a) Tên Đề tài: Nghiên cứu định hướng hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam (VAMC) sau năm 2020 - Mã số: ĐTNH.009/19
b) Tổ chức chủ trì: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
c) Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: TS. Bùi Tín Nghị - Nguyên Giám đốc Học viện Ngân hàng..
- Thư ký: PGS.TS.Phạm Thị Hoàng Anh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng, Học viện Ngân hàng
- Thành viên tham gia:
d) Các chủ đề nghiên cứu chính:
- Cơ sở lý luận về Công ty quản lý tài sản;
- Thực trạng hoạt động của công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam, giai đoạn 2013-2020;
- Xây dựng định hướng hoạt động và phát triển VAMC giai đoạn 2021-2030;
- Giải pháp đối với định hướng hoạt động và phát triển VAMC, giai đoạn 2021-2030.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 12/2019.
- Thời gian kết thúc: Tháng 06/2021
e) Kinh phí thực hiện: 260 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện: Giỏi
h) Mô tả tóm tắt:
Nhằm mục tiêu đánh giá hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng (VAMC) tại Việt Nam giai đoạn 2013-2019 để đề xuất định hướng hoạt động và phát triển VAMC sau năm 2020, đặc biệt giai đoạn 2021-2030, đồng thời đề xuất các điều kiện và giải pháp nhằm triển khai định hướng hoạt động và phát triển của VAMC sau năm 2020, đề tài ĐTNH.009/19 đã triển khai nghiên cứu các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 nghiên cứu cơ sở lý luận về công ty quản lý tài sản, gồm khái quát về tài sản của các tổ chức tín dụng, về công ty quản lý tài sản, định giá tài sản tại công ty quản lý tài sản. Chương 1 cũng nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của 02 công ty quản lý tài sản của Thái Lan, Hàn Quốc tại các vấn đề: Bối cảnh ra đời và quá trình phát triển; sứ mệnh và các hoạt động chính; kết quả hoạt động của công ty quản lý tài sản. Qua đó, nhóm nghiên cứu rút ra một số bài học kinh nghiệm như: Các công ty quản lý tài sản cần có sự độc lập và tự do khỏi sự can thiệp chính trị; Cần xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý, các chính sách đặc thù để cho phép VAMC có thể xử lý, giải quyết nhanh hơn; Cần đa dạng hóa, áp dụng linh hoạt các hình thức xử lý nợ xấu; VAMC cần chủ động hơn trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các chương trình liên kết, hợp tác với các tổ chức tài chính thế giới.
Chương 2 đánh giá thực trạng hoạt động của công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam giai đoạn 2013-2019; tổng quan khung pháp lý về xử lý, mua bán nợ xấu tại Việt Nam; thực trạng hoạt động của VAMC, qua đó đánh giá hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC giai đoạn 2013-2019.
Kết quả nghiên cứu tại chương 2 cho thấy mô hình xử lý nợ qua VAMC đã đạt được các kết quả sau:
- VAMC đã thể hiện được vai trò, sứ mệnh của mình trong xử lý nợ xấu, góp phần đưa nợ xấu toàn hệ thống TCTD về dưới 3%;
- Xử lý nợ xấu qua VAMC là công cụ giúp NHNN xác định và minh bạch nợ xấu;
- Xử lý nợ xấu qua VAMC trong giai đoạn 2013-2019 là phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị Việt Nam, đã lan tỏa được kết quả xử lý nợ xấu;
- TCTD đã giảm được áp lực tài chính, có thêm nguồn vốn tăng trưởng hoạt động tín dụng, thêm quyền năng trong xử lý nợ thông qua bán nợ cho VAMC;
- Khách hàng có nợ xấu có cơ hội một lần nữa được VAMC đánh giá lại tình hình hoạt động kinh doanh, xem xét lại trong việc cơ cấu nợ.
Về hạn chế, VAMC chưa triển khai đủ 10 nhiệm vụ được giao theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP; Kết quả mua nợ theo GTTT của VAMC thấp, chưa thể hiện vai trò dẫn dắt; VAMC chưa phát huy được vai trò trong huy động các nguồn vốn khác để thực hiện mua nợ thị trường; Kết quả xử lý thu hồi nợ bằng TPĐB của VAMC chưa thể hiện đúng hiệu quả xử lý nợ; VAMC chưa thể hiện được hiệu quả trong cơ cấu lại nợ và hỗ trợ khách hàng vay. Đề tài cũng phân tích nguyên nhân của hạn chế từ góc độ chủ quan; nguyên nhân khách quan từ phía khung pháp lý; từ phía TCTD, đặc thù của khoản nợ và TSBĐ của khoản nợ; nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng.
Chương 3 nghiên cứu Chiến lược phát triển thị trường tài chính, Chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng giai đoạn 2021-2030, Chiến lược phát triển của VAMC đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và dự báo về tình hình nợ xấu của các TCTD Việt Nam để đề xuất định hướng hoạt động và phát triển VAMC giai đoạn 2021-2030. Cụ thể, về mô hình hoạt động, cơ cấu tổ chức, nghiên cứu cho rằng, tại thời điểm mới thành lập năm 2013 mô hình Công ty TNHH MTV thuộc sở hữu 100% vốn nhà nước là tối ưu, nhằm xử lý nhanh dứt điểm nợ xấu thời điểm đó. Tuy nhiên, sau hơn 7 năm đi vào hoạt động, VAMC cần thay đổi hình thức sở hữu để có thêm nguồn vốn cho hoạt động xử lý nợ. Nghiên cứu cũng đề xuất về mở rộng đối tượng mua bán nợ cho VAMC; về gia tăng nguồn vốn từ 20.000 đến 50.000 tỷ và đề xuất định hướng về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xử lý nợ xấu.
Chương 4 của đề tài đưa ra giải pháp đối với định hướng hoạt động và phát triển VAMC giai đoạn 2021-2030. Cụ thể, về mô hình tổ chức tổng thể, nghiên cứu cho rằng mô hình công ty cổ phần với 51% vốn nhà nước sẽ là mô hình phù hợp cho VAMC trong giai đoạn 2021-2030. Vì vậy, NHNN có thể nghiên cứu cho phép cổ phẩn hóa VAMC. Về cơ cấu tổ chức nội bộ, đề tài khuyến nghị VAMC nghiên cứu, sắp xếp lại các Ban nghiệp vụ và thành lập các Ban nghiệp vụ mới phù hợp với chức năng, nhiệm vụ mới, thành lập mới Sàn Giao dịch nợ, thành lập mới Trung tâm Chứng khoán hóa khoản nợ xấu. Đối với giải pháp về tài chính, nhóm nghiên cứu đề xuất về việc tăng vốn điều lệ, trong đó vốn nhà nước chiếm tối thiểu 51%; Thực hiện phát hành trái phiếu để mua nợ xấu theo GTTT; Nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn khác.