a). Tên Đề tài: Hoàn thiện khung pháp lý về xử lý ngân hàng thương mại có vấn đề - Mã số: ĐTNH.008/16
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: ThS. Đoàn Thái Sơn, Phó Thống đốc NHNN
- Thư ký: ThS. Phùng Ngọc Việt Nga
- Các thành viên tham gia: ThS. tạ Quang Đôn; ThS. Nguyễn Văn Du; ThS. Quách Tường Vy; ThS. Đậu Thị Mai Hương; ThS. Đặng Thu Thủy; ThS. Nguyễn Ngọc Duy; ThS. Đỗ Thị Anh Thư; ThS. Đỗ Thị Hoài Thu.
d) Mục tiêu của nhiệm vụ: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất hoàn thiện khung pháp lý về xử lý ngân hàng thương mại (NHTM) có vấn đề, đảm bảo sự thống nhất, phù hợp với thực tiễn, hạn chế các rủi ro pháp lý có thể phát sinh trong quá trình thực hiện
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 10/2016.
- Thời gian kết thúc: Tháng 05/2018.
e) Kinh phí thực hiện: 240 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Nhằm mục tiêu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất hoàn thiện khung pháp lý về xử lý ngân hàng thương mại (NHTM) có vấn đề, đảm bảo sự thống nhất, phù hợp với thực tiễn, hạn chế các rủi ro pháp lý có thể phát sinh trong quá trình thực hiện, đề tài ĐTNH.008/16 triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
Chương 1 nghiên cứu các vấn đề tổng quan về xử lý các NHTM có vấn đề như khái niệm, các quy định pháp lý về NHTM có vấn đề, dấu hiệu nhận biết, sự cần thiết phải xử lý NHTM có vấn đề, các nguyên tắc và phương án xử lý, các yêu cầu, các cấu phần cần có đối với khung pháp lý về xử lý NHTM có vấn đề. Đề tài cũng thực hiện khảo sát kinh nghiệm xử lý NHTM có vấn đề và kinh nghiệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, vượt qua giai đoạn khủng hoảng tài chính - ngân hàng của một số quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Indonesia, Thailan, Nhật Bản, Liên bang Nga, Hungary... Kinh nghiệm của các nước được khảo sát trên giác độ định nghĩa về NHTM có vấn đề, các quy định pháp lý về xử lý NHTM có vấn đề, lộ trình rà soát/phân loại/xác định NHTM có vấn đề, cách thức xây dựng/triển khai cơ chế xử lý...
Chương 2 của đề tài nghiên cứu về thực trạng khuôn khổ pháp lý và thực trạng hoạt động xử lý các NHTM có vấn đề tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam đã xây dựng và đang nỗ lực hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến xử lý các NHTM có vấn đề. Cụ thể, đã xây dựng được khuôn khổ pháp lý về thanh tra - giám sát ngân hàng, tạo cơ sở pháp lý cho việc phát hiện sớm các NHTM có vấn đề; xây dựng được quy định về hỗ trợ thanh khoản, tạo cơ sở pháp lý trợ giúp kịp thời cho các NHTM vượt qua khó khăn, tránh đổ vỡ; xây dựng cơ sở pháp lý cho việc can thiệp, xử lý các NHTM có vấn đề; xây dựng cơ sở pháp lý cho việc xử lý nợ xấu, sở hữu chéo, tạo cơ sở pháp lý cho tái cấu trúc hệ thống các TCTD...
Tuy nhiên, xét về mặt tổng thể, khung pháp lý về xử lý NHTM có vấn đề vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ. Cụ thể, Luật Thanh tra còn có quy định chưa phù hợp với đặc thù của hoạt động thanh tra; các quy định dưới luật còn thiếu hướng dẫn về phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro, về lộ trình triển khai Basel II; còn thiếu các quy định đối với việc nhận diện TCTD đưa vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, quy định về thẩm quyền của NHNN, một số quy định liên quan đến xử lý nợ xấu, sở hữu chéo ... Các nhân tố này khiến nỗ lực nhận diện, xử lý các NHTM có vấn đề, lành mạnh hóa hệ thống các TCTD vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Tại Chương 3, nhóm nghiên cứu đã phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô và hệ thống TCTD, phân tích định hướng xử lý NHTM có vấn đề. Nhóm nghiên cứu cũng tổng kết kinh nghiệm quốc tế trong quá trình xử lý NHTM có vấn đề, rút ra một số bài học cho Việt Nam như: (i) Chính phù thường đóng vai trò chỉ đạo/trực tiếp tham gia, cung cấp phần lớn tài chính cho quá trình xử lý NHTM có vấn đề; (ii) Hầu hết các nước đều lập quỹ tái cấu trúc NHTM; (iii) Tạo hành lang pháp lý và nguồn lực để thực hiện thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả; (iv) Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng cần có mục tiêu, khung pháp lý rõ ràng, cần sử dụng linh hoạt các công cụ xử lý NHTM có vấn đề... Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đưa ra đề xuất về quy trình xử lý NHTM có vấn đề và đề xuất một số sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về xử lý NHTM có vấn đề.
Cụ thể, đối với cơ sở pháp lý về thanh tra, giám sát ngân hàng, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng thông tư quy định về xếp hạng TCTD, chi nhánh NHNNg; xây dựng thông tư quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với TCTD, chi nhánh NHNNg; xây dựng và hoàn thiện các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn tiệm cận với Basel II; quy định về các điều kiện, tiêu chuẩn cấp phép và tổ chức hoạt động của các TCTD 100% vốn nước ngoài; rà soát, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn luật các TCTD, các văn bản liên quan đến tổ chức, hoạt động thanh tra, các quy định hướng dẫn các TCTD thực hiện lộ trình triển khai Basel II... Đối với quy định về kiểm soát đặc biệt NHTM, nhóm nghiên cứu đề xuất bổ sung thêm một số trường hợp xem xét, đặt TCTD vào diện kiểm soát đặc biệt; sửa đổi các quy định cho phép NHNN cho vay hỗ trợ dài hạn đối với NHTM có vấn đề. Đối với quy định liên quan xử lý NHTM có vấn đề, nhóm nghiên cứu đề xuất quy định rõ về thẩm quyền xử lý; bổ sung quy định về các biện pháp/công cụ xử lý; bổ sung quy định về miễn trừ trách nhiệm đối với người tham gia cơ cấu lại TCTD kiểm soát đặc biệt; bổ sung quy định về đánh giá thực trạng, xây dựng phương án, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án xử lý NHTM được kiểm soát đặc biệt; bổ sung quy định hỗ trợ NHTM có vấn đề. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra đề xuất về hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, về xử lý nợ xấu, quy định về tiêu chuẩn/điều kiện các chức danh người điều hành, quản lý tại các TCTD, hoàn thieenjc ác quy định nhằm xử lý triệt để tình trạng sở hữu chéo...
Theo nhóm nghiên cứu, để việc xử lý các NHTM có vấn đề một cách hiệu quả, giảm thiểu chi phí, hạn chế các tác động bất lợi đến nền kinh tế, Việt Nam cần có các giải pháp đồng bộ, có sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị liên quan. Trong đó, quan trọng nhất là hoàn thiện cơ sở pháp lý về xử lý NHTM có vấn đề để có đầy đủ cơ sở, cơ chế và thẩm quyền để triển khai các biện pháp xử lý từ giai đoạn sớm.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Giỏi./.