quốc hội hoan nghênh, đánh giá cao, chân thành cảm ơn cử tri và nhân dân cả nước, đồng bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài đã có nhiều ý kiến thiết thực gửi đến Quốc hội, thể hiện sự quan tâm sâu sắc với tinh thần trách nhiệm cao đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước; góp ý chân thành và đề xuất nhiều giải pháp thiết thực về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở và mong muốn tiếp tục nhận được nhiều ý kiến tại các kỳ họp tới. Đồng thời, đề nghị cử tri tiếp tục theo dõi, giám sát việc giải quyết, kịp thời phản ánh với Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội để yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền tiếp thu khắc phục các tồn tại, khuyết điểm, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động để đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng của cử tri.
Trên đây là Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, Ủy ban thường vụ Quốc hội kính trình Quốc hội./.
| Nơi nhận: - Ủy ban thường vụ Quốc hội; - HĐDT, các Ủy ban của QH; - VPQH, Ban CTĐB, Viện NCLP; - TANDTC, VKSNDTC; - VPCP, các bộ; cơ quan ngang bộ; - Lưu: HC, DN. Epas: |
TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH (đã ký) Huỳnh Ngọc Sơn |