TỔNG HỢP KIẾN NGHỊ CỬ TRI KỲ HỌP THỨ 9, QUỐC HỘI KHÓA XIII
VẤN ĐỀ LÃI SUẤT, THÁO GỠ KHÓ KHĂN TIẾP CẬN VỐN
1. Đề nghị sửa đổi, bổ sung cơ chế lãi suất ngân hàng giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nhằm tạo “sân chơi” bình đẳng giữa các doanh nghiệp. (Cử tri tỉnh Ninh Thuận)
Chính sách lãi suất được NHNN điều hành trên cơ sở diễn biến của yếu tố kinh tế vĩ mô, lạm phát, thị trường tiền tệ và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của NHNN, tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng (không phân biệt các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng; NHNN không can thiệp vào việc thỏa thuận lãi suất cho vay của TCTD và khách hàng.
Như vậy, cơ chế lãi suất cho vay hiện nay thực hiện theo cơ chế thỏa thuận giữa TCTD và khách hàng, không phân biệt khách hàng là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trên thực tế, từ đầu năm 2012 đến nay, NHNN và các TCTD đã thực hiện quyết liệt và đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, trong đó có các giải pháp điều hành lãi suất nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất - kinh doanh như: (i) Điều chỉnh giảm nhanh và mạnh các mức lãi suất điều hành; (ii) Quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ ở mức thấp hơn lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường 2-3%/năm và từng bước điều chỉnh giảm từ mức 15% xuống còn 7%/năm; (iii) Tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay (kể cả các khoản cho vay cũ) về mức dưới 13%/năm, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với mức lãi suất hợp lý.
Nhờ vậy, mặt bằng lãi suất cho vay đến nay đã giảm mạnh, chỉ bằng khoảng 40% lãi suất của nửa cuối năm 2011, thấp hơn mức lãi suất của năm 2005-2006, góp phần tạo điều kiện giảm bớt khó khăn, thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh1.
Trong thời gian tới, bám sát chủ trương của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất chủ động, linh hoạt để điều tiết lãi suất thị trường ở mức hợp lý, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
2. Đề nghị ngành Ngân hàng trong việc thẩm định giá trị tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng nên bình đẳng giữa các thành phần kinh tế tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp. Vì thực tế, có nhiều doanh nghiệp sản xuất tiểu thủ công nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng qua thẩm định giá trị tài sản theo mức định giá hiện nay. (Cử tri tỉnh An Giang)
Hiện nay, việc thế chấp tài sản để bảo đảm tiền vay tại các TCTD được thực hiện theo quy định tại Bộ luật Dân sự, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.
Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số văn bản quy định cơ chế bảo đảm tiền vay đối với một số đối tượng chính sách tín dụng đặc thù, như: Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg ngày 15/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo các quy định nêu trên, đối với trường hợp khách hàng vay vốn có bảo đảm bằng tài sản, thì giá trị tài sản bảo đảm do các bên thỏa thuận phù hợp với giá thị trường và các quy định của pháp luật về giá, không phân biệt đối tượng khách hàng vay thuộc thành phần kinh tế nào.
Đối với trường hợp vay không có bảo đảm bằng tài sản, TCTD được xem xét quyết định đối với khách hàng có phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả, được TCTD đánh giá có khả năng tài chính để hoàn trả nợ vay đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi (không phân biệt theo đối tượng khách hàng vay thuộc thành phần kinh tế tiểu thủ công nghiệp hay công nghiệp). Trường hợp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về các đối tượng khách hàng không phải thực hiện bảo đảm bằng tài sản khi vay vốn TCTD, thì TCTD và khách hàng vay được thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
3. Đề nghị tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn (Cử tri tỉnh Bắc Ninh, Bến Tre)
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng, NHNN đã tổ chức triển khai nhiều giải pháp như:
(i) Sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn để đảm bảo cân đối vốn phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh;
(ii) Điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND, lãi suất cho vay tối đa bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần giảm mặt bằng lãi suất hỗ trợ sản xuất, kinh doanh2;
(iii) Ban hành, triển khai nhiều chương trình tín dụng đặc thù, tập trung vốn tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên;
(iv) Chỉ đạo các TCTD thực hiện các giải pháp như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; xem xét miễn giảm lãi vốn vay trên cơ sở đánh giá các biện pháp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng vay; xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng đã ký trước đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành;
(v) Tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh; đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn, nhưng không trái với quy định của pháp luật; cơ cấu lại nợ, tạo điều kiện cho khách hàng có phương án kinh doanh hiệu quả được vay vốn mới mà không xem xét điều kiện về các khoản nợ cũ; Ban hành Thông tư số 29/2014/TT-NHNN ngày 9/10/2014 hướng dẫn các ngân hàng thương mại phối hợp với Ngân hàng Phát triển Việt nam trong việc thực hiện cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp, người dân trong việc tiếp cận vốn. Trên thực tế, các doanh nghiệp, khách hàng có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh, có năng lực tài chính tốt, dự án, phương án sản xuất - kinh doanh hiệu quả, khả thi đã tiếp cận vốn dễ dàng với lãi suất hợp lý. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng chủ yếu là do năng lực tài chính yếu kém, không chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh; nợ phải trả tồn đọng lớn chưa có biện pháp xử lý... Ngoài ra, một số doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện vay vốn nhưng chưa có nhu cầu vay vốn do còn gặp khó khăn về thị trường.
Vì vậy, để tăng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng ngoài những giải pháp từ ngành Ngân hàng, bản thân doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động, nâng cao khả năng tài chính, tạo niềm tin để các TCTD yên tâm cấp tín dụng. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ, như tiếp tục đẩy mạnh triển khai kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường năng lực cho các đơn vị thực hiện trợ giúp phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa; rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, đất đai, đầu tư xây dựng...; thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất - kinh doanh...
4. Đề nghị kéo dài thời gian và hạn mức cho vay. (Cử tri tỉnh Bắc Ninh, Bến Tre)
Theo quy định tại quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của NHNN, thời hạn và hạn mức cho vay do TCTD và khách hàng tự thỏa thuận trên cơ sở chu kỳ sản xuất - kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, khả năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn của TCTD.
Thực tế, ngân hàng là trung gian tài chính, có nghĩa vụ sử dụng vốn hiệu quả để hoàn trả vốn cho người gửi tiền. Vì vậy, khi cho khách hàng vay, TCTD cũng phải cân đối nguồn vốn huy động của mình (bao gồm tiền gửi của tổ chức, cá nhân, nguồn vốn đi vay và các nguồn vốn khác) cả về lãi suất và kỳ hạn để đáp ứng yêu cầu của khoản vay; đồng thời trong thời hạn cho vay theo hợp đồng tín dụng đã ký với khách hàng, tổ chức tín dụng cũng phải trả lãi, chi phí cho các nguồn vốn mà tổ chức tín dụng đã huy động để cho khách hàng vay.
Do vậy, việc kéo dài thời gian và hạn mức cho vay sẽ được TCTD xem xét trên cơ sở chu kỳ sản xuất - kinh doanh, khả năng trả nợ của từng khoản vay cụ thể và khả năng huy động vốn của TCTD (nhất là đối với trường hợp vay vốn trung, dài hạn).
5. Đề nghị có chính sách hỗ trợ ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. (Cử tri tỉnh Bắc Ninh, Bến Tre)
Thời gian qua, Chính phủ và NHNN luôn xác định nông nghiệp nông thôn là một trong 5 lĩnh vực ưu tiên cần tập trung vốn đầu tư phát triển nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Vì vậy, bên cạnh những chính sách chung đã nêu tại điểm 1, NHNN còn ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn như:
- Chính sách lãi suất: NHNN đã điều chỉnh giảm mạnh và liên tục mặt bằng lãi suất thông qua việc giảm các mức lãi suất điều hành, quy định trần và điều chỉnh giảm lãi suất huy động làm cơ sở để các TCTD giảm lãi suất cho vay; quy định và giảm dần mức lãi suất cho vay tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp (hiện nay là 7%/năm, thấp hơn lãi suất cho vay các lĩnh vực khác khoảng 1-2%/năm). Thực tế, các doanh nghiệp tốt, hoạt động hiệu quả, có phương án kinh doanh khả thi có thể được vay với lãi suất thấp chỉ từ 5-6%/năm.
- Ban hành nhiều chính sách khuyến khích các TCTD tập trung vốn cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Cụ thể: (i) Hỗ trợ các TCTD có tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn lớn (từ 40% trở lên) thông qua tái cấp vốn và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc; (ii) Tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng mạng lưới tại các vùng sâu, vùng xa, các địa bàn nông nghiệp, nông thôn phù hợp với điều kiện thực tế để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất – kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn;
- Chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh, đa dạng hóa hoạt động tín dụng ở nông thôn, đáp ứng nhu cầu vốn phát sinh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; đơn giản hóa thủ tục vay vốn cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ về pháp lý, an toàn vốn vay, đặc biệt là đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn;
- Chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai nhiều chính sách tín dụng đặc thù và thí điểm các chương trình, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp với quy mô sản xuất lớn hơn, tăng năng suất, tạo thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, như: chính sách cho vay thu mua, tạm trữ lúa gạo tại các tỉnh ĐBSCL, chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra theo văn bản 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012, chính sách tín dụng hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ, chính sách cho vay tái canh cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2014 – 2020…
- Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, NHNN đã trình và được Chính phủ ký ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (có hiệu lực kể từ ngày 25/7/2015). Nghị định này sẽ giải quyết được những tồn tại, bất cập trong thực tế triển khai Nghị định 41/2010/NĐ-CP và tạo điều kiện cho các đối tượng khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp cận được nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần quan trọng giúp lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống người nông dân.
Với các chính sách đồng bộ và sự triển khai quyết liệt của ngành Ngân hàng, tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua đã tăng trưởng mạnh mẽ. Tính đến cuối tháng 6/2015, dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 802.000 tỷ đồng, tăng 7,71% so với cuối năm 2014, cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn ngành.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục rà soát cơ chế, thủ tục cho vay để xem xét chỉnh sửa, bổ sung chính sách tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cho phù hợp với tình hình mới, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn hoạt động hiệu quả hơn.
6. Theo quy định của các Ngân hàng thương mại, liên quan đến thủ tục vay vốn, phần tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được công chứng tại Văn phòng công chứng và chứng thực tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Khi trả hết nợ muốn vay lại phải đăng ký thủ tục xóa thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gây mất nhiều thời gian, tốn kém tiền bạc cho người dân. Đề nghị NHNN và các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu có biện pháp tinh gọn thủ tục vay vốn ngân hàng để giảm bớt phiền hà cho người dân khi vay vốn ngân hàng. (Cử tri tỉnh Bình Phước)
Luật Đất đai năm 2013 và pháp luật về giao dịch bảo đảm quy định việc công chứng, chứng thực, đăng ký thế chấp và xóa đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất khi nghĩa vụ bảo đảm đã hoàn thành.
Vì vậy, khi thực hiện cho vay có thế chấp tài sản bằng quyền sử dụng đất, các ngân hàng thương mại bắt buộc phải yêu cầu khách hàng vay vốn thực hiện các quy định liên quan đến thủ tục công chứng, chứng thực, đăng ký thế chấp và khi trả hết nợ vay theo hợp đồng tín dụng phải thực hiện xóa đăng ký thế chấp để hoàn trả tài sản bảo đảm cho khách hàng nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của khách hàng theo quy định của pháp luật hiện hành.
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, trong quá trình tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2003 vào năm 2011, NHNN đã có văn bản gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị bỏ quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vì quy định thực hiện đồng thời hai thủ tục công chứng, chứng thực và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất là không phù hợp với chủ trương cải cách hành chính của Nhà nước, gây phiền hà, làm tăng chi phí và thời gian cho các cá nhân, tổ chức có liên quan. Tuy nhiên, ý kiến này của NHNN đã không được tiếp thu và Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua vẫn giữ nguyên quy định nêu trên.
NHNN xin ghi nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính trong việc thế chấp quyền sử dụng đất.
Trong khi các quy định liên quan chưa được sửa đổi, bổ sung, để giảm thiểu các chi phí và thủ tục khi vay vốn có tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, căn cứ các quy định của pháp luật hiện hành về giao dịch bảo đảm, khách hàng có thể thỏa thuận với tổ chức tín dụng cho vay ký một hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ vay vốn tại chính tổ chức tín dụng đó.
7. Đề nghị ngành ngân hàng đơn giản hóa thủ tục hành chính trong vay vốn để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận nguồn vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất. (Cử tri tỉnh Long An)
Nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng, đồng thời, thực hiện chủ trương của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, thời gian qua NHNN đã chủ động ban hành nhiều văn bản, quyết liệt chỉ đạo các TCTD thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến điều kiện và thủ tục vay vốn theo hướng đơn giản, thông thoáng, giảm bớt phiền hà cho khách hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn vốn vay và phù hợp với quy định của pháp luật, như:
- Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; xem xét miễn giảm lãi vốn vay trên cơ sở đánh giá các biện pháp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng vay; xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng đã ký trước đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành...
- Ban hành văn bản số 1778/NHNN-VP ngày 24/03/2015 chỉ đạo các ngân hàng thương mại tăng cường đổi mới, cải tiến các quy trình, thủ tục cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng để tăng cường công tác quản lý và nâng cao chất lượng dịch vụ trong các lĩnh vực hoạt động ngân hàng phù hợp với chủ trương cải cách hành chính.
- Trình Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (có hiệu lực từ ngày 25/7/2015) thay thế Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010. Nghị định này sẽ giải quyết được những tồn tại, bất cập trong thực tế triển khai Nghị định 41/2010/NĐ-CP và tạo điều kiện cho các đối tượng khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp cận được nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần quan trọng giúp lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống người nông dân. Theo đó: (i) Điều chỉnh tăng mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tối đa3; (ii) Mở rộng đối tượng được cho vay không có bảo đảm bằng tài sản4; các đối tượng khách hàng được vay không có tài sản bảo đảm chỉ phải nộp TCTD giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đối với các đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; (iii) Bổ sung phương thức cho vay lưu vụ: TCTD và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 (hai) chu kỳ sản xuất liên tiếp; theo đó, khách hàng vay không phải làm thủ tục vay vốn lại sau khi hết một chu kỳ sản xuất.
- Ban hành Thông tư số 05/2015/TT-NHNN ngày 04/5/2015 hướng dẫn các TCTD phối hợp với Quỹ Bảo lãnh tín dụng trong cho vay có bảo lãnh của Quỹ Bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg ngày 15/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa được Quỹ Bảo lãnh tín dụng bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của TCTD, thì doanh nghiệp không phải làm thủ tục về thế chấp, cầm cố tài sản để bảo đảm tiền vay với TCTD.
- Tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp, người dân trong việc tiếp cận vốn. Trên thực tế, các doanh nghiệp, khách hàng có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và có năng lực tài chính tốt, dự án, phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả thi đã tiếp cận vốn dễ dàng hơn với lãi suất hợp lý. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, chủ yếu là do năng lực tài chính yếu kém, không chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh đề nghị vay vốn; nợ phải trả tồn đọng lớn chưa có biện pháp xử lý... Bên cạnh đó, do hàng tồn kho chậm tiêu thụ, khó khăn về thị trường đầu ra khi sức cầu trong và ngoài nước còn thấp nên vẫn có những doanh nghiệp dù đáp ứng đủ điều kiện vay vốn nhưng chưa có nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Vì vậy, để tăng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, ngoài những giải pháp từ phía NHNN và các TCTD, bản thân doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động của mình, nâng cao khả năng tài chính, tạo niềm tin để các TCTD yên tâm cấp tín dụng. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp về tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ, như: rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, đầu tư xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thế chấp và cầm cố tài sản đăng ký giao dịch bảo đảm, kiểm toán báo cáo tài chính…; thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh...
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục bám sát Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội để tiếp tục thực hiện các giải pháp về hoạt động ngân hàng để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hiệu quả được vay vốn ngân hàng thuận lợi, góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
8. Khi đến hạn trả tiền vay, nhưng người dân chưa thu hoạch nên không thể trả nợ ngân hàng được. Do đó, ngân hàng sẽ chuyển thành nợ xấu, đề nghị có giải pháp tháo gỡ vấn đề này. (Cử tri tỉnh Vĩnh Long)
Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định: (i) Trường hợp khách hàng không trả được nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị thì TCTD xem xét cho điều chỉnh kỳ hạn trả nợ; (ii) Trường hợp khách hàng không trả hết nợ gốc và lãi trong thời hạn cho vay và có văn bản đề nghị gia hạn nợ gốc và nợ lãi thì TCTD xem xét gia hạn nợ gốc và nợ lãi5.
Trong thời gian qua, để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, NHNN đã chỉ đạo các TCTD triển khai nhiều giải pháp, như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất các khoản vay cũ; xem xét miễn, giảm lãi vốn vay, không thu lãi quá hạn, ưu tiên thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau đối với các khoản nợ đến hạn mà khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ và cho vay mới đối với các nhu cầu vốn hiệu quả để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh... Thực hiện chỉ đạo của NHNN, các TCTD đã tích cực triển khai các giải pháp nêu trên và đã cơ cấu lại nợ cho khách hàng với tổng số tiền là 320.819 tỷ đồng.
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng trong việc sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có tính mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm, NHNN đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình và được Chính phủ ký ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó có quy định về phương thức cho vay lưu vụ giúp các hộ dân được vay vốn với thời hạn linh hoạt, phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng.
Như vậy, trong hợp người dân chưa thu hoạch nên chưa trả được nợ ngân hàng đúng hạn thì người dân có thể gửi văn bản đề nghị TCTD xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ gốc và lãi. Trong quan hệ tín dụng với TCTD, nếu có khó khăn, vướng mắc phát sinh, người dân có thể phản ánh về đường dây nóng của NHNN hoặc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trên địa bàn để được hỗ trợ xử lý.
1 Hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến ở mức 7-9%/năm đối với ngắn hạn; 9-11%/năm đối với trung và dài hạn; trong đó, các doanh nghiệp tốt, hoạt động hiệu quả, có phương án kinh doanh khả thi có thể được vay với lãi suất thấp chỉ từ 5-6%/năm.
2 Hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến ở mức 7-9%/năm đối với ngắn hạn; 9-11%/năm đối với trung và dài hạn; trong đó, các doanh nghiệp tốt, hoạt động hiệu quả, có phương án kinh doanh khả thi còn được vay với lãi suất thấp chỉ từ 5-6%/năm.
3 Cá nhân, hộ gia đình từ mức 50 triệu đồng lên mức 100 triệu đồng, hộ kinh doanh từ mức 200 triệu đồng lên mức 300 triệu đồng, hợp tác xã, chủ trang trại từ mức 500 triệu đồng lên mức 1 tỷ đồng
4 Như: cá nhân, hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, tham gia liên kết trong sản xuất nông nghiệp với hợp tác xã hoặc doanh nghiệp, ...
5 Thời hạn gia hạn nợ đối với cho vay ngắn hạn tối đa bằng 12 tháng, đối với cho vay trung hạn và dài hạn tối đa bằng 1/2 thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.