Trong báo cáo cập nhật mới nhất về ổn định tài chính, các chuyên gia Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định, hệ thống tài chính toàn cầu tiếp tục được củng cố, nỗ lực tăng vốn và thanh khoản đã góp phần cải thiện bảng cân đối tài sản. Tuy nhiên, một số ngân hàng chiến lược toàn cầu (GSIB) vẫn gặp khó khăn trong việc xử lý những vấn đề tồn đọng và chuyển đổi mô hình kinh doanh.
Báo cáo nêu rõ, rủi ro bất ổn tài chính trong giai đoạn ngắn hạn đang giảm dần theo đà phục hồi kinh tế toàn cầu, nhưng rủi ro trong giai đoạn trung hạn có nguy cơ gia tăng khi các ngân hàng tăng cường các biện pháp tăng thu lợi nhuận, đẩy rủi ro sang các thị trường tài chính trong bối cảnh nợ nần của khu vực tư nhân tăng cao. Trên toàn cầu, bảng cân đối tài sản của các GSIB và công ty bảo hiểm được củng cố một bước, nhưng vẫn vấp phải những vấn đề còn tồn đọng, việc định hướng lại chiến lược kinh doanh chưa hoàn tất. Thách thức chủ yếu là việc tái cân bằng bảng cân đối tài sản của ngân hàng trung ương và khu vực tư nhân trong bối cảnh chu kỳ chính sách tiền tệ không đồng bộ giữa các quốc gia. Việc điều chỉnh chính sách tiền tệ quá nhanh có thể gây ra những chao đảo không mong đợi trên các thị trường tài chính và cản trở lạm phát mục tiêu, nhưng việc duy trì lãi suất thấp quá lâu sẽ làm tăng rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng trong giai đoạn trung hạn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng đang gia tăng, do những biến dạng về đòn bẩy tín dụng trong khu vực phi tài chính tại nhiều nước G20. Mặc dù lãi suất thấp, tỷ trọng dịch vụ nợ của khu vực tư nhân đang tăng nhanh do nợ nần tăng cao. Hậu quả là, khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình yếu ớt tại một số nước dễ bị tác động bởi điều kiện kinh tế và tài chính hiện nay.
Tại nhiều nước, các GSIB vẫn là những trung gian tài chính trụ cột, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân. Trong năm 2016, 30 ngân hàng chiến lược toàn cầu có tổng tài sản trên 47.000 tỷ USD, chiếm trên 1/3 tổng tài sản và tín dụng trên toàn cầu; chiếm 70% thị trường tín dụng quốc tế, dịch vụ thị trường, và hạ tầng tài chính quốc tế. Nếu tính theo giá trị tài sản, khoảng một nửa số GSIB là ngân hàng đa năng, cung cấp những loại hình dịch vụ hỗn hợp, phần lớn hoạt động đa châu lục. Tuy nhiên, gần 1/3 số GSIB chỉ tập trung hoạt động vào thị trường nội địa, nhất là tại Mỹ và Trung Quốc.
Trong thập kỷ qua, tình hình tài chính của các GSIB cải thiện đáng kể nhờ áp dụng các biện pháp nâng cao tiêu chí thận trọng. Bảng cân đối tài sản được củng cố đáng kể, với mức vốn tăng thêm khoảng 1.000 tỷ USD tính từ năm 2009 đến cuối năm 2016, trong khi cắt giảm danh mục tài sản. Tỷ lệ vốn liên tục tăng cao, tính thanh khoản được cải thiện rõ rệt, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn vốn vay tạm thời từ NHTW và trên thị trường liên ngân hàng.
Cùng với nỗ lực tăng vốn và thanh khoản, các GSIB cũng có tiến triển đáng kể trong việc xử lý những thách thức bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính 2008-2009 và suy thoái sau đó. Đặc biệt là, đã khắc phục được hàng loạt vấn đề còn tồn đọng và ngày càng tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, các GSIB vẫn đối mặt với nhiều thách thức, phần lớn là những khoản thanh toán cho người làm công sau khi kết thúc hợp đồng (do cắt giảm lao động và số lượng chi nhánh) và những chi phí khác. Trong đó, các ngân hàng tại châu Âu và Vương quốc Anh chịu tác động lớn nhất, với tổng chi phí tái cơ cấu trong năm 2016 lên tới 13 tỷ USD, tương đương 25% thu nhập ròng. Nhiều GSIB có mức chi phí tái cơ cấu rất cao, nhất là các GSIB tại châu Âu.
Về chiến lược, các GSIB đã cắt giảm một số chức năng liên quan đến thị trường, đặc biệt là nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Trong môi trường đó, thị phần của các ngân hàng Mỹ đã tăng đáng kể, nhưng chỉ tập trung vào một số ngân hàng. Việc GSIBs cắt giảm mức độ tham gia trên thị trường tài chính sẽ góp phần hạn chế rủi ro, nhưng phần nào sẽ ảnh hưởng đến thanh khoản thị trường, nhất là trong thời kỳ khó khăn.
Mặc dù đã cắt giảm cường độ tham gia thị trường, các GSIB nhìn chung vẫn đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp tín dụng và dịch vụ tài chính quốc tế, trong khi tỷ trọng tín dụng quốc tế trong giai đoạn 2009-2013 của những ngân hàng còn lại ghi nhận mức sụt giảm khá sâu. Đối với những GSIB ít chịu tác động của khủng hoảng tài chính, vai trò quốc tế vẫn được duy trì hoặc tiếp tục mở rộng, một phần là do các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mang lại lợi nhuận tương đối hấp dẫn. Kết quả khảo sát tại 724 chi nhánh ngân hàng cho thấy, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có lợi nhuận cao hơn so với hoạt động kinh doanh nội địa tại Nhật Bản và châu Âu. Tại nhiều GSIB khác, tín dụng quốc tế vẫn là mảng kinh doanh hấp dẫn, mặc dù đã thu hẹp bảng cân đối tài sản và sự hiện diện trên thị trường quốc tế. Trái lại, hoạt động kinh doanh nội địa của các GSIB tại Mỹ có lợi nhuận khá cao, trong khi vẫn duy trì hoặc chỉ giảm nhẹ danh mục tín dụng quốc tế.
Để đối phó với áp lực điều chỉnh quốc gia, các GSIB bắt đầu chuyển dần mô hình tín dụng quốc tế từ cho vay xuyên biên giới trực tiếp sang các chi nhánh ở nước ngoài, nhất là những GSIB phụ thuộc vào các chi nhánh. Từ năm 2009 đến năm 2016, tỷ trọng tín dụng quốc tế thông qua các chi nhánh tăng từ 40% lên 60% tổng dư nợ cho vay quốc tế và có thể tiếp tục tăng dần nhằm đối phó với áp lực điều chỉnh quốc gia, điều này cũng tạo động lực để các GSIB chuyển hoạt động cấp vốn qua biên giới từ các ngân hàng nội địa sang tiền gửi tại địa phương.
Biện pháp điều chỉnh cơ cấu này đã góp phần nâng cao tính bền vững và khả năng quyết đoán của các GSIB với mức kết nối toàn cầu rất cao, góp phần ổn định tình hình tài chính. Các chi nhánh mạnh cũng góp phần giảm nhẹ áp lực lên ngân hàng mẹ và những chi nhánh khác, qua đó sẽ gây tác động tích cực đến tính ổn định tài chính tại nước chủ nhà. Tuy nhiên, những trở ngại điều chỉnh đối với luồng thanh khoản, quản lý rủi ro, và sử dụng nguồn vốn hiệu quả trong khu vực đồng tiền chung euro sẽ làm tăng chi phí và giảm quy mô hoạt động, tăng thêm những thách thức kinh tế và mô hình kinh doanh.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, tiến triển không đồng đều giữa các GSIB trong việc khắc phục những vấn đề tồn đọng, thích ứng mô hình kinh doanh, và cơ cấu tổ chức ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như triển vọng phát triển khác nhau. Trong đó, lợi nhuận kinh doanh của các ngân hàng Mỹ đã đạt hoặc vượt mức lãi cổ phần 8%. Trái lại, lợi nhuận trong năm 2016 của các ngân hàng châu Âu rất thấp, một số ngân hàng còn gặp khó khăn do chậm trễ trong việc xử lý những yếu kém tồn đọng. Về tổng thể, khoảng một nửa số GSIB vẫn có mức lợi nhuận dưới 8%.
Trong bối cảnh như trên, triển vọng lợi nhuận bền vững sẽ thuộc về những ngân hàng năng động, xử lý tốt những vấn đề tồn đọng, cải thiện mô hình kinh doanh cũng như vị thế trên toàn cầu. Tuy nhiên, các chuyên gia dự báo, khoảng 1/3 số GSIB vẫn có mức thu nhập thiếu bền vững vào năm 2019. Tỷ suất lợi nhuận của những ngân hàng này bị ản trở bởi chi phí hoạt động cao, hiệu quả thấp, thị trường trong nước cạnh tranh quyết liệt, hệ thống công nghệ thông tin yếu kém, v.v.
Các chuyên gia IMF cho rằng, việc tiếp tục chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ dẫn đến làn sóng theo đuổi tài sản có mức sinh lời cao. Khi nỗ lực tìm kiếm lợi nhuận dâng cao, thiệt hại sẽ chuyển sang khu vực phi tài chính và làm tăng rủi ro thị trường. Điều này đòi hỏi phải quản lý thận trọng những thách thức nhằm hạn chế rủi ro, các nhà tạo lập chính sách trong nước và quốc tế cần củng cố nền tảng chính sách hỗn hợp về tài chính và kinh tế vĩ mô, cần tập trung tìm kiếm giải pháp hạn chế rủi ro bắt nguồn từ những mô hình kinh doanh yếu kém nhằm đảm bảo nâng dần hiệu quả theo hướng bền vững, góp phần củng cố khu vực tài chính và nâng tầm hoạt động trên phạm vi quốc tế.
Xuân Thanh (Nguồn: IMF tháng 10/2017)