Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhận được 01 kiến nghị của cử tri tỉnh Bến Tre thuộc thẩm quyền giải quyết, xử lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) do Ban Dân nguyện chuyển đến Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII.
Kiến nghị của cử tri: “Đề nghị NHNN chủ động điều hành linh hoạt hơn nữa các công cụ chính sách tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được các nguồn vốn phát triển sản xuất kinh doanh. Xem xét kéo dài thời gian và hạn mức cho vay. Có chính sách hỗ trợ ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.”
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trả lời như sau:
1. Về tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng, NHNN đã tổ chức triển khai nhiều giải pháp như:
(i) Sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng (TCTD) thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn để đảm bảo cân đối vốn phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh;
(ii) Điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND, lãi suất cho vay tối đa bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần giảm mặt bằng lãi suất hỗ trợ sản xuất, kinh doanh1;
(iii) Ban hành, triển khai nhiều chương trình tín dụng đặc thù, tập trung vốn tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên;
(iv) Chỉ đạo các TCTD thực hiện các giải pháp như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; xem xét miễn giảm lãi vốn vay trên cơ sở đánh giá các biện pháp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng vay; xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng đã ký trước đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành;
(v) Tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh; đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn, nhưng không trái với quy định của pháp luật; cơ cấu lại nợ, tạo điều kiện cho khách hàng có phương án kinh doanh hiệu quả được vay vốn mới mà không xem xét điều kiện về các khoản nợ cũ; Ban hành Thông tư số 29/2014/TT-NHNN ngày 9/10/2014 hướng dẫn các ngân hàng thương mại phối hợp với Ngân hàng Phát triển Việt nam trong việc thực hiện cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp, người dân trong việc tiếp cận vốn. Trên thực tế, các doanh nghiệp, khách hàng có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh, có năng lực tài chính tốt, dự án, phương án sản xuất - kinh doanh hiệu quả, khả thi đã tiếp cận vốn dễ dàng với lãi suất hợp lý. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng chủ yếu là do năng lực tài chính yếu kém, không chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh; nợ phải trả tồn đọng lớn chưa có biện pháp xử lý... Ngoài ra, một số doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện vay vốn nhưng chưa có nhu cầu vay vốn do còn gặp khó khăn về thị trường.
Vì vậy, để tăng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng ngoài những giải pháp từ ngành Ngân hàng, bản thân doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động, nâng cao khả năng tài chính, tạo niềm tin để các TCTD yên tâm cấp tín dụng. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ, như tiếp tục đẩy mạnh triển khai kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường năng lực cho các đơn vị thực hiện trợ giúp phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa; rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, đất đai, đầu tư xây dựng...; thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất - kinh doanh...
2. Về kéo dài thời gian và hạn mức cho vay
Theo quy định tại quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của NHNN, thời hạn và hạn mức cho vay do TCTD và khách hàng tự thỏa thuận trên cơ sở chu kỳ sản xuất - kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, khả năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn của TCTD.
Thực tế, ngân hàng là trung gian tài chính, có nghĩa vụ sử dụng vốn hiệu quả để hoàn trả vốn cho người gửi tiền. Vì vậy, khi cho khách hàng vay, TCTD cũng phải cân đối nguồn vốn huy động của mình (bao gồm tiền gửi của tổ chức, cá nhân, nguồn vốn đi vay và các nguồn vốn khác) cả về lãi suất và kỳ hạn để đáp ứng yêu cầu của khoản vay; đồng thời trong thời hạn cho vay theo hợp đồng tín dụng đã ký với khách hàng, tổ chức tín dụng cũng phải trả lãi, chi phí cho các nguồn vốn mà tổ chức tín dụng đã huy động để cho khách hàng vay.
Do vậy, việc kéo dài thời gian và hạn mức cho vay sẽ được TCTD xem xét trên cơ sở chu kỳ sản xuất - kinh doanh, khả năng trả nợ của từng khoản vay cụ thể và khả năng huy động vốn của TCTD (nhất là đối với trường hợp vay vốn trung, dài hạn).
3. Về có chính sách hỗ trợ ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Thời gian qua, Chính phủ và NHNN luôn xác định nông nghiệp nông thôn là một trong 5 lĩnh vực ưu tiên cần tập trung vốn đầu tư phát triển nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Vì vậy, bên cạnh những chính sách chung đã nêu tại điểm 1, NHNN còn ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn như:
- Chính sách lãi suất: NHNN đã điều chỉnh giảm mạnh và liên tục mặt bằng lãi suất thông qua việc giảm các mức lãi suất điều hành, quy định trần và điều chỉnh giảm lãi suất huy động làm cơ sở để các TCTD giảm lãi suất cho vay; quy định và giảm dần mức lãi suất cho vay tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp (hiện nay là 7%/năm, thấp hơn lãi suất cho vay các lĩnh vực khác khoảng 1-2%/năm). Thực tế, các doanh nghiệp tốt, hoạt động hiệu quả, có phương án kinh doanh khả thi có thể được vay với lãi suất thấp chỉ từ 5-6%/năm.
- Ban hành nhiều chính sách khuyến khích các TCTD tập trung vốn cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể: (i) Hỗ trợ các TCTD có tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn lớn (từ 40% trở lên) thông qua tái cấp vốn và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc; (ii) Tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng mạng lưới tại các vùng sâu, vùng xa, các địa bàn nông nghiệp, nông thôn phù hợp với điều kiện thực tế để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất – kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn;
- Chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh, đa dạng hóa hoạt động tín dụng ở nông thôn, đáp ứng nhu cầu vốn phát sinh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; đơn giản hóa thủ tục vay vốn cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ về pháp lý, an toàn vốn vay, đặc biệt là đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn;
- Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai nhiều chính sách tín dụng đặc thù và thí điểm các chương trình, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp với quy mô sản xuất lớn hơn, tăng năng suất, tạo thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, như: chính sách cho vay thu mua, tạm trữ lúa gạo tại các tỉnh ĐBSCL, chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra theo văn bản 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012, chính sách tín dụng hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ, chính sách cho vay tái canh cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2014 – 2020…
- Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, NHNN đã trình và được Chính phủ ký ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (có hiệu lực kể từ ngày 25/7/2015). Nghị định này sẽ giải quyết được những tồn tại, bất cập trong thực tế triển khai Nghị định 41/2010/NĐ-CP và tạo điều kiện cho các đối tượng khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp cận được nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần quan trọng giúp lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống người nông dân.
Với các chính sách đồng bộ và sự triển khai quyết liệt của ngành Ngân hàng, tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua đã tăng trưởng mạnh mẽ. Tính đến cuối tháng 6/2015, dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 802.000 tỷ đồng, tăng 7,71% so với cuối năm 2014, cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn ngành.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục rà soát cơ chế, thủ tục cho vay để xem xét chỉnh sửa, bổ sung chính sách tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cho phù hợp với tình hình mới, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn hoạt động hiệu quả hơn.
Trên đây là ý kiến trả lời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Bến Tre. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn và rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của cử tri đối với hoạt động ngân hàng./.