Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Tạp chí Ngân hàng

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu cá (Số 20/2015)

10/11/2015 23:43:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu cá

ThS. Phạm Văn Trịnh1

 

Chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu cá theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thuỷ sản có hiệu lực từ ngày 25/8/2014, đến nay đã vừa tròn 1 năm. Nhìn lại chặng đường đã qua để đánh giá lại những mặt được, mặt chưa được cũng như những khó khăn vướng mắc từ thực tế phát sinh để đề ra giải pháp hợp lý nhằm tháo gỡ khó khăn giúp ngư dân tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn là một việc rất cần thiết. Bài viết này xuất phát từ tình hình thực tế của tỉnh Bình Thuận để phân tích, tìm nguyên nhân, đề xuất giải pháp giúp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu cá.

 

TIỀM NĂNG, LỢI THẾ KINH TẾ BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN

Bình Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, thuộc vùng kinh tế Đông Nam bộ và nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh có diện tích tự nhiên 7.812,92 km2, giáp ranh các tỉnh Ninh Thuận, Lâm Đồng (phía Bắc), Đồng Nai (phía Tây), Bà Rịa - Vũng Tàu (phía Nam). Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông có bờ biển dài 192 km; Bình Thuận quản lý vùng lãnh hải và ngư trường rộng 52.000 km2. Toàn tỉnh có 7 huyện, thị xã, thành phố ven biển và hải đảo. Nghề cá phát triển từ lâu, nhất là ở các địa phương Phan Thiết, Tuy Phong, La Gi và Phú Quý hình thành nên truyền thống và nét văn hoá nghề cá đặc sắc. Vùng biển Bình Thuận tiếp giáp liên thông với các ngư trường lớn của cả nước như ngư trường Đông Nam Bộ; khu vực Trường Sa - Nhà giàn DK1; vùng giữa biển Đông nên tỉnh có lợi thế phát triển khai thác hải sản trên các vùng biển khơi, xa bờ. Bên cạnh đó, với đặc thù không có sông lớn đổ ra biển, độ mặn ít biến động, chất lượng nguồn nước tốt, nền nhiệt cao, ổn định là điều kiện quan trọng tạo nên lợi thế quan trọng phát triển nghề sản xuất giống tôm và hải sản biển của tỉnh. Khai thác thuỷ hải sản xa bờ là thế mạnh của tỉnh Bình Thuận với 401 tổ đoàn kết sản suất trên biển/2.548 tàu/17.206 ngư dân. Chủ trương khuyến khích đầu tư tàu thuyền công suất lớn gắn với phát triển dịch vụ hậu cần trên tuyến khơi được đẩy mạnh và có tác dụng tích cực, đến cuối năm 2014 đội tàu có công suất từ 90CV trở lên toàn tỉnh có 2.316, trong đó có 98 tàu dịch vụ hậu cần xa bờ. Mục tiêu đề ra đến năm 2015 sản lượng khai thác hải sản đạt 175.000 tấn, trong đó khai thác xa bờ chiếm 52%.

Nhìn chung, tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế biển cùng với vị trí địa lý kinh tế - chính trị của tỉnh Bình Thuận trong mối quan hệ với vùng Nam Tây Nguyên; vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng biển Nam Trung Bộ - Đông Trường Sa tạo ra các điều kiện, cơ hội để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển, nhất là khai thác, đánh bắt hải sản xa bờ nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ chủ quyền quốc gia biển, đảo trên biển Đông của Đảng và Nhà nước ta.

 

CHO VAY ĐÓNG MỚI, NÂNG CẤP TÀU CÁ THEO NGHỊ ĐỊNH 67/NĐ-CP TẠI BÌNH THUẬN

Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 (gọi tắt là Nghị định 67) của Chính phủ về một số chính sách phát triển thuỷ sản quy định chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu, bao gồm: (a) Chủ tàu đặt hàng đóng mới tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên; nâng cấp tàu có tổng công suất máy chính dưới 400CV thành tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên và nâng cấp công suất máy đối với tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên để khai thác hải sản xa bờ và cung cấp dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ. (b) Điều kiện vay: Các đối tượng đang hoạt động nghề cá có hiệu quả, có khả năng tài chính và có phương án sản xuất cụ thể, được Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt.

Ngày 10/9/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận ban hành Quyết định 2977/QĐ-UBND về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện các chính sách phát triển thuỷ sản tỉnh Bình Thuận (gọi tắt là Ban Chỉ đạo 67). Ban Chỉ đạo đã tổ chức một Hội nghị cấp tỉnh để triển khai thực hiện Nghị định 67 vào ngày 13/10/2014. Sau hội nghị, Ban Chỉ đạo đã ban hành Quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ cho các thành viên để triển khai thực hiện các nội dung theo Nghị định 67, định kỳ tổ chức họp, kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện. Trên cơ sở đó, Ban Chỉ đạo ban hành Kế hoạch số 3834/KH-UBND ngày 24/10/2014 để triển khai thực hiện Nghị định 67 trên địa bàn toàn tỉnh. Phê duyệt các danh sách đăng ký đóng mới, nâng cấp tàu cá theo Nghị định 67. Đến nay, UBND tỉnh Bình Thuận đã phê duyệt là 134 trường hợp, trong đó: Về nâng cấp, đóng mới: đóng mới 101 chiếc (75 tàu vỏ gỗ, 29 tàu vỏ thép, 06 tàu vật liệu mới); nâng cấp cải hoán 33 chiếc. Về cơ cấu nghề nghiệp: có 15 tàu DVHC, 119 tàu khai thác. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cấp 32 Quyết định cho phép đóng mới, cải hoán tàu cá thuộc danh sách 134 trường hợp đăng ký đóng mới, nâng cấp đã được UBND tỉnh phê duyệt, trong đó: 28 trường hợp đóng mới, 04 trường hợp cải hoán, nâng cấp; Ban chỉ đạo 67 đã có văn bản đề nghị các địa phương tiến hành rà soát để điều chỉnh và báo cáo đưa ra khỏi danh sách đăng ký đóng mới, nâng cấp tàu cá đối với các trường hợp không đủ điều kiện hoặc không có nhu cầu vay vốn theo Nghị định 67.

NHNN chi nhánh tỉnh Bình Thuận đã chỉ đạo các NHTM Nhà nước nắm cổ phần chi phối có chi nhánh trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNo&PTNT); Ngân hàng TMCP Công thương; Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển và Ngân hàng TMCP Ngoại thương) thực hiện các việc sau: tập trung làm tốt công tác tuyên truyền; xây dựng tài liệu tóm tắt điều kiện vay, trình tự thủ tục, thành phần hồ sơ vay để công khai tại địa điểm cho vay, đồng thời gửi Chủ tịch UBND các phường, xã, thị trấn để phối hợp tuyên truyền đến các đối tượng liên quan; thành lập các Tổ công tác tại Chi nhánh, phòng giao dịch để trực tiếp xuống các xã, phường, thị trấn để hướng dẫn người dân hoàn thiện thủ tục vay vốn theo quy định; xem xét cho vay các chủ tàu trong danh sách đã được UBND Bình Thuận phê duyệt, bảo đảm công khai, minh bạch; trong trường hợp từ chối cho vay, NHTM phải có văn bản nêu rõ lý do từ chối gửi cho khách hàng 1 bản, gửi NHNN Chi nhánh Bình Thuận 1 bản để phối hợp giám sát, báo cáo Ban Chỉ đạo 67; định kỳ hàng tháng báo cáo kết quả cho vay, đồng thời kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện (nếu có) về NHNN Chi nhánh Bình Thuận để tổng hợp, báo cáo NHNN Việt Nam và UBND tỉnh Bình Thuận xem xét xử lý. Bên cạnh đó, NHNN Chi nhánh Bình Thuận đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như tổ chức các hội nghị để ngư dân thông hiểu được quy trình, hồ sơ, thủ tục vay đóng mới và nâng cấp tàu cá; gửi thông báo số điện thoại thường trực của NHNN Chi nhánh Bình Thuận và 4 chi nhánh NHTM Nhà nước trên địa bàn để tiếp nhận, xử lý những khó khăn, vướng mắc của người dân liên quan đến việc triển khai chính sách tín dụng phát triển thủy sản theo Nghị định 67. NHNN Chi nhánh Bình Thuận cũng đã phối hợp với Ban Dân vận Tỉnh ủy tổ chức hai buổi tọa đàm tuyên truyền, tư vấn về Chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu cá theo Nghị định 67 tại những nơi có thế mạnh khai thác hải sản xa bờ như thị xã LaGi và huyện đảo Phú Quý, qua đó, thông tin cho các cơ quan chính quyền địa phương và bà con ngư dân biết tình hình triển khai thực hiện chính sách và trực tiếp giải đáp những vướng mắc của bà con ngư dân đối với việc thực hiện chính sách này. Những thông tin NHNN Chi nhánh Bình Thuận cung cấp đã giải đáp thắc mắc của bà con ngư dân trong việc vay vốn như: (1) Có thể sử dụng bản sao bản thiết kế của con tàu có cùng thông số kỹ thuật đã được tỉnh phê duyệt để làm thủ tục xin cấp quyết định cho phép đóng mới, cải hoán tàu; (2) Nên ký hợp đồng với cơ sở đóng tàu sau khi được NHTM đã xem xét phương án và có cam kết cho vay; (3) Không nên trả tiền trực tiếp cho cơ sở đóng tàu vì NHTM sẽ chuyển tiền thanh toán trực tiếp hóa đơn cho cơ sở đóng tàu; (4) Phải sử dụng máy mới 100%; (5) Có thể vay vốn để nâng cấp máy, không nhất thiết phải nâng cấp vỏ; không nâng cấp máy, chỉ gia cố vỏ tàu; không nâng cấp máy chỉ mua sắm ngư lưới cụ, trang thiết bị hàng hải hoặc chỉ mua sắm trang thiết bị bảo quản hải sản, bốc xếp hàng hóa cũng được hưởng chính sách 67 với điều kiện tàu có máy từ 400 CV trở lên; (6) Chủ tàu không phải xuất trình vốn tự có với NHTM, vì vốn tự có tham gia vào việc đóng mới, nâng cấp tàu là số tiền, hoặc vật tư, nhân công do chủ tàu tự bỏ ra theo tiến độ song song với việc giải ngân vốn ngân hàng; (7) Chủ tàu ký hợp đồng với cơ sở đóng tàu không thuộc Danh sách được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc UBND tỉnh phê duyệt thì không được hưởng chính sách ưu đãi này; (8) Thời gian thẩm định giá đầu tư con tàu là phụ thuộc vào cơ quan thẩm định; (9) Chủ tàu được hoàn thuế giá trị gia tăng đối với những chi phí có chứng từ hợp lệ.

