Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Tạp chí Ngân hàng

Chứng khoán hóa – một phương thức giải quyết nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Số 24/2015)

15/01/2016 17:36:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Chứng khoán hóa – một phương thức giải quyết nợ xấu của các tổ chức tín dụng

Hoàng Lan1

 

Nợ xấu không chỉ là vấn đề nhức nhối của hệ thống ngân hàng mà là cục máu đông của toàn bộ nền kinh tế, có nhiều cách để xử lý nợ xấu, nhưng bằng kinh nghiệm gần 50 năm của các quốc gia phát triển như: Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản, hoặc các quốc gia đang phát triển có giai đoạn nợ xấu báo động như: Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, thì việc sử dụng phương thức chứng khoán hóa (CKH) xử lý nợ xấu được xem là công cụ xử lý nợ xấu hữu hiệu, an toàn, sáng tạo của thế giới dịch vụ tài chính, thông qua CKH, nợ xấu được xử lý trên cơ sở xã hội hóa đầu tư.

Việt Nam đang hội nhập mở cửa thị trường tài chính và cũng đang thực hiện nhiệm vụ quan trọng và nặng nề là việc xử lý nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) cùng với thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng thương mại (NHTM).

Chính vì vậy, trong phạm vi bài này sẽ tập trung phân tích, đánh giá, để làm rõ các vấn đề về:

- CKH là gì?

- Vì sao CKH giải quyết được nợ xấu một cách hiệu quả?

1. Khái quát chung về CKH (Securitization)

1.1. Khái niệm về CKH

Từ những năm 1970s tại Mỹ, nhất là 1990s tại các nước phát triển, cùng với sự bùng nổ của ngân hàng, CKH được ứng dụng vào thực tiễn hoạt động tài chính của ngân hàng, doanh nghiệp đã rất phát triển và mang lại hiệu quả to lớn. Có rất nhiều khái niệm về CKH đều nhằm giải quyết chung mục đích chuyển các tài sản có tính lỏng thấp thành tài sản có tính lỏng cao, thông qua CKH có thể huy động vốn với chi phí thấp hơn. Theo định nghĩa của Ủy ban chứng khoán Mỹ thì: CKH là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành chứng khoán nợ (gọi chung là chứng khoán đảm bảo bằng tài sản). Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền. CKH chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại. Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao.

Việc đặt tên “chứng khoán hóa” bắt nguồn từ thực tế, CKH là một quá trình tài trợ cấu trúc (phát hành chứng khoán Nợ để tài trợ vốn) và các công cụ tài chính được sử dụng để có được các nguồn tài trợ có hình thức là các chứng khoán nợ được xã hội hóa đầu tư.

1.2. Nguồn gốc hình thành và phát triển của CKH

Chứng khoán hóa là một loại sản phẩm tài chính cấu trúc ra đời từ thị trường tài chính (TTTC) Hoa Kỳ, với những nguyên nhân cơ bản sau:

(i) Phía ngân hàng:

- Tài sản thế chấp là bất động sản “nằm chết” tại các ngân hàng;

- Xử lý hiệu quả nợ xấu.

(ii) Phía nền kinh tế:

- Nhu cầu hàng hóa của TTTC tại Mỹ 1970s không đủ đáp ứng khẩu vị nhà đầu tư;

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn vay từ các ngân hàng...

Khái niệm CKH chính thức xuất hiện vào đầu những năm 1970s với việc phát triển của thị trường chứng khoán được đảm bảo bắt đầu bằng các khoản vay có thế chấp (mortgage back securities - MBS). CKH được thực hiện thành công khi ba tổ chức liên bang - Hiệp hội tài sản cầm cố Quốc gia (Government National Mortgage Association GNMA), Hiệp hội cho vay thế chấp liên bang (FNMA hay Fannie Mae) và Công ty cho vay mua nhà thế chấp liên bang (Federal Home Loan Mortgage Corporation FHLMC hay còn gọi là Freddie Mac) bảo lãnh các khoản cho vay thế chấp mua nhà (MBS).

Ngay sau đó, CKH không dừng ở các khoản cho vay thế chấp mua nhà mà đã lan sang tất cả các tài sản khác của ngân hàng và ngày càng phát triển, bùng nổ, trở nên tinh vi và phức tạp vào những năm tiếp theo.

CKH được du nhập vào châu Âu giữa những năm 1980s, đánh dấu bằng giao dịch CKH đầu tiên được tiến hành ở Anh năm 1987 dưới dạng MBS. Giá trị các giao dịch CKH đã tăng lên rất nhanh với các đợt phát hành trên thị trường châu Âu thống nhất mà chủ yếu là các thị trường Pháp, Đức và Ý.

Vào đầu những năm 1990s, nhiều ngân hàng, các công ty tài chính trên thế giới gặp khó khăn về tài chính. Họ đã nhanh chóng áp dụng mô hình ABS để CKH các khoản vay, loại những khoản nợ xấu, lành mạnh hoá hoạt động tài chính. Công cụ này gọi là CDO (Collateratized Debt Obligation), sau CDO là CLO (Collateralised Loan Obligation) và CBO (Collateratized Bond bligation). Những công cụ mới này đã giúp giới tài chính trên toàn thế giới có thêm nhiều công cụ cực kỳ mạnh mẽ và linh hoạt tham gia thị trường tài chính thế giới.

Tại châu Á, các giao dịch CKH trở nên phổ biến, bắt đầu tại Nhật Bản và Hồng Kông là những quốc gia có thị trường bất động sản rất phát triển vào đầu những năm 1990s. Còn giai đoạn ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 - 1998 thì CKH là công cụ đắc lực được dùng để xử lý nợ xấu. Sau đó, các giao dịch CKH với việc phát hành ABS trở nên phổ biến tại Thái Lan, Hàn Quốc vào những năm 2000s.

Sự phát triển của thị trường CKH cho thấy có rất nhiều cách phân loại các sản phẩm phụ thuộc vào tài sản được CKH như vay nhà thế chấp, vay tiêu dùng (mua ô tô, thẻ tín dụng...) hoặc trên cơ sở thương mại (thuê tài chính, giấy tờ thương mại). Gần đây, CKH đã được được sử dụng để thúc đẩy phát triển dự án năng lượng mặt trời điện quang điện. Ví dụ, SolarCity cung cấp đầu tiên của Mỹ tài sản được bảo mật trong ngành công nghiệp năng lượng mặt trời vào năm 2013.

Ngày nay, các giao dịch chứng khoán hóa đã trở nên rất phổ biến trên các thị trường tài chính khu vực và quốc tế, trong đó rất nhiều giao dịch được thực hiện ở phạm vi đa quốc gia (cross-border) và phát hành trái phiếu châu Âu (euro bonds).

Tại Việt Nam, cho tới nay, kỹ thuật CKH theo thông lệ quốc tế hầu như các NHTM chưa thực hiện, tuy nhiên, trên thực tế đã có một số giao dịch phát hành chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản thế chấp mua nhà và tín dụng tiêu dùng bắt đầu xuất hiện từ 2007, đây là cơ sở để phát triển nghiệp vụ CKH trong thời gian tới.

1.3. Mô hình cơ chế hoạt động CKH của CKH (Sơ đồ)

 

Sơ đồ về mô hình và cơ chế chứng khoán hóa.

 

   

 

   TSĐB(1)

 

 

 

CCDV(3)

   

Phí(7)

   

   Chứng khoán nợ(4)

 

 

 

 

 

 

Tóm tắt cơ chế:

(a) Khách hàng: Là người có nhu cầu vay vốn từ người khởi tạo (giả sử là một NHTM), nên phải chuyển tài sản đảm bảo (TSĐB) cho NHTM.

(b) TCTD, các doanh nghiệp khác có những khoản nợ/tài sản muốn chứng khoán hóa được gọi là những người khởi tạo (originators). Người khởi tạo thực hiện việc bán đứt (chuyển dịch sở hữu và rủi ro) các khoản nợ được đảm bảo bằng TSĐB (gọi là TSC) cho trung gian đặc biệt (SPV).

(c) Sau khi đánh giá chi tiết danh mục tài sản (TSC), thực hiện thủ tục nâng cao tín dụng, SPV sẽ phát hành chứng khoán được đảm bảo bằng TSC gọi là các chứng khoán nợ.

(d) Tổ chức cung cấp dịch vụ, thực hiện mọi công việc theo yêu cầu của SPV và hưởng phí, để bán chứng khoán nợ cho nhà đầu tư và thu tiền. Tiền bán chứng khoán nợ mà SPV thu [T(5)]về chủ yếu để tiền mua [T(6)]TSC cho người khởi tạo.

Các tổ chức cung cấp dịch vụ như: công ty bảo lãnh, công ty xếp hạng, các công ty dịch vụ, công ty kiểm toán, nhà tư vấn pháp lý, công ty định mức tín nhiệm, công ty dịch vụ thu nợ, công ty quản lý ủy thác, công ty giám sát. Trong đó công ty quản lý đóng vai trò chính thực hiện các nhiệm vụ của SPV bao gồm quản lý danh mục tài sản, thu các khoản gốc và lãi của tài sản từ khách hàng, gửi thư nhắc nhở đôn đốc việc thu hồi nợ đúng hạn và thực hiện các thủ tục xiết nợ khi cần thiết,…, thanh toán gốc và lãi cho nhà đầu tư chứng khoán nợ theo đúng thứ tự ưu tiên, đến nhà đầu tư cuối cùng.

1.4. Sự cần thiết và lợi ích của CKH

CKH là một sáng kiến rất thành công của ngành tài chính tạo ra sự đột phá đa dạng và mang lại rất nhiều lợi ích khác nhau nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của các thành viên tham gia quy trình CKH, để tất cả đều được hưởng lợi từ chủ thể tạo lập tài sản, SPV, các công ty quản lý, dịch vụ, nhà đầu tư,…, và cả nền kinh tế, chẳng hạn:

(i) Đối với người khởi tạo

CKH giúp huy động vốn với chi phí thấp hơn mức tín nhiệm hiện tại của người khởi tạo, cải thiện chỉ số an toàn vốn tối thiểu (CAR), tránh được sự suy giảm của thị trường, cải thiện được tỷ số tài chính, cải thiện thứ hạng tín dụng, quản lý rủi ro tốt hơn, giúp giảm chi phí vốn, tăng thu nhập và tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn của tất cả các DN/cá nhân, giúp chuyển giao và phân tán rủi ro, tạo kênh huy động vốn khác ngoài tín dụng ngân hàng, tạo ra hàng loạt các công cụ tài chính năng động từ chứng khoán ngắn hạn, dài hạn cho tới chứng khoán coupon thấp, chứng khoán coupon cao,… và đối với các doanh nghiệp thay đổi chiến lược kinh doanh và muốn thoái bỏ một số tài sản không còn mang tính chiến lược thì CKH là một giải pháp phù hợp.

(ii) Đối với nhà đầu tư (NĐT)

CKH mang lại nhiều sản phẩm và cơ hội đầu tư mới mà trước đây họ không thể tiếp cận. Một số nhà đầu tư mua chứng khoán nợ vì mục đích sinh lời cao trong khi một số khác đầu tư vì mục đích đa dạng hóa danh mục đầu tư, do chứng khoán nợ phát hành có thể được cấu trúc theo nhiều mức độ rủi ro khác nhau tùy theo định mức tín nhiệm của từng gói chứng khoán phát hành (tranche).Thay vì chịu rủi ro đầu tư vào các khoản nợ riêng lẻ, các nhà đầu tư có thể đầu tư vào một nhóm với nhiều khoản nợ đa dạng. CKH ảnh hưởng của từng khoản nợ là khá nhỏ, có thể đánh giá rủi ro tổng thể bằng cách xem xét các đặc tính của cả nhóm nợ. Các nhà đầu tư có thể chọn các mức độ rủi ro mà họ có thể chấp nhận được bằng cách đánh đổi khoản lãi, và có thêm một công cụ đầu tư mới với suất sinh lợi cao hơn trái phiếu Chính phủ và độ tin cậy tương đối ổn định,…

(iii) Đối với nền kinh tế

Thúc đẩy thị trường tài chính phát triển: CKH cho phép các định chế như: ngân hàng, các tổ chức tài chính khác (công ty bảo hiểm, công ty tài chính) các doanh nghiệp phi tài chính,... chuyển đổi các tài sản chưa sẵn sàng tham gia thị trường thành các chứng khoán được định giá để có thể mua bán trên thị trường thứ cấp, tạo thêm nguồn cung cho thị trường chứng khoán. Như vậy, kỹ thuật CKH đồng thời giải quyết được tình trạng khan hiếm nguồn vốn và tạo hàng hóa cho thị trường chứng khoán. Thông qua kỹ thuật này mà tốc độ lưu thông nguồn vốn trên thị trường nhanh hơn, trở thành chất xúc tác cho sự tăng trưởng ổn định của thị trường tài chính. Đồng thời tạo tính liên thông giữa thị trường tín dụng, thị trường bất động sản và thị trường vốn.

Mặt khác, CKH còn làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế do CKH mang lại lợi ích cho ngân hàng, không chỉ trên phương diện cung ứng thêm các tài sản cho thị trường, đáp ứng nhu cầu cho công chúng và cho doanh nghiệp, mà chứng khoán hóa còn giúp chuyển những khoản cho vay và các tài sản khác thành nguồn vốn cho ngân hàng, góp phần làm tăng năng lực tài chính cho ngân hàng. Và quan trọng hơn, CKH còn giúp các TCTD giảm hiệu quả nợ xấu, làm lành mạnh nền kinh tế.

Ở Việt Nam, với đặc thù nền kinh tế còn phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng để đầu tư phát triển: Theo số liệu thống kê cho đến thời điểm 30/9/2015, thì để tăng 0.8% GDP đòi hỏi tín dụng ngân hàng phải tăng 1%, nên lợi ích của việc có một thị trường để các doanh nghiệp Việt Nam có thể huy động vốn ngoài kênh ngân hàng đã cho thấy sự cần thiết phải có một thị trường CKH tại Việt Nam. Vì vậy, đã đến lúc các doanh nghiệp Việt Nam cần nghĩ đến việc ứng dụng CKH trong hoạt động huy động vốn trung và dài hạn để tận dụng các lợi ích cho những doanh nghiệp có tài sản tài chính phù hợp cho các quy trình CKH, mà nhiều lợi ích trong số đó không thể có được với các phương thức huy động vốn khác. Mặt khác, với trình độ phát triển ở mức sơ khai của thị trường chứng khoán Việt Nam, phát hành trái phiếu doanh nghiệp thông qua kỹ thuật CKH sẽ dễ thu hút sự quan tâm, chấp nhận của công chúng đầu tư do tính an toàn, minh bạch cao của các chứng khoán nợ, do vậy khả năng thành công của đợt phát hành là rất cao, đồng thời, qua đó sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển của thị trường tài chính, trong đó có thị trường chứng khoán phái sinh.

1.5. Rủi ro trong hoạt động SPTCCT

Xét một cách tổng thể các chủ thể tham gia chứng khoán hóa thì rủi ro được san sẻ, tuy nhiên có một số rủi ro chính như: Rủi ro đạo đức, rủi ro về cung cấp thông tin, rủi ro đến từ thị trường bất động sản và sự thay đổi liên quan đến môi trường pháp lý, đều có thể gây ra rủi ro cho CKH.

Bởi lẽ, quá trình CKH có thể biến gần như bất cứ tài sản rủi ro nào thành tài sản bảo đảm để tiếp tục quá trình huy động vốn, do đó việc sử dụng đòn bẩy tài chính gần như vô hạn. Nếu quy trình này bị lạm dụng và không được kiểm soát được thì sẽ có thể tạo ra rủi ro hệ thống hết sức nguy hiểm. Đặc biệt là khi khủng hoảng xảy ra, thường ảnh hưởng đến hệ thống tài chính, tiếp theo là thị trường bất động sản biến động và khủng hoảng, các khoản đầu tư bất động sản (nhà cửa, đất đai...) không có khả năng thu hồi xuất hiện với mức độ cao, nhiều khoản nợ mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng trực tiếp đến các dòng tiền của các khoản nợ đã thực hiện CKH. Đồng thời thị trường chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng, theo đó giá các loại cổ phiếu của các định chế tài chính trung gian giảm mạnh, đặc biệt đối với lớp chứng khoán nợ là cổ phiếu, tạo yếu tố tâm lý bất an từ nhà đầu tư và gây nên làn sóng bán tháo, và hiệu ứng bất lợi cho toàn bộ nền kinh tế.

1.6. Các loại CKH

Gồm 3 loại cơ bản sau:

(i) CKH các khoản cho vay và tài sản khác (Assets and loans securitization) của NHTM;

(ii) CKH cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Securitization of Small Business Loans);

(iii) CKH nợ xấu của TCTD.

2. Chứng khoán hóa với việc xử lý nợ xấu của các TCTD

2.1. Thế nào là chứng khoán hóa nợ xấu - CKH NPLs (non-performing loan securitizations) của NHTM.

(i) Khái niệm về CKH nợ xấu

CKHNPL là một hình thức đặc biệt của chứng khoán hóa, trên cơ sở định giá lại nợ xấu theo thị trường (phù hợp với tỷ lệ lợi nhuận và rủi ro hình thành trên thị trường) theo nguyên tắc thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận (nguyên tắc HR’-HR), nhằm xử lý hiệu quả nợ xấu, tăng tính lỏng các khoản nợ xấu, nâng cao tỷ lệ thu hồi tài sản, gia tăng lợi nhuận và khuếch tán rủi ro, từ đó thúc đẩy và đảm bảo giảm tỷ lệ các khoản vay không hiệu suất trong tổng dư nợ của ngân hàng.

Chứng khoán hóa nợ xấu là một dạng đặc biệt của chứng khoán hóa trên tài sản và cũng là một quy trình chuyển đổi món vay hoặc khoản phải thu thành công cụ có thể chuyển nhượng. Đây là hoạt động được thiết kế nhằm loại bỏ tài sản xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán, làm tăng hệ số an toàn vốn và đáp ứng tình hình thanh khoản của các tổ chức tín dụng. Là việc phát hành chứng khoán trên cơ sở giá trị của các khoản phải thu được phân loại “bad debt” mà một ngân hàng/tổ chức tín dụng đang sở hữu.

Trong lịch sử, chứng khoán đầu tiên trên thế giới của các khoản vay xấu xuất hiện tại Mỹ, sau đó chứng khoán các khoản nợ xấu được sử dụng ở một số nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Ý, Thái Lan, Malaysia, và Trung Quốc. CKHNPL đã mang lại hiệu quả đáng khích lệ đến mức nó được coi như “một quả táo xấu, khi thái lát (thực hiện CKHNPL), trở thành một quả táo tốt?”

Làm thế nào để nó thực sự xảy ra: Các phép lạ mà chứng khoán hóa nợ xấu không phải là để biến xấu thành tốt. Quay trở lại câu hỏi: quả táo xấu sẽ trở thành một quả táo tốt khi được cắt lát?, mà thực chất phần của quả táo xấu (phần tốt) được phân chia và trao cho người ngoài, trong khi phần xấu được giữ lại bởi người khởi tạo hay nhà đầu tư ưa mạo hiểm khác.

Do việc thanh toán chứng khoán nợ theo cơ chế thẩm thấu dần hay cơ chế thác nước (waterfall). Theo cơ chế này danh mục tài sản sẽ được chia thành các lớp nhỏ (căn cứ vào mức độ rủi ro của chứng khoán nợ) phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư và chất lượng của các loại tài sản ban đầu với nguyên tắc HR’-HR. Chứng khoán nợ phát hành được chia ít nhất thành: lớp cao cấp/ ưu tiên (lớp A), lớp thứ cấp/thứ hai(lớp B); và lớp cổ phiếu (lớp UR/lớp C) thường do tổ chức khởi tạo nắm giữ như một phần bắt buộc của CKH, nếu danh mục tín dụng hoạt động tốt, lớp này sẽ hưởng nhiều lợi nhuận nhất (và ngược lại sẽ hứng chịu gần như toàn bộ rủi ro của CKHNPL).

(ii) Hiệu quả của dùng CKH để xử lý nợ xấu

Do CKHNPL là hình thức đặc biệt của CKH nói chung, nên ngoài những lợi ích như đã đề cập ở (phần A .4), khi dùng CKH để xử lý nợ xấu, nó còn mang lại các hiệu quả sau:

- Hầu hết các quá trình CKHNPL đã được hỗ trợ đáng kể bởi các tài sản thế chấp hoặc phần rủi ro nhất được giữ lại bởi các ngân hàng có nguồn gốc nợ xấu, hoặc được tăng cường tín dụng một mức độ đáng kể của các đơn vị bảo lãnh.

- Giảm rủi ro bán tháo tài sản thế chấp, cho phép có thêm giải pháp về bước đệm (đặc biệt là thông qua tài sản chủ sở hữu), có thể củng cố giá tài sản và giá trị tài sản thế chấp, do việc mua lại tài sản thế chấp bị tịch biên có thể giảm rủi ro thị trường mà ngân hàng phải đối mặt từ việc cơ cấu nợ xấu. Trên cơ sở đó xây dựng thị trường thứ cấp cho các khoản nợ xấu sẽ giảm các áp lực về thu thập nợ đối với các ngân hàng. Thanh khoản thị trường thứ cấp cho các khoản nợ có vấn đề và tịch biên hoặc sẽ tịch biên các tài sản thế chấp sẽ tăng cường hoạt động quản lý rủi ro của ngân hàng bằng cách cung cấp các công cụ khác để quản lý rủi ro tín dụng và thị trường. Và theo thời gian, thị trường có thể trở thành công cụ hoạt động tiêu chuẩn để quản lý rủi ro. Đồng thời giá trị của tài sản thế chấp không thể hỗ trợ giá trị của khoản nợ (trong trường hợp mất khả năng trả nợ) thì CKH nợ xấu giúp ngăn chặn rủi ro lỗ của tài sản thế chấp bị lan truyền. Đặc biệt, khi thị trường bất động sản biến động không tốt, CKH là công cụ hữu hiệu để khai thác giá trị tài sản, và chỉ thực hiện việc bán tài sản khi có giá trị cao nhất và sản phẩm của nó là các chứng khoán có tính thanh khoản cao.

- CKH nợ xấu sẽ là lựa chọn hấp dẫn cho các TCTD, vì có thể giảm trừ giá trị nợ xấu trên bảng cân đối kế toán, đáp ứng về thanh khoản với kỳ hạn dài và tránh rủi ro mất vốn do khoản nợ xấu đem lại.

- Khi nợ xấu vẫn giữ và không chứng khoán hóa, thì các TCTD phải chịu áp lực tăng vốn tự có do duy trì hệ số an toàn vốn CAR tối thiểu. Đồng thời, giúp các TCTD giảm chi phí khôi phục khoản nợ bằng cách cung cấp biện pháp thay thế cho các quy trình tịch biên tài sản tốn kém và cồng kềnh, cũng như tạo nguồn thu và vốn miễn phí để hỗ trợ các khoản cho vay mới, do pháp nhân đặc biệt dùng nguồn thu từ phát hành chứng khoán để “mua” lại tài sản từ chủ tài sản ban đầu, không phải dùng đến vốn ngân sách để xử lý nợ xấu trong quá trình CKH.

- CKH xử lý nợ xấu sẽ huy động được lượng vốn đáng kể từ các nhà đầu tư (các đối tượng bị hạn chế đầu tư) là các quỹ đầu tư nợ xấu chuyên nghiệp, các công ty bảo hiểm… Như vậy, các TCTD có cơ hội nhận được “tiền tươi, thóc thật” hơn và hạn chế sử dụng ngân sách hoặc các nguồn vốn khác từ Chính phủ để xử lý nợ xấu, đồng thời tận dụng tối đa tiền nhàn rỗi của nhà đầu tư, kích thích thị trường mua bán nợ xấu phát triển nhanh hơn.

2.2. Tính vượt trội của chứng khoán nợ hình thành qua CKH so với các loại chứng khoán nợ khác

Vì sao chứng khoán nợ được hình thành qua chứng khoán nợ lại có thể thu hút được các nhà đầu tư kể cả nhà đầu tư khó tính nhất (vừa cẩn trọng vừa mong muốn có lợi nhuận cao), là do:

(i) Chứng khoán nợ an toàn hơn: chứng khoán nợ không chỉ được đảm bảo bằng tài sản thế chấp đã được chiết khấu theo giá thị trường khi SPV mua và bằng dòng tiền sinh lời của tài sản chính, mà còn luôn được đảm bảo bởi bên thứ 3 có mức tín nhiệm tương đương với trái phiếu loại A đã phát hành, và một số nguồn được phép khác hình thành trong quá trình CKH (quỹ an toàn, quỹ dự phòng, quỹ tái đầu tư từ trái phiếu chính phủ của SPV,,..).

(ii) Chứng khoán nợ minh bạch hơn: CKH yêu cầu cung cấp và thuyết trình số liệu chính xác cho nhà đầu tư. Công ty định mức tín nhiệm và các nhà đầu tư đòi hỏi cung cấp, thuyết trình số liệu minh bạch hóa các thông tin liên quan đến tài sản CKH nhằm đưa ra mức định mức tín nhiệm tối ưu nhất. Phải có cơ sở dữ liệu đáng tin cậy để có thể dự báo được dòng thu nhập trong tương lai. Mọi hoạt động của SPV liên quan đến chứng khoán nợ bán cho nhà đầu tư phải được cáo bạch và cam kết thực hiện.

(iii) Xã hội hóa đầu tư cao hơn: khi phát hành các chứng khoán nợ dù cho xếp hạng tín dụng của tổ chức khởi tạo thấp thì vẫn có thể phát hành những chứng khoán có chất lượng cao. Việc xếp hạng chứng khoán cao không những giúp giảm chi phí nguồn vốn mà còn cho phép các nhà đầu tư lớn như các công ty bảo hiểm (có thể mua cả dưới hình thức phát hành riêng lẻ), đối tượng được coi là đầu tư tinh tế, thường bị cấm đầu tư vào các tài sản có tính lỏng xếp hạng thấp, có thể mua các loại chứng khoán này. Ngoài ra còn thu hút được rất nhiều nhà đầu tư mua, bán chứng khoán nợ trên cơ sở tài sản chính do SPV phát hành như: các quỹ hưu trí, quỹ tương trợ, ngân hàng, nhà đầu tư cá nhân,…

(iv) Chứng khoán nợ đa dạng hơn phù hợp hơn với mọi “khẩu vị” của nhà đầu tư:

Chứng khoán nợ hình thành từ CKH chủ yếu là các loại như trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ và cổ phiếu. Chứng khoán nợ thường được chia thành rất nhiều loại, thứ hạng khác nhau về thời gian đáo hạn, tỷ suất sinh lời và mức độ rủi ro, phương thức thanh toán,.., bán ra thị trường và nhà đầu tư có rất nhiều sự lựa chọn gói trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa tùy theo sở thích rủi ro của mình (chẳng hạn loại A thì không có rủi ro). Đây cũng chính là động lực kích thích nhu cầu mua các loại trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa. Riêng với chứng khoán không phân loại, không được định mức tín nhiệm, có mức độ rủi ro tín dụng cao nhất, do đó có tính chất như cổ phiếu, nó có thể sẽ hưởng nhiều lợi nhuận nhất (và ngược lại), nên rất thu hút các nhà đầu tư ưa mạo hiểm.

2.3. CKH giúp tối đa hóa giá trị tài sản được đảm bảo của nợ xấu

(i) Theo quy trình của CKH, người khởi tạo sẽ thu được ngay số tiền bán nợ xấu (NPL) cho SPV (trong khoảng thời gian từ 5 đến 30 ngày) sau khi trừ đi số tiền người khởi tạo người khởi tạo đã mua cổ phiếu.

(ii) Các chứng khoán nợ đảm bảo bằng tài sản thế chấp của nợ xấu thường được thanh toán theo kỳ hạn và lãi suất như bản cáo bạch của SPV.

(iii) Trường hợp xấu nhất là phải bán tài sản thế chấp được thực hiện vào cuối kỳ hạn nợ của lớp B hoặc khi có thể bán tài sản thế chấp tại mức cao nhất của thị trường. Dù có phân chia chứng khoán nợ theo loại nào thì nếu xảy ra tổn thất chỉ có lớp cổ phần cổ phiếu chịu thiệt hại, nhưng thực tế trong khoảng thời gian CKH trung bình là 4 năm, đủ để SPV lựa chọn thời điểm thích hợp để tối đa hóa giá trị của tài sản cơ sở và lợi suất trung bình của lớp này thường đạt khoảng 25%, nhờ biện pháp tăng cường tín dụng và sự ấm lên của thị trường theo chu kỳ hoặc nhờ vào sự phân tán rủi ro của nhóm tài sản chính được CKH.

Xuất phát từ những lý do như đã phân tích ở trên, CKHNPL là lựa chọn của không ít quốc gia, có thể dùng SPV phân tán hay tập trung, tuỳ vào điều kiện phát triển của từng nước.

Đối với những nước có thị trường tài chính phát triển như Mỹ, Nhật và EU đều áp dụng mô hình CKH phân tán. Theo đó, người khởi tạo có thể thành lập riêng cho mình một SPV hoặc thông qua một SPV độc lập khác tiến hành CKH các khoản nợ của mình.

Còn những nước đang phát triển, đang trong quá trình hoàn thiện về mặt thị trường tài chính nói chung cũng như hoàn thiện kỹ thuật CKH nói riêng như Hàn Quốc, Thái Lan, Maliasia,Trung Quốc, thì dùng SPV tập trung, với phương thức này chính phủ thường tham gia vào hoạt động CKH theo 2 cách:

- Đối với với việc CKH NPLs, trước tiên chính phủ thành lập công ty để mua nợ xấu từ các ngân hàng, sau đó với thành lập SPV.

- Đối với CKH theo hình thức phát hành riêng lẻ, thì có thể chính phủ yêu cầu hoặc tự các ngân hàng tìm được nhà đầu tư trước khi tiến hành các bước CKH nợ xấu. Đối với CKH nợ xấu theo hình thức phát hành ra công chúng, để tiết kiệm chi phí các ngân hàng tập hợp lại cho đủ lớn khoảng $ 50 triệu, thì có thể chính phủ yêu cầu hoặc tự các ngân hàng thỏa thuận một số nhóm các ngân hàng đồng thành lập một SPV.

NHTM Việt Nam đang trong quá trình tiếp tục thực hiện xử lý nợ xấu, giải pháp để giảm nhanh nợ xấu hiện nay là bán nợ xấu cho VAMC và trông đợi VAMC giải quyết giúp cho mình, nhưng với cơ chế hiện hành liệu VAMC có thỏa mãn được sự kỳ vọng về xử lý nợ xấu? Vì vậy, cần phải có một giải pháp tài chính mới để nhanh chóng giải quyết các khoản nợ có vấn đề, mang tính cấp bách và thường xuyên. Với những ưu điểm vượt trội như đã phân tích thì CKH là một giải pháp tốt cả cho VAMC, để xử lý nợ xấu mà nhiều nước phát triển và đang phát triển đã thành công khi triển khai, đặc biệt là Hàn Quốc chỉ sau vài năm, tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 16,4% (tháng 3/1998) xuống còn 3,4% (năm 2002).

CKH còn được coi là bước chuyển tiếp đan xen, là hỗ trợ khi còn thiếu vắng thị trường mua bán nợ. Với thời gian của quy trình CKH nợ xấu thông thường là 4 năm, là bước đệm cần thiết cho việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển của thị trường mua bán nợ (distressed debt market) tại Việt Nam, cũng thời gian thích hợp cho thị trường bất động sản tại Việt Nam hồi phục hoàn toàn, và như quy luật tự nhiên của thị trường, theo thời gian các TCTD có thể tự thành lập SPV phân tán và dùng CKH như dịch vụ kinh doanh thường xuyên để không chỉ xử lý hiệu quả nợ xấu mà còn tận dụng được các lợi ích khác của CKH.

Từ những minh chứng vận hành thành công trong thực tiễn như đã nêu trên cùng với các nghiên cứu đánh giá của các chuyên gia, có thể khẳng định, dùng CKH giải quyết triệt để nợ xấu là lựa chọn mà Việt Nam cần cân nhắc áp dụng ngay. Hầu hết các yếu tố trong quy trình CKH nợ xấu ở Việt Nam về cơ bản đã có, đặc biệt là hàng hóa muốn CKH và nhà đầu tư là hai yếu tố quan trọng nhất. Trước mắt nên lựa chọn những nợ xấu có tính thanh khoản cao tập hợp lại để CKH nợ xấu và lựa chọn nhà đầu tư đang có sẵn tại Việt Nam và thực hiện phát hành riêng lẻ. Nhưng để tiến hành CKH nợ xấu (i) thì Chính phủ cần tháo gỡ một số bất cập sau:

- Cần cho phép VAMC mua đứt nợ xấu theo giá thị trường, đến 2016 việc VAMC mua nợ sẽ thuận lợi hơn, khả thi hơn khi các TCTD đã trích dự phòng rủi ro khoản nợ được 40% giá trị, cộng với số đã trích rủi ro trước khi bán tối thiểu 5% giá trị, như vậy TCTD đã trích được tối thiểu 45% giá trị khoản nợ, giá trị nợ xấu chỉ còn lại 55% là điều kiện tốt để VAMC định giá mua đứt nợ xấu của các NHTM.

- Trong giai đoạn thí điểm CKHNPL cần có sự bảo lãnh của Chính phủ hay doanh nghiệp có hạng tín nhiệm loại A. Việc Chính phủ chỉ tham gia bảo lãnh chứng khoán nợ ở lớp A, thực chất chỉ để thị trường làm quen và yên tâm với loại hàng hóa này, vì nếu xảy ra khả năng xấu nhất thì chỉ lớp C cùng lắm là một phần của lớp B chịu rủi ro, còn lớp A theo kinh nghiệm của các nước khi thực hiện CKH nợ xấu, chưa từng xảy ra rủi ro ở lớp này, thay vào đấy lợi suất của lớp C thường trên 25%.

- Tạo điều kiện thông thoáng khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình CKH nợ xấu, đặc biệt là khi thực hiện thí điểm.

- Từng bước cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động CKH theo hướng thống nhất, minh bạch, tránh sự chồng chéo, phù hợp với thông lệ quốc tế như: bảo vệ quyền của người cho vay, tạo điều kiện xử lý nhanh gọn tài sản thế chấp,…, đồng thời bổ sung các quy định về tổ chức và hoạt động của các đối tượng tham gia quá trình chứng khoán hóa gồm các thành viên trong quy trình CKH nợ xấu, đặc biệt là SPV, bảo đảm một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ giúp cho thị trường chứng khoán phái sinh vận hành hiệu quả, ổn định.

Tuy nhiên, CKH có nhiều lợi ích và vai trò lớn trong hoạt động xử lý nợ xấu, nhưng không phải không có mắt trái, vì vậy khi thực hiện CKH nợ xấu cần lưu ý các rủi ro mà CKH nợ xấu có thể xảy ra như đã nêu (tại A.5), và bài học rút ra từ kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ (2007 - 2009) mà một trong những nguyên nhân chính là CKH nợ dưới chuẩn.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Phạm Thúy Loan (2000), “Kỹ thuật chứng khoán hóa trong hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp”, Tạp chí Ngân hàng số 1.

2. Dương Thị Phượng (2003), “Lợi ích và rủi ro tiềm năng của chứng khoán hóa”, Tạp chí chứng khoán Việt Nam, số 2.

3. Mạc Quang Huy(2009).”Cẩm nang ngân hàng đầu tư”; Nhà xuất bản Thống kê. Hà Nội 6/2009.

4. Reis-Roy, Calvin (1998). Tạp chí Luật Ngân hàng Quốc tế 13 (9): 298-304.

5. Reis-Roy, Calvin (2003). Một phân tích của Luật và thực hành của Securitisation.

 

1 Cơ quan TTGS - NHNNVN


  • aA
  • Categories:
  • Tạp chí Ngân hàng
OTHER NEWS
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
04/11/2026
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
04/06/2026
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
04/10/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
03/07/2027
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
03/04/2027
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
03/04/2027
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
03/04/2027
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
03/06/2026
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
03/06/2026
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
03/06/2026
Showing 1 to 10 of 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready