Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá
    • Tỷ giá trung tâm
    • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
    • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất
    • Lãi suất NHNN quy định
    • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá
    • Tỷ giá trung tâm
    • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
    • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất
    • Lãi suất NHNN quy định
    • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Diễn đàn NHNN - Nghiên cứu trao đổi

Già hóa dân số ảnh hưởng đến lạm phát như thế nào?

26/08/2025 09:00:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Tác động của sự thay đổi cơ cấu độ tuổi dân số đến lạm phát vẫn còn là một vấn đề gây tranh luận: Một số nghiên cứu phát hiện hiệu ứng giảm phát do già hóa, trong khi những nghiên cứu khác lại cho thấy tác động gây lạm phát. Nghiên cứu của Dmitri Tereshchenko và Vasili Shcherbakov, dựa trên dữ liệu từ các khu vực của Nga, cho thấy rằng ảnh hưởng của dân số cao tuổi là gây lạm phát.

Dân số già hóa và nhu cầu lao động nước ngoài

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Gia tăng tuổi thọ đồng thời với mức sinh trung bình giảm diễn ra trên toàn thế giới trong 70 năm qua, đã hình thành một xu hướng rõ nét: Dân số toàn cầu đang già đi một cách nhanh chóng. Tại Nga, vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn do tổng dân số quốc gia đang giảm sút.

Những thay đổi về nhân khẩu học tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia cũng như nền kinh tế toàn cầu nói chung, khi chúng định hình nguồn lực lao động, nhu cầu tiêu dùng, cơ cấu chi tiêu xã hội và triển vọng tăng trưởng dài hạn. Hệ quả của quá trình già hóa dân số có thể thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó, có tác động đến lạm phát (Penikas, 2023). Tuy nhiên, hiện nay, vẫn chưa có sự đồng thuận về việc tác động đó là gây lạm phát hay gây giảm phát (Antonova and Vymyatnina, 2018).

Nghiên cứu gần đây của Tereshchenko và Shcherbakov đã cố gắng đóng góp vào việc lý giải câu hỏi này, thông qua phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu độ tuổi dân số và lạm phát, dựa trên dữ liệu của 79 khu vực tại Nga. Khác với phần lớn các nghiên cứu trước đây vốn sử dụng dữ liệu cấp quốc gia, Tereshchenko và Shcherbakov lựa chọn dữ liệu cấp khu vực (theo các chủ thể của Liên bang Nga). Với những khác biệt rõ rệt về điều kiện, trong đó, có cả yếu tố nhân khẩu học, cách tiếp cận này giúp làm rõ những mối liên hệ tiềm ẩn mà dữ liệu toàn quốc có thể bỏ qua.

Kết luận của nghiên cứu cho thấy: Nhóm dân số cao tuổi có tác động gây lạm phát, trong khi nhóm dân số trẻ có xu hướng làm giảm lạm phát. Riêng với nhóm trong độ tuổi lao động, chưa thể rút ra kết luận rõ ràng. Vậy, liệu những kết luận này có đi ngược lại trực giác hay phù hợp với logic kinh tế?

Sự vắng mặt của một lý thuyết phổ quát

Những thay đổi về nhân khẩu học tác động cả đến phía cung lẫn phía cầu của nền kinh tế. Về mặt lý thuyết, tại bất kỳ thời điểm nào, chỉ có nhóm dân số trong độ tuổi lao động mới có thể đáp ứng được nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ dân số, thông qua việc sản xuất ra chúng. Hai nhóm tuổi còn lại (những người trẻ và người già) là những người tiêu dùng thuần túy (Goodhart and Pradhan, 2017).

Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, điều này đã đủ để chỉ ra rằng các nhóm dân số trẻ và cao tuổi có xu hướng tạo ra tác động gây lạm phát một cách ổn định. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, tỷ trọng của nhóm trẻ và già trong dân số càng lớn thì áp lực lạm phát càng tăng, bởi vì cầu được hình thành bởi tất cả các nhóm tuổi, còn cung chủ yếu do nhóm trong độ tuổi lao động tạo ra. Khi tỷ trọng của nhóm này giảm, cung sẽ bị suy giảm tương đối so với cầu.

Một số nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra mối quan hệ hình chữ U như vậy. Chẳng hạn, một nghiên cứu trong giai đoạn dài (từ năm 1870 đến 2016), với mẫu gồm 22 quốc gia phát triển, cho thấy rằng áp lực lạm phát giảm khi tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động tăng (Juselius and Takáts, 2018).

Cách tiếp cận này được bổ sung bởi lý thuyết vòng đời tiêu dùng và tiết kiệm, theo đó, con người có xu hướng tiết kiệm trong giai đoạn đang lao động, và chi tiêu nhiều hơn sau khi nghỉ hưu. Ngoài ra, ở các nước phát triển, mức độ tiêu dùng của người cao tuổi thường cao hơn, do đó, già hóa dân số, tức gia tăng tỷ trọng người cao tuổi, có hiệu ứng gây lạm phát.

Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm ở các nước đang phát triển, bao gồm cả các quốc gia hậu Xô viết, lại chỉ ra kết quả ngược lại: Dân số trong độ tuổi lao động lại tạo ra áp lực lạm phát, còn dân số cao tuổi lại có tác động giảm phát (Antonova and Vymyatnina, 2018).

Điều này có thể lý giải bằng việc mức tiết kiệm và lương hưu ở các quốc gia này còn thấp, cùng với hệ giá trị truyền thống và tập trung vào sinh tồn của người cao tuổi. Khác với các nước phát triển, tại các nước đang phát triển, người già thường nằm ở nhóm thu nhập thấp. Họ ít tiêu dùng, không sử dụng nhiều tài sản tích lũy và phần lớn dịch vụ được nhận từ người thân trong gia đình - điều này tạo ra hiệu ứng giảm phát. Thêm vào đó, sự gắn bó trong cấu trúc gia đình truyền thống, khi con cháu đã lập gia đình vẫn sống chung với cha mẹ và được hỗ trợ trong việc nuôi dạy con cái, cũng làm giảm nhu cầu tiêu dùng của cả người trẻ (ví dụ: Ít phải chi tiền cho dịch vụ trông trẻ, hoặc mua sắm cho con cái nhờ đồ thừa kế lại từ anh chị). Nói cách khác, lý thuyết vòng đời tiêu dùng và tiết kiệm không còn phát huy tác dụng theo hình thức cổ điển, và quá trình già hóa dân số có thể dẫn tới suy giảm tổng cầu, từ đó, làm chậm lại lạm phát.

Thoạt nhìn, những khác biệt trong kết luận về ảnh hưởng của cơ cấu độ tuổi dân số đến lạm phát có thể được lý giải do sự khác biệt giữa các nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế điều này không hoàn toàn đúng.

Ví dụ, dữ liệu khu vực của Nhật Bản và Mỹ (Lee và cộng sự, 2024) cho thấy mối liên hệ tiêu cực giữa lạm phát và tốc độ già hóa: Ở cả các tỉnh của Nhật và các bang của Mỹ, lạm phát giảm khi dân số già đi. Trong khi đó, một nghiên cứu năm 2021 tại Nga (Shevchenko, 2021) lại phát hiện rằng nhóm dân số cao tuổi có tác động gây lạm phát, nhưng mức độ thấp hơn so với nhóm trong độ tuổi lao động - điều này cũng không phù hợp với lý thuyết vòng đời tiêu dùng và tiết kiệm cổ điển

Nguyên nhân của những mâu thuẫn này có thể bắt nguồn từ nhiều cơ chế tác động trái chiều diễn ra đồng thời, và các hiệu ứng của chúng có thể chồng chéo, làm phức tạp hóa bức tranh tổng thể.

Chẳng hạn, một nghiên cứu tại Nhật Bản đã chỉ ra tính hai mặt trong ảnh hưởng của già hóa dân số tới lạm phát. Một mặt, khi tuổi thọ trung bình tăng, điều này kéo theo hiệu ứng chính trị - do tỷ lệ đi bầu cử của người cao tuổi rất cao, chính phủ có xu hướng tăng thuế từ các nhóm khác để đảm bảo phúc lợi cho người già. Điều này góp phần giảm áp lực lạm phát, do ảnh hưởng đến tiết kiệm thực tế của người cao tuổi. Mặt khác, nếu quá trình già hóa chủ yếu đến từ tỷ lệ sinh thấp (tức là, tăng tỷ lệ người già), thì lại tạo ra áp lực gia tăng chi tiêu ngân sách, nhất là cho an sinh xã hội, trong khi cơ sở thuế lại thu hẹp - điều này có thể đẩy lạm phát lên cao.

Trong bối cảnh đó, kết luận từ nghiên cứu của Tereshchenko và Shcherbakov rằng nhóm dân số trong độ tuổi lao động không có tác động đáng kể đến lạm phát ở Nga là hợp lý. Bởi tỷ lệ nhóm này tăng lên có thể chỉ đơn giản là do tỷ lệ hai nhóm còn lại (gây hiệu ứng trái ngược nhau) giảm đi, dẫn đến tổng thể bị triệt tiêu.

Một câu hỏi quan trọng là: Vì sao có sự khác biệt về tác động giữa các nhóm tuổi đối với lạm phát? Có thể, tác động gây lạm phát của người cao tuổi và tác động giảm phát của người trẻ liên quan đến kỳ vọng lạm phát khác nhau giữa các nhóm này. Ngoài ra, đặc điểm xã hội - nhân khẩu học cũng được coi là một yếu tố quan trọng dẫn đến sự khác biệt về kỳ vọng lạm phát. Ở Nga, người trẻ thường có kỳ vọng lạm phát thấp nhất. Họ không trải qua giai đoạn lạm phát cao trong thập niên 1990 hay các khủng hoảng đầu thập niên 2000 - điều này giúp họ lạc quan hơn và không đánh giá cao quá mức lạm phát hiện tại và tương lai. Ngược lại, người cao tuổi vẫn còn nhớ rõ các giai đoạn đó, dẫn đến kỳ vọng lạm phát cao hơn.

Cuối cùng, trong bối cảnh văn hóa - xã hội đặc thù, cũng cần chú ý đến cấu trúc gia đình truyền thống. Ở Nga, người cao tuổi thường trực tiếp, thậm chí là tài chính, hỗ trợ con cháu (cả con, cháu và chắt), và việc nhiều thế hệ sống chung là điều phổ biến. Điều này khiến cho các hiệu ứng lạm phát bị trộn lẫn: Chẳng hạn, người cao tuổi có thể tiêu dùng thay cho người trẻ, làm khó xác định người tiêu dùng cuối cùng. Ngoài ra, việc chuyển nhượng tài sản như nhà, đất, hoặc các khoản tiết kiệm từ thế hệ cũ sang thế hệ trẻ cũng có thể làm giảm nhu cầu tiêu dùng của người trẻ trong dài hạn. Tuy nhiên, tất cả những điều này hiện vẫn chỉ là giả thuyết cần được nghiên cứu sâu hơn.

Ý kiến phản biện và các yếu tố gây nhiễu

Một số chuyên gia không đồng tình với kết quả trên. Vasily Kutin, Trưởng phòng Phân tích (JSC Bank Ingo) cho rằng thế hệ lớn tuổi chủ yếu có hồ sơ tiêu dùng mang tính tiết kiệm, không đặc trưng bởi mua sắm bốc đồng hay tiêu dùng phô trương.

Theo chuyên gia, giả thuyết cho rằng các thế hệ lớn tuổi có hành vi mang tính thúc đẩy lạm phát bị bác bỏ bởi ví dụ từ Nhật Bản - quốc gia nổi tiếng với dân số già và từng trải qua giai đoạn giảm phát kéo dài, tức không chỉ là tăng trưởng giá chậm lại, mà còn là sự sụt giảm giá cả.

Đồng thời, như ông Kutin lưu ý, thế hệ trẻ (do bị hạn chế chi tiêu bởi tuổi tác và kinh nghiệm làm việc ít ỏi) thường có thu nhập không cao, tuy nhiên, hầu như họ chi tiêu toàn bộ số tiền của mình mà không thực hiện tích lũy.

Thị trường tiêu dùng Nga chịu tác động mạnh mẽ hơn nhiều từ các yếu tố gây lạm phát khác, theo nhận định của một số chuyên gia được khảo sát. “Kỳ vọng lạm phát của người dân, cũng như mức lạm phát mà họ quan sát được, vẫn ở mức khá cao. Điều này không liên quan đến nhóm tuổi hay thói quen tiêu dùng, mà trước hết, xuất phát từ sự bất ổn của tỷ giá nội tệ”, bà Lyudmila Rokotyanskaya, chuyên gia của BCS Financial Group cho biết.

“Vào cuối năm ngoái, tỷ giá USD trong một thời điểm đã tăng vọt hơn 25%. Và mặc dù hiện nay, Ruble đã được củng cố đáng kể, còn lạm phát hàng phi thực phẩm đã có xu hướng giảm, nhưng trong tâm trí người dân, vẫn in đậm sự kiện tiêu cực đó”, bà nói rõ thêm. “Cũng cần lưu ý rằng, lạm phát trong lĩnh vực hàng hóa thực phẩm - những mặt hàng mà người dân dù thế nào cũng phải mua - lại có xu hướng “bướng bỉnh” hơn. Giá của một số nhóm sản phẩm cho đến nay vẫn thỉnh thoảng nhảy vọt, bất chấp chính sách tiền tệ siêu thắt chặt”, Rokotyanskaya bổ sung.

Theo bà Olga Lebedinskaya, Phó giáo sư Đại học Kinh tế Nga mang tên G.V. Plekhanov, thông thường, nguyên nhân dẫn đến hành vi mang tính chất thúc đẩy lạm phát là nhu cầu hàng hóa và dịch vụ gia tăng trong khi nguồn cung không đáp ứng đủ - chẳng hạn do mất mùa, hạn chế nhập khẩu từ nước ngoài hay hành động của các nhà độc quyền.

Các nghiên cứu quốc tế và trường hợp Nga cho thấy tác động của già hóa dân số đến lạm phát là không đồng nhất, phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế, hành vi tiêu dùng của từng nhóm tuổi, cơ chế hỗ trợ liên thế hệ và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác. Trong khi bằng chứng ở các nước phát triển thường chỉ ra xu hướng giảm phát do già hóa, kết quả tại Nga lại cho thấy tác động gây lạm phát của nhóm dân số cao tuổi. Tuy nhiên, kết luận này vẫn cần được kiểm chứng thêm qua nghiên cứu sâu hơn, đồng thời, tách bạch tác động thuần túy của nhân khẩu học khỏi các yếu tố gây nhiễu như biến động tỷ giá, chính sách tiền tệ, và cú sốc cung - cầu.

Tài liệu tham khảo

1. Antonova, D., & Vymyatnina, Y. (2018). Inflation and population age structure: The case of emerging economies. Russian Journal of Money and Finance, 77(4), 3-25. https://doi.org/10.31477/rjmf.201804.03
2. Goodhart, C., & Pradhan, M. (2017). Demographics will reverse three multi-decade global trends. BIS Working Papers, 656. Bank for International Settlements. https://www.bis.org/publ/work656.pdf
3. Juselius, M., & Takáts, E. (2018). The enduring link between demography and inflation. BIS Working Papers, 722. Bank for International Settlements. https://www.bis.org/publ/work722.pdf
4. Lee, J., Lee, J., & Miyamoto, H. (2024). Aging and inflation - Regional evidence from Japan and the US. Economics Letters, 235, 111569. https://doi.org/10.1016/j.econlet.2024.111569

Nhật Trung

 

 

 

  • aA
  • Categories:
  • Diễn đàn NHNN - Nghiên cứu trao đổi
OTHER NEWS
Fed cân nhắc hạ lãi suất từ tháng 9/2025: Bước đi thận trọng hướng tới trung lập
5/8/27
Blockchain trước ngã rẽ với GDPR: Quyền riêng tư và tính bất biến dữ liệu
5/8/27
Kinh tế Mỹ tăng trưởng vượt dự báo trong quý II/2025
5/8/27
Các ngân hàng Canada vượt qua kịch bản xấu nhất về thuế quan trong mùa công bố lợi nhuận
3/8/27
Nhật Bản trước thách thức suy giảm dân số: BoJ đối diện bài toán lao động, lương và chính sách tiền tệ
3/8/27
Áp lực lạm phát tại Anh gia tăng, kỳ vọng cắt giảm lãi suất dần hạ nhiệt
3/8/27
Tác động chính trị đối với việc phát hành Tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương
3/8/27
ECB: Thị trường lao động châu Âu bền bỉ nhưng tiềm ẩn rủi ro và hàm ý chính sách
2/8/27
Thông điệp của Chủ tịch Fed Jerome Powell tại Jackson Hole 2025: Kiên định mục tiêu nhưng linh hoạt trong điều hành
2/8/27
Ngân hàng Indonesia đã quyết định hạ lãi suất chính sách thêm 25 điểm cơ bản
2/8/27
Showing 1 to 10 of 85
  • 1
  • 2
  • 3
  • 9
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Open Market Operations
  • Auctions for State Treasury bills
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Dấu ấn ngành Ngân hàng trong Triển lãm thành tựu đất nước 80 năm hành trình Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Dấu ấn ngành Ngân hàng trong Triển lãm thành tựu đất nước 80 năm hành trình Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Digital Bankingtimes

logo-tinhvan
logo-tinhvan
logo-tinhvan
logo-tinhvan
Cổng thông tin điện tử NHNN
Thời báo Ngân Hàng
Tạp chí Ngân hàng

Digital Bankingtimes

Digital Banking Times Logos