Các chi nhánh NHTM Nhà nước nắm cổ phần chi phối: NHNo&PTNT Bình Thuận đã tổ chức hội nghị triển khai, quán triệt về chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định 67 của Chính phủ và Thông tư 22/2014/TT-NHNN của NHNN Việt Nam, các văn bản hướng dẫn của Bộ ngành liên quan và Hướng dẫn của Hội Sở chính. Sau hội nghị đã ban hành Kế hoạch số 1976/NHNo-BTh-TD ngày 04/11/2014, trong đó đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các chi nhánh NHNo&PTNT Phan Thiết; Nam Phan Thiết; La Gi; Hàm Tân; Hàm Thuận Nam; Lương Sơn; Bắc Bình; Phan Rí Cửa; Tuy Phong; Phú Quý và Hội sở NHNo&PTNT Bình Thuận là những nơi có thế mạnh kinh tế biển. Các chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng TMCP Công thương, Ngân hàng TMCP Ngoại thương cũng đã triển khai các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trụ sở chính về cho vay vốn theo Nghị định 67 đến CBCNV trong chi nhánh. Mỗi đơn vị đã cử những cán bộ chuyên trách, hiểu sâu, nắm rõ chính sách tín dụng theo Nghị định số 67 của Chính phủ để triển khai nhiệm vụ theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 67 của Tỉnh. Trên cơ sở văn bản hướng dẫn của Hội sở chính, các đơn vị đã chủ động, tích cực tiếp cận hướng dẫn các chủ tàu nằm trong danh sách UBND Tỉnh phê duyệt hoàn thiện hồ sơ vay vốn. Tạo điều kiện để khách hàng được vay mức cao nhất có thể theo quy định của Nghị định 67, không bắt buộc chủ tàu phải bổ sung thêm tài sản bảo đảm để triển khai đóng mới, nâng cấp tàu. Tài sản đảm bảo khoản vay, mức vay, lãi suất vay thực hiện nghiêm theo quy định tại Nghị định 67, ngân hàng không quy định thêm bất cứ điều kiện nào khác như: yêu cầu thế chấp thêm tài sản khác, áp đặt mức vay thấp hơn quy định, trừ trường hợp chủ tàu tự nguyện hoặc chủ tàu không xuất trình được hoá đơn hợp pháp. Đến nay tất cả mọi vướng mắc khó khăn ban đầu liên quan đến trách nhiệm của ngành ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận đã được tháo gỡ triệt để. Việc xem xét đánh giá hồ sơ vay vốn của chủ tàu cũng được NHNo&PTNT Bình Thuận giải quyết minh bạch, nhanh chóng, hiệu quả hơn, đem lại niềm tin cho cán bộ và bà con ngư dân.

Đặc biệt, các phương tiện thông tin đại chúng như Báo Nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Bình Thuận, Đài phát thanh - truyền hình Bình Thuận và các địa phương trong tỉnh đã tích cực đưa tin tuyên truyền về kết quả triển khai thực hiện chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu cá tại tỉnh Bình Thuận, qua đó góp phần đưa chính sách đi vào cuộc sống, giúp kết quả giải ngân cho vay đóng mới, nâng cấp tàu cá ở Bình Thuận tăng lên rõ rệt.

Kết quả cụ thể

Dựa trên danh sách chủ tàu do UBND tỉnh phê duyệt, NHNo&PTNT Bình Thuận đã tiếp cận 115/ 118 chủ tàu nằm trong danh sách đã được UBND tỉnh phê duyệt, chiếm 97,45%. Kết quả cho thấy trong số 118 chủ tàu, có 26 chủ tàu đã được Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn cấp giấy Quyết định cho phép đóng mới, cải hoán tàu, với 32 chiếc tàu, trong đó 28 chiếc đăng ký đóng mới, 4 chiếc nâng cấp cải hoán. Có 24 chủ tàu đã làm xong các bước cần thiết và nộp hồ sơ vào ngân hàng. Trong những chủ tàu còn lại, có 11 chủ tàu rút khỏi chương trình, trong đó: 7 chủ tàu không đóng nữa do thiếu lao động; 2 chủ tàu không đóng mới, chuyển sang mua tàu cũ; 1 chủ tàu đóng tàu nhỏ hơn 400 CV, 1 chủ tàu đóng xong trước khi Nghị định 67 có hiệu lực. Có khá nhiều trường hợp đang tính toán hiệu quả khai thác và khả năng hoàn trả vốn cho ngân hàng nên đang lưỡng lự chưa xúc tiến việc vay vốn.

Đến ngày 15/8/2015 NHo&PTNT Bình Thuận đã thẩm định 24 hồ sơ và 8 hồ sơ đã được ngân hàng ký hợp đồng tín dụng với tổng số tiền ngân hàng cam kết cho vay đóng mới là 47.840 triệu đồng.

 

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Nhận thức được kinh tế biển là thế mạnh của tỉnh Bình Thuận nên ngay từ khi Nghị định 67 có hiệu lực, do UBND tỉnh Bình Thuận đã chỉ đạo các ngành, các cấp phối hợp với ngành Ngân hàng trên địa bàn triển khai đồng bộ, tích cực chính sách cho vay đóng mới tàu, nâng cấp tàu theo Nghị định 67 của Chính phủ, thể hiện trên 2 mặt tuyên truyền Nghị định 67 và ban hành các quyết định phê duyệt danh sách đăng ký đóng mới, nâng cấp tàu cá xa bờ với quy trình thực hiện khá nghiêm túc, chặt chẽ từ cơ sở. Ngành Ngân hàng nhất là NHNo&PTNT Bình Thuận đã vào cuộc khá tích cực bằng việc đẩy mạnh tuyên truyền, tích cực tiếp cận chủ tàu để hướng dẫn thủ tục hồ sơ cho vay. NHNN Chi nhánh tỉnh Bình Thuận tăng cường đôn đốc, theo dõi sát sao quá trình thực hiện; trực tiếp đi cơ sở, tiếp xúc với ngư dân, nhận diện vướng mắc khó khăn phát sinh, tìm biện pháp tháo gỡ kịp thời, thông báo danh sách điện thoại đường dây nóng để giải đáp vướng mắc của ngư dân, nên đến nay các vướng mắc khó khăn về phía ngân hàng về cơ bản đã được tháo gỡ.

Tuy nhiên, quá trình triển khai còn có một số khó khăn như sau:

Một là, nhiều chủ tàu còn chưa tích cực xúc tiến các bước lựa chọn mẫu tàu (đối với đóng mới), chưa chọn máy tàu (đối với nâng cấp), từ đó chưa làm thủ tục xin cấp quyết định cho phép đóng mới, cải hoán tàu, một số chủ tàu nâng cấp còn có tâm lý muốn thay bằng máy đã qua sử dụng, một số chủ tàu còn khó khăn về vốn đối ứng nên chưa triển khai được.

Hai là, ngư dân Bình Thuận đa số chỉ chọn đóng tàu vỏ gỗ hoặc gỗ phủ comporsite, chỉ có một số ít dự án đóng mới tàu dịch vụ hậu cần mới chọn tàu vỏ thép.

Ba là, đa số các ngân hàng chưa thực sự chú trọng trong việc nghiên cứu áp dụng mô hình cho vay theo chuỗi liên kết giữa khâu đánh bắt với hậu cần, tiêu thụ để tăng hiệu quả và an toàn trong hoạt động cho vay. Trên thực tế, khi đánh bắt xa bờ, các chủ tàu thường phải bám biển dài ngày, họ có thể bán ngay sản phẩm cho các cơ sở hậu cần nghề cá trong nước hoặc của nước ngoài trên biển và trực tiếp thu tiền, nên ngân hàng không kiểm soát được dòng tiền của chủ tàu để thu hồi nợ vay.

Bốn là, một số chủ tàu chưa đáp ứng được các điều kiện vay vốn, nên chưa tiếp cận được vốn vay, cụ thể: điều kiện về tính khả thi của dự án, phương án sản xuất kinh doanh khi làm thủ tục vay đánh bắt xa bờ, dự án đánh bắt xa bờ luôn đòi hỏi vốn đầu tư cao, công nghệ hỗ trợ khai thác hiện đại và chi phí khai thác đánh bắt lớn, trong khi đó việc khai thác xa bờ luôn tiềm ẩn rủi ro lớn, giá bán sản phẩm lại bấp bênh; điều kiện về khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, nhiều chủ tàu không huy động được tỷ lệ quy định về vốn tự có tham gia vào dự án; không chứng minh được nguồn trả nợ nên khó khăn trong việc vay ngân hàng.

Nguyên nhân của những khó khăn nên trên, do: (i) Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển ngư nghiệp, song việc triển khai, tổ chức thực hiện trên địa bàn tỉnh còn chậm, thiếu đồng bộ, nên kết quả còn hạn chế, hiệu quả tác động chưa cao; (ii) Đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ nghề cá theo quy hoạch triển khai chậm do thiếu vốn; nhiều khu neo đậu tránh trú bão, cảng, bến cá đầu tư kéo dài nhiều năm, chậm phát huy hiệu quả, ảnh hưởng đến tốc độ chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngư nghiệp; nhiều địa bàn nghề cá quan trọng thiếu hạ tầng nghề cá thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phòng tránh thiên tai. (iii) Quản lý nhà nước ngành thuỷ sản trên một số mặt còn có hạn chế; việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm; vai trò công tác khuyến ngư còn hạn chế.

Một số bài học kinh nghiệm:

Qua thực tế một năm triển khai thực hiện Nghị định 67 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thuỷ sản, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau đây:

Một là, sự cần thiết đảm bảo đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ nghề cá như các khu neo đậu tránh trú bão, cảng, bến cá;

Hai là, phải thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền một cách khách quan, đầy đủ, kịp thời, và chủ động nắm bắt tình hình khó khăn vướng mắc từ thực tiễn phát sinh để tìm biện pháp tháo gỡ giúp ngư dân vay vốn đóng mới, nâng cấp tàu cá được thuận lợi;

Ba là, các chủ tàu cần nâng cao tính khả thi của dự án khi xin vay đóng mới, nâng cấp tàu hậu cần, tàu đánh bắt hải sản xa bờ; phải có kỹ năng, kỹ thuật đánh bắt tốt và kỹ năng quản lý để đảm bảo khả năng tài chính để trả nợ trong thời hạn cam kết. Do đặc thù ngành nghề hoạt động ngoài khơi xa chịu nhiều rủi ro, nên chủ tàu cần quan tâm thực hiện mua phí bảo hiểm tàu, bảo hiểm thuyền viên trên cơ sở chính sách hỗ trợ của Nhà nước (Nhà nước sẽ hỗ trợ 100% phí bảo hiểm thuyền viên; 70% phí con tàu có tổng công suất máy chính từ 90 CV đến dưới 400 CV; 90% phí con tàu có tổng công suất máy chính từ 400 CV trở lên).

