Tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị.
Câu hỏi:
Báo cáo của Chính phủ về kinh tế - xã hội trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 5 có đánh giá về ngành ngân hàng: Mặt bằng lãi suất cho vay còn cao, tăng trưởng tín dụng vẫn còn ở mức thấp, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn còn khó khăn; quản lý thị trường vàng còn nhiều bất cập, chưa huy động được nguồn lực vàng cho phát triển kinh tế, giá vàng trong nước còn cao hơn giá vàng thế giới…
Trách nhiệm của Thống đốc trước những thiếu sót, bất cập trên?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Lê Như Tiến như sau:
1. Về vấn đề lãi suất, tăng trưởng tín dụng và tiếp cận vốn ngân hàng của doanh nghiệp:
Trên cơ sở mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ, từ cuối năm 2011 đến nay, Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát thấp hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô trong đó, điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước phù hợp với diễn biến lạm phát, các cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường tiền tệ, ngoại hối và tỷ giá.
Thực tế, từ tháng 3/2012 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã 8 lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, trần lãi suất huy động VND và trần lãi suất cho vay đối với 05 lĩnh vực ưu tiên, kêu gọi các tổ chức tín dụng xem xét điều chỉnh giảm lãi suất của các khoản cho vay cũ về mức lãi suất cho vay hiện hành để chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp. Đến nay, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay giảm khoảng 8-13%/năm so với cuối năm 2011. Lãi suất của các khoản cho vay mới đã giảm mạnh, đối với các lĩnh vực ưu tiên hiện ở mức 8-10%/năm, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ở mức 9-12%/năm, trong đó, đối với khách hàng tốt chỉ từ 7-8%/năm; mặt bằng lãi suất cho vay hiện nay đã trở về mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006 và thấp hơn năm 2007. Lãi suất của các khoản vay cũ cũng đã giảm mạnh, tỷ trọng dư nợ cho vay với lãi suất trên 15%/năm giảm mạnh từ mức khoảng 65% vào thời điểm trước ngày 15/7/2012 xuống còn 20,6% vào cuối năm 2012 và đến nửa cuối tháng 5/2013 chỉ còn khoảng 12,2%.
Trong thời gian tới, căn cứ vào diễn biến kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí vay vốn và tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.
Bên cạnh việc điều hành giảm mạnh mặt bằng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước đã và đang chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, như: (1) Chủ động rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn trong việc trả nợ vốn vay; (2) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt; (3) Xem xét miễn, giảm lãi phải trả đối với khách hàng bị tổn thất về tài sản dẫn đến khó khăn về tài chính theo quy định pháp luật và trên cơ sở khả năng tài chính, quy chế miễn, giảm lãi của tổ chức tín dụng; (4) Đổi mới quy trình, thủ tục cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn, nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay và không trái với quy định của pháp luật, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay; (5) Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh… (6) Tích cực chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng nhiều lao động).
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tổ chức nhiều đoàn công tác làm việc với Lãnh đạo Tỉnh, thành phố, đoàn Đại biểu Quốc hội và các cơ quan liên quan ở các tỉnh, thành phố nhằm đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là khả năng tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản phẩm tồn kho của các lĩnh vực (như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng) để xử lý khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận vốn cho doanh nghiệp.
Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp về tín dụng, đến ngày 22/5/2013, tín dụng tăng khoảng 2,29%, cải thiện hơn nhiều so với mức tăng 0,56% của 5 tháng đầu năm 2012 và đã tăng trở lại theo các tháng. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn ở mức thấp so với định hướng điều hành cả năm 2013. Tại phiên họp tháng 5/2013, Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đã đánh giá lãi suất không còn là nguyên nhân cản trở tăng trưởng tín dụng như trước đây mà nguyên nhân chủ yếu là do: Thứ nhất, sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn thấp, tổng cầu còn yếu, do các doanh nghiệp không có đầu ra, hàng tồn kho chưa tiêu thụ được nên dù lãi suất giảm, nhu cầu vay vốn cũng không cao; Thứ hai, khả năng tiếp cận vốn hạn chế, doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn nhưng không đáp ứng đủ các điều kiện vay vốn do tình hình tài chính yếu kém, tính khả thi của dự án không đảm bảo, tính rủi ro cao, báo cáo tài chính của doanh nghiệp không rõ ràng, minh bạch, hầu hết tài sản đã được thế chấp để bảo đảm cho các nghĩa vụ của các khoản vay cũ và đến nay chưa trả được nợ, doanh nghiệp không còn tài sản để bảo đảm cho các khoản vay mới, nhiều doanh nghiệp không trả được nợ do nguyên nhân từ nợ đọng ngân sách... Các cơ chế về bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn ngân hàng đã có nhưng chưa triển khai được nhiều trong thực tế; Thứ ba, các tổ chức tín dụng thận trọng hơn trong việc ra quyết định cho vay, không hạ chuẩn tín dụng để tránh làm gia tăng nợ xấu.
Trong thời gian tới để khơi thông dòng vốn và mở rộng tín dụng hiệu quả, cần phải có sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương để thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tại Nghị quyết 01/NQ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và giải quyết nợ xấu; trong đó, về phía ngành ngân hàng sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
2. Về quản lý thị trường vàng:
Ngày 29/5/2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ ký báo cáo số 208/BC-CP về công tác quản lý nhà nước đối với thị trường vàng, trong đó đã giải trình cụ thể các vấn đề liên quan đến công tác quản lý thị trường vàng như khắc phục bất cập trong quản lý nhà nước đối với thị trường vàng, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới... (xin gửi kèm báo cáo số 208/BC-CP).
Về huy động nguồn lực vàng cho phát triển kinh tế, Ngân hàng Nhà nước xin giải trình thêm như sau:
Từ năm 2000, thực hiện chủ trương khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong dân để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN cho phép các tổ chức tín dụng được huy động, cho vay vốn bằng vàng và chuyển đổi 30% nguồn vốn huy động bằng vàng sang VND. Chính sách này đã phát huy tác dụng trong giai đoạn giá vàng thế giới và trong nước ổn định.
Tuy nhiên, kể từ năm 2008 đến nay khi thị trường vàng thế giới và trong nước biến động tăng mạnh, việc cho phép huy động, cho vay vàng và chuyển đổi vàng thành tiền gián tiếp dẫn tới tình trạng ”vàng hóa” trong nền kinh tế, làm gia tăng tình trạng đầu cơ vàng, nắm giữ vàng trong nền kinh tế và rủi ro lớn cho chính tổ chức tín dụng và người vay vàng. Khắc phục bất cập của việc cho phép các tổ chức tín dụng huy động, cho vay và chuyển đổi vàng thành tiền trước đây, hạn chế rủi ro cho các tổ chức tín dụng, người dân; thực hiện chủ trương xóa bỏ tình trạng ”vàng hóa” trong nền kinh tế; chuyển quan hệ “huy động, cho vay vốn bằng vàng” sang quan hệ “mua, bán vàng”, trong năm 2011 và 2012, Ngân hàng Nhà nước đã kiên quyết chỉ đạo chấm dứt hoạt động này, đồng thời đã triển khai các giải pháp đồng bộ như xây dựng lộ trình chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các tổ chức tín dụng, giám sát chặt chẽ, xử lý các vấn đề phát sinh nhằm đẩy nhanh quá trình chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng.
Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã xem xét tính toán cụ thể khả năng Ngân hàng Nhà nước tổ chức huy động vàng của dân cư sau khi các tổ chức tín dụng chấm dứt việc huy động vàng. Các tính toán cho thấy việc Ngân hàng Nhà nước đứng ra huy động vàng từ dân cư có một số điểm bất lợi: chi phí Ngân hàng Nhà nước phải bỏ ra để huy động vàng là khá lớn, số vàng huy động được nếu đi đầu tư ở nước ngoài trong thời điểm hiện nay thì Ngân hàng Nhà nước dự kiến sẽ phải chịu lỗ do mất phí chuyển đổi thành vàng tiêu chuẩn quốc tế và tỷ suất sinh lời rất thấp, ngoài ra Ngân hàng Nhà nước còn phải chịu rủi ro về thanh khoản vàng như các tổ chức tín dụng khi người dân đến rút vàng. Ngoài ra, qua tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế cũng không có Ngân hàng Trung ương nào đứng ra huy động vàng từ dân cư trong giai đoạn hiện nay do những rủi ro về giá vàng và vấn đề thanh khoản vàng.
Với việc chấm dứt hoạt động huy động vàng của các tổ chức tín dụng, cách hiệu quả nhất để chuyển hóa nguồn lực vàng trong dân để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước là Ngân hàng Nhà nước mua vàng tăng Dự trữ ngoại hối Nhà nước. Để thực hiện được mục tiêu này cần phải có một số điều kiện như: tiếp tục duy trì, củng cố giá trị đồng Việt Nam, chấm dứt hoàn toàn hoạt động huy động vàng và áp dụng các biện pháp kinh tế để khuyến khích người dân bán vàng.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.