 

GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

Nhằm góp phần phát triển kinh tế thủy sản toàn diện, bền vững, trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, theo hướng hiện đại, có hiệu quả cao, có đóng góp lớn vào giá trị xuất khẩu của tỉnh; tạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động thủy sản và các nghề liên quan, góp phần xóa đói giảm nghèo, đóng góp vào an ninh thực phẩm, ổn định xã hội và phát triển kinh tế ở các địa phương, đặc biệt là vùng biển, hải đảo; góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển. Trong thời gian tới tỉnh Bình Thuận cần đẩy mạnh hơn nữa, tạo điều kiện để nhiều ngư dân được hưởng chính sách 67 một cách nhanh, đầy đủ và thuận tiện, nhưng phải đảm bảo đúng đối tượng, đúng mục đích, tránh bị lợi dụng chính sách như: môi giới vay vốn (cò tín dụng); móc nối với đơn vị bán vật tư, thiết bị, nâng giá thành con tàu để rút tiền tín dụng ra chi sai mục đích.

Chúng tôi cho rằng trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp sau:

Đối với UBND các huyện: Cần nâng cao năng lực, trách nhiệm khi xét duyệt, trước khi tham mưu UBND tỉnh phê duyệt danh sách chủ tàu được vay vốn, tránh tình trạng xét duyệt cho vay nhầm đối tượng đối với chủ tàu không đủ năng lực đánh bắt, năng lực quản lý.

Đối với UBND tỉnh: Cần tăng cường công tác khuyến ngư; đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; đồng thời tiếp tục tuyên truyền, vận động thành lập các tổ đoàn kết, hợp tác xã và các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá để tăng cường tính liên kết, hỗ trợ nhau trong khai thác, đánh bắt xa bờ; đảm bảo tính ổn định lao động trong sản xuất; đáp ứng kịp thời nhu cầu các tàu đánh bắt xa bờ; cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM mở rộng đầu tư, cho vay. Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ, Chương trình hành động số 07 -NQ/TU ngày 14/6/2007 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Thuận khóa XI về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.

Đối với Trung ương: Đề nghị quan tâm đầu tư vốn cho 4 dự án khu neo đậu tránh trú bão, kết hợp làm cảng cá, bến cá ở Phú Hải, Liên Hương, Phan Thiết, Mũi Né để nâng cao cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá tỉnh Bình Thuận, vì hiện nay các luồng lạch cho tàu thuyền ra vào cảng cá, bến cá còn nhỏ hẹp, lại thường xuyên bị bồi lắng gây khó khăn cho tàu thuyền ra vào. Đề nghị sớm bổ sung đối tượng hỗ trợ một lần đối với những chủ tàu đã đóng tàu có công suất lớn, đáp ứng quy định trong Điều 4, Nghị định 67 và thời gian hoàn thành việc đóng tàu này nằm trong thời gian Nghị định 67 có hiệu lực, nếu không vay ngân hàng thì được hưởng một khoản hỗ trợ bằng tiền từ ngân sách Nhà nước.

Chính sách tín dụng đóng mới, nâng cấp tàu cá theo quy định tại Nghị định 67 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thuỷ sản nếu được tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả sẽ là động lực quan trọng khơi dậy tiềm năng và lợi thế so sánh, đẩy mạnh phát triển kinh tế các vùng ven biển, trên biển và hải đảo của tỉnh Bình Thuận, góp phần cùng cả nước thực hiện thành công mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển vào năm 2020, đồng thời góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo, nhất là trên Biển Đông trong giai đoạn phức tạp hiện nay.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thuỷ sản, Thông tư 22/2014/TT-NHNN ngày 15/8/2014 của Ngân hàng Nhà nước và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, Ngành.

2. Quyết định 30/2008/QĐ-UBND ngày 26/3/2008 của UBND tỉnh Bình Thuận ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020;

3. Báo cáo chuyên đề đẩy mạnh phát triển kinh tế biển tỉnh Bình Thuận (Văn bản số 229/BC-UBND ngày 07/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận).

4. Các báo cáo của Ban Chỉ đạo tỉnh Bình Thuận thực hiện các chính sách phát triển thuỷ sản.

 

1 Phó Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Bình Thuận


  • aA
  • Categories:
  • Tạp chí Ngân hàng
OTHER NEWS
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
04/11/2026
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
04/06/2026
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
04/10/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
03/07/2027
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
03/04/2027
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
03/04/2027
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
03/04/2027
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
03/06/2026
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
03/06/2026
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
03/06/2026
Showing 1 to 10 of 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready